VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HÙNG DŨNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành
: Đạo đức học
Mã số
: 62 22 03 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hồ Việt Hạnh
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Văn Tài
Phản biện 2: GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Học viện
Họp tại Học viện Khoa học xã hội
Vào lúc ………….. giờ, ngày …………. tháng …… năm 2017
phụ thuộc vào chất lượng chuyên môn nghiệp vụ. Trên thực tế, nguồn
lực sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều hạn chế, bất cập:
“Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc
tế”. Vì vậy, việc nghiên cứu những yếu tố tác động đến đạo đức, giáo
dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam nói chung cũng như sinh viên
Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng những thế hệ sinh viên có
nhân cách và đạo đức góp phần phát triển nguồn nhân lực sinh viên
đông về số lượng và tốt về chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới đất
nước, hội nhập quốc tế hiện nay đang là vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cấp bách. Đó là lý do chúng tôi chọn “Giáo dục đạo đức
cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Triết học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích một số khái niệm công cụ của luận án: đạo đức, giáo
dục đạo đức, tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, nội dung
giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay. Phân tích và làm rõ thực
trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Thành phố Hồ
Chí Minh, từ đó luận án đề xuất phương hướng và một số giải pháp
cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các
trường đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của luận án:
đạo đức, giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Làm rõ tầm quan trọng, nội dung giáo dục đạo đức cho sinh
viên Việt Nam nói chung, sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh nói
Luận án góp phần làm rõ khái niệm đạo đức, giáo dục đạo đức,
tầm quan trọng và nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam
hiện nay.
Phân tích, đánh giá thực trạng đạo đức và công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và chỉ ra
nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường đại học, cao
đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và đưa ra một số
giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các
trường đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên
cứu, giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức,
đoàn thể, cá nhân trực tiếp làm công tác giáo dục sinh viên và hoạt
động phong trào của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án gồm có 4 chương, 10 tiết.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẠO
ĐỨC, GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
1.1.1. Những công trình bàn về đạo đức
Cùng với sự phát triển không ngừng của lịch sử xã hội, lịch sử
loài người, đạo đức học cũng trải qua một quá trình lịch sử hình
thành và phát triển hết sức phong phú. Với tư cách là một bộ phận
xem tài năng là quan trọng đối với người cán bộ cách mạng và con
người mới nói chung”.
Quyển sách “Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện
nay” do nhóm tác giả của Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân
sự biên soạn. Trên cơ sở khái quát các vấn đề lý luận về đạo đức, tập
thể tác giả cho rằng đạo đức cần được nhận thức là: “Một hiện tượng
xã hội, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, bao gồm hệ thống các quan
điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội… để điều chỉnh
hành vi ứng xử của con người (giữa người và người, giữa cá nhân và
cộng đồng, giữa con người và tự nhiên…) được thực hiện do sức
mạnh của phong tục, tập quán, dư luận xã hội và lương tâm của mỗi
con người cho phù hợp với lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người
và tiến bộ xã hội”.
1.1.2. Những công trình bàn về giáo dục đạo đức
Tác giả Trần Hậu Kiêm, Đoàn Đức Hiếu với công trình “Hệ
thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên”. Qua
nghiên cứu các phạm trù cơ bản của đạo đức, tập thể tác giả cho rằng
vấn đề GDĐĐ thì đối tượng chủ yếu phải là thanh, thiếu niên, đặc
biệt là SV. Bởi vì, SV là lớp người đang phát triển về mọi mặt, là
người chủ tương lai, là lực lượng thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước.
Cuốn sách “Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi dưỡng thanh, thiếu
niên và nhi đồng” của Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng.
Đây là công trình sưu tầm, biên soạn công phu, có hệ thống những
bài nói, bài viết, lời dạy bảo ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh với
Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng.
Quyển sách “Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên” của tác giả Hoàng Anh. Tác giả cho rằng: “GDĐĐ
báo cáo tại các Hội thảo khoa học.
Quyển sách “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục
đạo đức cho sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Phạm
Tấn Xuân Tước, Huỳnh Thị Gấm. Trong công trình này, tác giả đã
làm rõ quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống, về vai trò
của thanh niên và tầm quan trọng của công tác GDĐĐ, lối sống cho
thanh niên.
