Giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 41

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ................................................................................. 6
1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức, giáo dục đạo đức cho sinh
viên ....................................................................................................... 6
1.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục đạo đức và
phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh ............................................. 17
1.3. Những vấn đề đặt ra để luận án tiếp tục giải quyết ............................ 26
Chƣơng 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ............................ 28
2.1. Đạo đức và vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội ....................... 28
2.2. Giáo dục đạo đức và tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho sinh
viên các trƣờng đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay ...................................................................................................... 33
2.3. Những nhân tố ảnh hƣởng đến giáo dục đạo đức cho sinh viên các
trƣờng đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ........ 67
Chƣơng 3: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA ................................................................................................. 81


3.1. Thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên các trƣờng đại học, cao
đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ......................................... 81
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên các
trƣờng đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ...... 110
Chƣơng 4. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất
lƣợng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ
năng thực hành, khả năng lập nghiệp” [46, tr.130-131].
Nhìn một cách tổng quát, nhiệm vụ giáo dục hiện nay của nƣớc ta là làm sao
để đào tạo ra đƣợc những con ngƣời có đầy đủ cả hai mặt: đức và tài. Điều này đòi
hỏi các cấp, các ngành hữu quan cần phải quan tâm chăm lo giáo dục về mọi mặt,
trong đó giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay
là công việc vô cùng cần thiết và cấp bách.
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau 30 năm đổi mới, Việt
Nam đã đạt đƣợc những thành tựu đáng tự hào. Kinh tế phát triển làm cho mọi mặt
của đời sống xã hội cũng phát triển theo. Song, mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng,
hội nhập quốc tế lại nảy sinh những yếu tố tiêu cực. Những tác động tiêu cực do
mặt trái của kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế đã can thiệp, đang làm băng hoại
nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống, chà đạp lên những khuôn mẫu, những giá
trị đạo đức đích thực, làm thay đổi các quan niệm sống, lối sống của một bộ phận
sinh viên Việt Nam nói chung, cũng nhƣ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh nói
riêng. Có thể nói, trƣớc thực tiễn hiện nay, quan niệm và chuẩn mực đạo đức, lối


2

sống của sinh viên đang là vấn đề lớn cần đƣợc nghiên cứu cả về phƣơng diện lý
luận lẫn thực tiễn. Mặt khác, các thế lực thù địch với âm mƣu “diễn biến hòa bình”
đã len lỏi, tiến công trên các mặt trận tƣ tƣởng, văn hóa, đạo đức, hòng làm lu mờ lý
tƣởng, xóa nhòa những định hƣớng giá trị tốt đẹp mà xã hội đang hƣớng tới, nhất là
với thanh niên, sinh viên – những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Trên thực tế, ở
nƣớc ta hiện nay nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tình trạng suy
thoái đạo đức diễn ra ngày càng gây gắt, nhất là đối với thanh niên, sinh viên. Văn
kiện Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh TP. Hồ Chí Minh
lần IX đã đánh giá: “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tƣởng, thiếu ý thức chấp

phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Triết học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích một số khái niệm công cụ của luận án: đạo đức, giáo dục đạo đức,
tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên
hiện nay. Phân tích và làm rõ thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức cho sinh
viên Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó luận án đề xuất phƣơng hƣớng và một số giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các trƣờng đại
học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của luận án: đạo đức, giáo
dục đạo đức cho sinh viên.
Làm rõ tầm quan trọng, nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam
nói chung, sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Phân tích, đánh giá thực trạng đạo đức, công tác giáo dục đạo đức cho sinh
viên Thành phố Hồ Chí minh hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó.
Đề xuất phƣơng hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức cho sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên
các trƣờng đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.


4

3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi là sinh viên chính quy đang học trong các

Đề xuất phƣơng hƣớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức cho sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng ở Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và đƣa ra một số giải pháp để
nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng ở
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy
trong các trƣờng đại học, cao đẳng.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức, đoàn thể, cá
nhân trực tiếp làm công tác giáo dục sinh viên và hoạt động phong trào của sinh
viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm có 4 chƣơng, 10 tiết.