Bài viết “Giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện
nay” của tác giả Phan Văn Bình. Trong xu thế giao lưu và hội nhập
quốc tế đã làm thay đổi những giá trị văn hoá truyền thống của dân
tộc, trong đó có đạo đức. Vì vậy, việc GDĐĐ là hết sức cần thiết và
GDĐĐ nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống,
loại bỏ những quan điểm đạo đức không còn phù hợp, định hướng giá
trị đạo đức đúng đắn, phù hợp với sự tiến bộ và phát triển của xã hội.
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh với bài viết “Vai trò của
trường đại học trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay”.
Trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay, GDĐĐ cho SV sẽ
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện nguồn nhân lực.
GDĐĐ cho SV là trách nhiệm của mỗi cá nhân và tổ chức xã hội,
trong đó tác giả cho rằng: “Các trường đại học phải có trách nhiệm tổ
chức định hướng”.
Bàn về GDĐĐ và lối sống cho SV, tác giả Huỳnh Công Ba với
bài viết: “Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho sinh
viên trường đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập
và phát triển”. Ý thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho thế hệ trẻ, nhiều năm qua
trường đại học Sư phạm TP.HCM luôn chú trọng đến công tác này
nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên chất lượng. Trong điều kiện hiện nay,
cạnh những ưu điểm, tiến bộ tác giả cũng chỉ ra mặt hạn chế trong
đạo đức, lối sống của SV Thành phố hiện nay.
Tác giả Nguyễn Văn Tuyên và Nguyễn Thị Tĩnh bài viết
“Giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay theo 23 điều tư cách trong
tác phẩm Đường kách mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong xu
thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, một bộ phận SV do
không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu đã có những biểu hiện
tiêu cực đáng lo ngại như: lười học tập, nghiện ngập, vi phạm pháp
luật, sống buông thả. Do đó, cần chăm lo GDĐĐ cách mạng cho thế
hệ SV và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn San Hà với bài viết “Giáo dục
đạo đức thông qua học tập của sinh viên tại Bảo tàng: Thực trạng và
giải pháp”. Hiện nay, hệ thống các Bảo tàng trong cả nước rất phong
phú về loại hình như: lịch sử, văn hoá, danh nhân, di tích, thắng
cảnh… trong đó, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM thuộc một
trong những loại hình trên. Vì vậy, tập thể tác giả cho rằng việc
GDĐĐ cho HSSV hiện nay thì Nhà trường và các tổ chức Đoàn ở
các trường đại học, cao đẳng cần thường xuyên thực hiện phong trào
“Hành trình đến với Bảo tàng” để SV có thể tham gia học tập thực tế
tại Bảo tàng.
“Vai trò người giảng viên trong việc giáo dục đạo đức cho
sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng” của tác giả Ngô Minh
Oanh. Trong hệ thống giáo dục của một quốc gia thì giáo dục đại học
là khâu cuối cùng cung cấp sản phẩm, nguồn nhân lực cho xã hội,
phục vụ nhu cầu phát triển của một đất nước. Hiện nay, việc GDĐĐ
trong các trường đại học, cao đẳng đã được chú trọng hơn, nhưng
cũng chưa đạt yêu cầu mong muốn. Một bộ phận giảng viên các
trường đại học, cao đẳng cho rằng công tác giáo dục chính trị, tư
Bảo tàng là địa chỉ thân thuộc đối với mọi người. Đặc biệt là các em
học sinh, các bạn SV. Ba là, hướng đến việc thành lập Câu lạc bộ
tình nguyện viên, để trở thành hướng dẫn viên, thuyết minh viên Bảo
tàng có thể là những bạn SV. Bốn là, tăng cường thực hiện “Xã hội
hoá Bảo tàng”, “Đưa Bảo tàng đến với mọi người”. Năm là, các
trường đại học, cao đẳng nghiên cứu thiết kế giữa học tập trên lớp với
thực tế tại Bảo tàng.
Trần Mai Ước với bài viết “Những giải pháp cơ bản góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên
trường Đại học Ngân hàng TP.HCM trong giai đoạn hiện nay”.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá về kinh tế và các lĩnh vực xã
hội khác, sự bùng nổ về thông tin đã tạo điều kiện cho SV Việt Nam
nói chung, cũng như SV đại học Ngân hàng TP.HCM nói riêng tiếp
thu, phát triển những tri thức tiến bộ của nhân loại. Bên cạnh đó,
cũng đặt ra những thách thức đối với SV, bởi vì không phải SV nào
cũng có hoài bão, ước mơ, lý tưởng. Hiện nay, vẫn còn một bộ phận
SV chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, trước mắt mà không nghĩ đến
lợi ích tập thể, cộng đồng, vì sống không có lý tưởng, định hướng rõ
ràng, nhiều SV đi đến chỗ vướng vào các tệ nạn xã hội, tạo sự ảnh
hưởng không tốt tới sự phát triển của cá nhân và xã hội.
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ LUẬN ÁN TIẾP TỤC
GIẢI QUYẾT
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc thành tựu nghiên cứu của các
nhà khoa học đi trước, chúng tôi xác định những vấn đề chính luận
án cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và giải quyết là:
Một là, các công trình nghiên cứu và luận án kể trên đã trực
tiếp hoặc gián tiếp bàn đến nhiều khía cạnh khác nhau của đạo đức, ý
thức đạo đức, GDĐĐ truyền thống và hiện đại trong việc GDĐĐ cho
lý” được xem như đồng nghĩa với “đạo đức” có gốc từ tiếng Hy Lạp
là ethicos – lề thói, tập tục.
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà tư tưởng. Socrates (470 - 399 tr. CN) là người đầu tiên
đặt nền móng cho khoa học đạo đức học. Về phương diện đạo đức
học, Socrates đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, ông cho rằng
một người có đạo đức là phải nhận thức được chính mình, tuy nhiên
nhận thức của chính mình không thể tách khỏi nhận thức chung của
xã hội mới mang tính khách quan, đó là cơ sở để xác định chân lý
một cách đích thực và đúng đắn.
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung
Quốc cổ đại xuất hiện sớm, bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của
họ. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được
vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đức dùng để
nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là
đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý.
Ngày nay, đạo đức có thể được định nghĩa như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên
tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi và đánh
giá cách ứng xử của con người cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc
của mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ người – người.
2.1.2. Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội,
điều đó được thể hiện:
Thứ nhất, đạo đức là nhu cầu khách quan trong đời sống xã
hội của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và
giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát
triển.
“students” dùng để chỉ những người đang học tập ở các trường đại
học và cao đẳng.
Về mặt sinh học, SV ở giai đoạn thanh niên của đời người, cơ
thể đang dần đi đến hoàn thiện về mọi mặt: cơ bắp, chiều cao, trọng
lượng tăng nhanh, các đặc điểm sinh lý, giới tính phát triển đến độ
chín muồi, đặc biệt là sự phát triển của bộ não.
Về mặt tâm lý, từ 18 đến 23 tuổi là thời kỳ phát triển trí tuệ,
biểu hiện rõ nhất ở khả năng tư duy sâu sắc và mở rộng, có khả năng
giải quyết độc lập những nhiệm vụ trí tuệ ngày càng khó khăn hơn,
có khả năng lập luận lôgíc, chặt chẽ.
Về mặt xã hội, SV khi nhập học, với tư cách là một cộng đồng
xã hội mới, hoạt động chính chi phối họ là học tập.
Vị trí, vai trò của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở
TP.HCM trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Thanh niên, SV là lực lượng xã hội to lớn, một trong những
nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực
lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi
hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo.
2.2.2.2. Vai trò quan trọng của GDĐĐ cho SV các trường
đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện nay
Thứ nhất, GDĐĐ hướng tới mục tiêu hoàn thiện nhân cách
giúp SV trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.
Hai là, GDĐĐ là biện pháp tốt nhất giúp SV tránh được những
tác động tiêu cực của tàn dư đạo đức cũ, của KTTT, hội nhập quốc tế
và nhận thức rõ trách nhiệm của mình với dân tộc.
Ba là, GDĐĐ góp phần xây dựng hài hoà giữa đời sống vật
chất và đời sống tinh thần cho SV.
2.2.3. Nội dung GDĐĐ cho SV các trƣờng đại học, cao
lấy thầy”. Vì vậy, người Việt Nam luôn lấy sự học làm điều căn bản
để thực hiện đạo lý làm người.