6

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẠO ĐỨC, GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
1.1.1. Những công trình bàn về đạo đức
Cùng với sự phát triển không ngừng của lịch sử xã hội, lịch sử loài ngƣời, đạo
đức học cũng trải qua một quá trình lịch sử hình thành và phát triển hết sức phong
phú. Với tƣ cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tƣ tƣởng đạo đức đã
xuất hiện hơn 26 thế kỷ trƣớc đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ
đại. Trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử trong nền văn minh nhân loại với
các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, những quan điểm, tƣ tƣởng về đạo

đề về bản chất nguồn gốc và quy luật của đạo đức: “Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, đạo đức thay đổi tùy theo sự thay đổi của tồn tại xã hội” [101, tr.24]. Vì vậy,
các ông không thừa nhận có thứ đạo đức tồn tại vĩnh viễn và chỉ ra những nét cơ
bản về đặc điểm, nội dung của đạo đức cộng sản và phƣơng hƣớng, biện pháp giáo
dục đạo đức cộng sản khoa học nhất.
Vũ Khiêu với tác phẩm “Đạo đức mới” [82]. Trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử
bốn nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, những phẩm chất đạo đức chói lọi của
ngƣời Việt Nam trong sản xuất, trong chiến đấu, trong quan hệ gắn bó yêu thƣơng
hằng ngày giữa nhân dân lao động, tác giả cho rằng: “Nói tới đạo đức là nói tới mối
quan hệ giữa ngƣời và ngƣời, là nói tới thái độ, trách nhiệm và những quy tắc xử lý
mối quan hệ giữa bản thân mình với những ngƣời chung quanh, với gia đình, với
bạn bè, với xóm làng và đất nƣớc, với giai cấp và loài ngƣời” [82, tr.12-13]. Mỗi
hình thái kinh tế - xã hội đều có những chuẩn mực đạo đức phù hợp, khi hình thái
kinh tế - xã hội thay đổi thì những chuẩn mực đạo đức cũ cũng dần dần mất đi
nhƣờng chỗ cho những chuẩn mực đạo mức mới và trong thời đại ngày nay, Vũ
Khiêu cho rằng đạo đức mới là đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, đạo đức
cộng sản chủ nghĩa, đỉnh cao của đạo đức trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Nội dung
cơ bản của đạo đức mới trƣớc hết phải hƣớng vào những nhiệm vụ cơ bản của con
ngƣời mới nhƣ chiến đấu, lao động và học tập. Nhƣng đạo đức mới còn phải đƣợc
thể hiện cả ở trong gia đình, tình yêu, tình bạn, cả trong quan hệ thƣờng ngày và đời
sống riêng tƣ. Bên cạnh đó, tác giả đã đề cập đến những phƣơng hƣớng rèn luyện
đạo đức trong xã hội ngày nay, đặc biệt nhấn mạnh việc noi gƣơng Bác Hồ vĩ đại


8

nhƣ lời đồng chí Lê Duẩn đã nhắc nhở: “Ở nƣớc ta, Hồ Chủ tịch là tƣợng trƣng đạo
đức cách mạng trong sáng và tốt đẹp nhất của Lênin. Chúng ta phải ra sức noi
gƣơng đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch” [82, tr.261].
Cuốn sách “Đạo đức học” tập I và tập II của G.Bandzeladze. Trên cơ sở