2.2.3.4. Giáo dục cho SV tình bạn, tình yêu trong sáng,
đúng mực
Ở SV, do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, tình bạn, tình yêu trở
thành vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt và là vấn đề khá nhạy cảm,
tế nhị. Đối với SV, tình bạn chân chính và tình yêu trong sáng là biểu
hiện của lối sống khiêm nhường, bao dung, nhân ái thuỷ chung; là sự
yêu thương, quan tâm giúp đỡ nhau một cách vô tư, không vụ lợi,
không toan tính từ những ích kỷ của cuộc sống đời thường.
2.2.3.5. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
GDĐĐ nghề nghiệp là vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá
trình phát triển nghề nghiệp của mỗi SV. Mục tiêu của GDĐĐ nghề
nghiệp là bên cạnh việc đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng
nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau cần quan tâm, đẩy mạnh
GDĐĐ, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, rèn luyện sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có
khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.
2.2.3.6. Giáo dục cho SV tinh thần đoàn kết, tinh thần tập
thể, chống chủ nghĩa cá nhân
Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta,
được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Ngày
nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, nhằm phát huy tư tưởng đại
đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta không ngừng củng cố
và mở rộng các tổ chức mặt trận để thu hút mọi tầng lớp trong toàn
thể dân tộc, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Vì vậy, trong quá trình GDĐĐ
cho SV, cần và phải giáo dục tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng
phải luôn tìm kiếm những cơ hội cho phát triển, đồng thời phải dự
đoán những thay đổi, rủi ro, bất trắc. Đó là môi trường rèn luyện nghị
lực, bản lĩnh và ý chí cho con người hiện đại.
Bên cạnh những mặt tích cực, KTTT cũng có mặt tiêu cực của
nó, gây ảnh hưởng và tác động bất lợi đến đạo đức và GDĐĐ cho thế
thanh niên, SV.
- Một là, KTTT đặc biệt chú trọng tới lợi ích vật chất và lợi
nhuận cá nhân, khiến người ta thường xuyên tìm kiếm những biện
pháp, thậm chí dùng những thủ đoạn để tìm kiếm lợi nhuận, để làm
giàu và không ngừng trở nên giàu có trong xã hội.
- Hai là, trong nền KTTT sự phân hoá giàu nghèo ngày càng
trở nên sâu sắc, khoảng cách giữa vùng sâu, vùng xa, nông thôn và
thành thị ngày càng lớn.
- Ba là, nền KTTT ở nước ta hiện nay còn ở giai đoạn thấp, hệ
thống pháp luật chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ, còn nhiều kẻ hở
và bất cập. Do đó, đã tạo cơ hội cho các chủ thể kinh tế vi phạm pháp
luật như: buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, tham nhũng…
2.3.2. Ảnh hƣởng của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
đến GDĐĐ cho SV các trƣờng đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện
nay
Ngày nay, “Toàn cầu hoá” (Globalization) là xu thế tất yếu,
khách quan, đang diễn ra mạnh mẽ và tác động đến hầu hết các quốc
gia trong khu vực và trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, phát triển kinh
tế tri thức, sự bùng nổ thông tin như hiện nay, quá trình hợp tác song
phương và đa phương giữa các quốc gia với nhau tạo ra sự giao lưu
trao đổi về kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ. Đây là yếu tố
thuận lợi giúp cho SV Việt Nam nói chung và SV các trường đại học,
có tác dụng đến việc giáo dục truyền thống, GDĐĐ trong HSSV.
Vai trò của các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM
Giáo dục đại học, cao đẳng là sự tiếp nối của giáo dục gia đình
và các bậc học phổ thông, nhằm đào tạo những con người có trình độ,
năng lực và phẩm chất đạo đức. Hai nhiệm vụ cơ bản, song hành mà
các trường đại học, cao đẳng cần nhận thức rõ và thực hiện tốt, đó là
rèn đức và luyện tài cho SV, nhằm tạo nên những thế hệ công dân
vừa “hồng”, vừa “chuyên” cho đất nước. Đánh giá và nhận thức được
tầm quan trọng của GDĐĐ cho SV, từ lâu các trường đại học, cao
đẳng ở TP.HCM đã quan tâm, đầu tư, qua đó đã thu được nhiều kết
quả tốt đẹp.
Vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên TP.HCM
Công tác GDĐĐ, chính trị, tư tưởng trong thời gian vừa qua đã
được các cơ sở Đoàn, Hội đổi mới về nội dung và phương thức, trong
đó chú trọng hình thức học tập thực tế. Công tác nắm bắt tình hình và
định hướng dư luận trong SV được các cơ sở Đoàn, Hội chú trọng
triển khai thực hiện. Hội Sinh viên các trường đã xây dựng các tổ, đội
nhóm nắm bắt tư tưởng, tình hình SV, chú trọng đến các diễn đàn SV
trên mạng xã hội.
2.3.3.2. Sự quan tâm của gia đình trong GDĐĐ cho SV
các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện nay
Gia đình có vai trò quan trọng trong GDĐĐ cho thế hệ trẻ, đó
là điều không bậc làm cha mẹ nào phủ nhận. Văn hóa nước ta là nền
văn hóa trọng gia đình, với nền giáo dục trong các gia đình truyền
thống, bao thế hệ Việt Nam đã trưởng thành, biết trọng lễ, nghĩa, biết
yêu thương, chung thủy, trách nhiệm, biết hy sinh vì nghĩa lớn... và
những con người như thế đã tạo nên nhiều thành tựu lớn lao cho đất
nước. Những phẩm chất nêu trên là những giá trị đạo đức mà bất cứ
thời đại xã hội nào cũng cần đến.
2.3.4. Sự tích cực chủ động, tự giác của bản thân SV các
nhân cách, đủ sức là lực lượng chủ lực trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Chƣơng 3
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH
VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
3.1.1. Một số đặc điểm của SV các trƣờng đại học, cao
đẳng ở TP.HCM hiện nay
Ngoài những đặc điểm chung vốn có của SV Việt Nam, nét
đặc thù nổi bật của SV các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM là
hầu hết đến từ các tỉnh miền Trung, miền Đông Nam Bộ, miền Tây
Nam Bộ, đa dạng về thành phần, phong phú về nghề nghiệp tương
lai. TP.HCM là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn của cả nước,
là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động ngoại giao, trao đổi kinh
tế, là cơ hội để SV được tiếp cận thông tin, giao lưu văn hoá. Vì vậy,
SV Thành phố là những người năng động, sáng tạo, nhạy cảm về tình
hình kinh tế - chính trị, dễ thích nghi với cuộc sống, có khả năng
thích nghi nhanh, không ngại tiếp nhận cái mới, có khát vọng phấn
đấu vươn lên, có ý chí tự lực, tự cường trong học tập cũng như trong
cuộc sống.
3.1.2. Những kết quả đạt đƣợc của chủ thể đối với việc
GDĐĐ cho SV các trƣờng đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện nay
Thứ nhất, những kết quả đạt được từ phía nhà trường đối với
việc GDĐĐ cho SV các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện
nay.
đình ở Thành phố vẫn chú trọng đến việc giáo dục con cái những quy
tắc ứng xử, những giá trị đạo đức truyền thống như: hiếu thảo với cha
mẹ, uống nước nhớ nguồn, lá lành đùm lá rách, tôn sư trọng đạo, cần
cù, hiếu học.
3.1.3. Những kết quả đạt đƣợc từ phía SV các trƣờng
đại học, cao đẳng ở TP.HCM đối với việc học tập, giữ gìn và phát
huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Thứ nhất, đa số SV các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM
trân trọng và phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc.
Đặc trưng nổi bật về mục đích, lý tưởng sống của con người
Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước đến nay đó là tinh
thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Kế thừa tinh thần yêu nước,
truyền thống nổi bật, bậc thang cao nhất trong hệ giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam. Truyền thống quý báu này đã và đang được
SV Thành phố kế thừa và phát huy trong điều kiện đổi mới đất nước.
Thứ hai, SV các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM sống có
mục đích, lý tưởng, ước mơ và hoài bão.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của mình trong xã
hội, SV TP.HCM đã xác định một cách đúng đắn lý tưởng sống của
mình. Mục đích, lý tưởng sống của SV Thành phố hiện nay là ra sức
học tập, rèn luyện, phấn đấu không chỉ vì tương lai của bản thân, của
gia đình mà còn xuất phát từ mong muốn được góp một phần công
sức nhỏ bé của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
XHCN, nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nghèo nàn,
lạc hậu, đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ ba, SV các trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM cần cù,
tích cực, chủ động trong học tập và nghiên cứu khoa học.
Sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức là xu thế tất yếu
khách quan của xã hội loài người. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế
đẳng ở TP.HCM đối với việc rèn luyện nhân cách, đạo đức và lối
sống hiện nay
Thứ nhất, vẫn còn một bộ phận SV chưa có thái độ, tinh thần
học tập nghiêm túc, vi phạm kỷ luật học tập.
Thứ hai, một bộ phận SV các trường đại học, cao đẳng ở
TP.HCM chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, ảnh hưởng lối
sống, văn hoá phương Tây làm ảnh hưởng đạo đức truyền thống dân
tộc.
3.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC,
CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao trong việc
giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Thành phố và
những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, toàn
cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa yêu cầu không ngừng nâng cao hiệu
quả giáo dục đạo đức cho sinh viên với khả năng hạn chế của các chủ
thể giáo dục ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao, có phẩm chất đạo đức trong sáng với nguy cơ suy thoái
đạo đức, lối trong trong một bộ phận sinh viên Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
Tiểu kết chƣơng 3
GDĐĐ, lối sống cho SV giữ một vai trò hết sức quan trọng,
góp phần cơ bản hoàn thiện nhân cách, đạo đức cho những con người
mới XHCN. Việc GDĐĐ cho SV ở các trường đại học, cao đẳng ở
TP.HCM trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều thành tích
đáng tự hào, qua đó góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện
các trƣờng đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện nay
Trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quán
triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, Đảng ta rất coi trọng thanh niên – sinh viên và công tác giáo
dục thanh niên nói chung, SV nói riêng. Do vậy, sau 30 năm đổi mới,
Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết về thanh niên và công tác
thanh niên như: Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI, Nghị quyết
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá VII, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá X. Bên
cạnh đó, Quốc hội cũng đã thông qua Luật thanh niên, Chủ tịch nước
ban hành vào năm 2005 và gần đây nhất, Chính phủ đã phê duyệt
“Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”
ngày 30-12-2011.
4.1.3. Gắn bó chặt chẽ hoạt động GDĐĐ cho SV Thành
phố với sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa
Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Đạo đức với tính
cách là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là sản phẩm của tồn
tại xã hội vì vậy nó vẫn bị chi phối bởi đời sống vật chất, điều kiện
kinh tế của xã hội đó. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Xét đến cùng mọi học
thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình
hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”. Vì vậy, việc GDĐĐ cho SV nói
riêng và con người nói chung cần được xây dựng trên một nền tảng
kinh tế - xã hội phát triển.
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC
TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
4.2.4. Phát huy tính tích cực, tự giác và chủ động trong
học tập, tự rèn luyện đạo đức của SV các trƣờng đại học, cao
đẳng ở TP.HCM hiện nay
Con người là chủ thể của quá trình nhận thức, quá trình cải tạo
thế giới, là chủ thể trong mọi hoạt động xã hội. Trong quá trình
GDĐĐ, các giải pháp về gia đình, nhà trường và xã hội cho dù có
thực hiện tốt đến mấy cũng không thể thay thế vai trò tự giáo dục, rèn
luyện của chính SV. Thông qua hoạt động tự giáo dục, con người có
khả năng biến đổi đạo đức, nhân cách và lối sống của mình một cách
có ý thức. Vì vậy, cùng với giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội
thì cần phải phát huy tính tích cực, tự giác trong rèn luyện và tu
dưỡng của SV.
4.2.5. Xây dựng môi trƣờng kinh tế - xã hội trong sạch,
lành mạnh để có sự tác động tích cực đến việc GDĐĐ cho SV các
trƣờng đại học, cao đẳng ở TP.HCM hiện nay
Để nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho SV, cần xây dựng một môi
trường kinh tế - xã hội trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện cho việc
hình thành những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp trong SV. Bởi vì, môi
trường sống và điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến
nhận thức, nhân cách, lối sống của mỗi người.
4.2.6. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm
gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh cho SV các trƣờng đại học, cao
đẳng ở TP.HCM hiện nay
Trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước hiện nay, để
góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã
hội, đặc biệt là trong cán bộ đảng viên, đoàn viên, thanh niên, Bộ