trị trƣờng tồn của tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh. Trọng tâm của công trình nghiên
cứu là nhấn mạnh đến việc học tập, tu dƣỡng, rèn luyện con ngƣời về mặt đạo đức
theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Việc học tập, tu dƣỡng, rèn luyện để trở thành con
ngƣời mới, không chỉ có việc học tập, tu dƣỡng, rèn luyện về đạo đức. Bên cạnh
đạo đức phải nói đến tài năng. Tài và đức là hai mặt của con ngƣời mới, có mối
quan hệ gắn bó hữu cơ không thể xem trọng mặt này xem nhẹ mặt kia. Tác giả cho
rằng, Hồ Chí Minh coi: “Đạo đức là gốc đồng thời xem tài năng là quan trọng đối
với ngƣời cán bộ cách mạng và con ngƣời mới nói chung” [27, tr.155].
Quyển sách “Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay” do nhóm tác
giả của Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự biên soạn [133]. Trên cơ sở
khái quát các vấn đề lý luận về đạo đức, tập thể tác giả cho rằng đạo đức cần đƣợc
nhận thức là: “Một hiện tƣợng xã hội, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, bao gồm hệ
thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội… để điều chỉnh
hành vi ứng xử của con ngƣời (giữa ngƣời và ngƣời, giữa cá nhân và cộng đồng,
giữa con ngƣời và tự nhiên…) đƣợc thực hiện do sức mạnh của phong tục, tập quán,
dƣ luận xã hội và lƣơng tâm của mỗi con ngƣời cho phù hợp với lợi ích xã hội, hạnh
phúc của con ngƣời và tiến bộ xã hội” [133, tr.9-10]. Trong xã hội có giai cấp, đạo
đức đƣợc các giai cấp khác nhau sử dụng vào những mục đích khác nhau. Trong
cách mạng XHCN, đạo đức cách mạng sẽ có một sức mạnh to lớn tham gia vào lật
đổ chế độ xã hội cũ, thiết lập và xây dựng chế độ mới xã hội - XHCN, một xã hội
không còn áp bức, bóc lột, bất công. Bên cạnh đó, để duy trì sự tồn tại, phát triển
lành mạnh đời sống xã hội, các nhà khoa học cho rằng con ngƣời cần đến hệ thống
các quy tắc, chuẩn mực xã hội khác nhau để điều chỉnh các hoạt động xã hội và tự
điều chỉnh hành vi cá nhân: “Chuẩn mực đạo đức là những nguyên tắc, quy tắc đạo
đức đƣợc mọi ngƣời thừa nhận trở thành những mực thƣớc, khuôn mẫu để xem xét
đánh giá và điều chỉnh hành vi của con ngƣời trong xã hội” [133, tr.24].
1.1.2. Những công trình bàn về giáo dục đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội nhằm điều chỉnh hành vi
của con ngƣời, là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử xã hội và góp phần phản
ánh sự tồn tại của đời sống tinh thần. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng đất nƣớc,

cần giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh cho SV. Tuy nhiên,
trong công trình này tác giả chƣa đi vào nghiên cứu và làm rõ về thực trạng, nội
dung và tầm quan trọng trong việc GDĐĐ cho SV hiện nay.


11

Cuốn sách “Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi dưỡng thanh, thiếu niên và nhi
đồng” của Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng [160]. Đây là công trình sƣu
tầm, biên soạn công phu, có hệ thống những bài nói, bài viết, lời dạy bảo ân cần của
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Bồi dƣỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết. Trƣớc khi đi xa,
trong Di chúc, Hồ Chí Minh dặn lại Đảng ta: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là
tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng
cần phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những ngƣời kế thừa
xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa “hồng”, vừa “chuyên” [160, tr.5]. Trong giai đoạn
hiện nay, khi công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế càng đi vào chiều sâu thì bên
cạnh những thời cơ là những thách thức của cơ chế thị trƣờng, những cạm bẫy của
quá trình giao lƣu và hội nhập mà thanh niên, SV cần đƣợc giáo dục, rèn luyện để
không bị cuốn vào những lối sống buông thả, thực dụng, coi trọng giá trị vật chất,
đồng tiền, trụy lạc sa đọa, nghiện ngập, xa hoa, lãng phí, lƣời lao động, thờ ơ vô
cảm… thì những lời dạy, lời chỉ dẫn và những kinh nghiệm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về giáo dục và bồi dƣỡng cho thanh, thiếu niên vẫn có tính thời sự và thiết
thực. Do đó, trong quá trình thực hiện luận án tiến sĩ chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên
cứu những tƣ tƣởng của Bác, trên cơ cở đó xây dựng những giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả cho việc GDĐĐ cho thanh niên, SV hiện nay.
Quyển sách “Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên”
của tác giả Hoàng Anh [1]. Tác giả cho rằng: “GDĐĐ cho SV là một trong bốn
nhiệm vụ trọng yếu của nền giáo dục đại học nƣớc ta hiện nay. Nó không chỉ trực
tiếp hình thành đạo đức SV, mà hơn hết là tạo ra cơ sở tâm lý tích cực cho sự phát

Quyển sách “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lƣơng Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt [5]. Qua
nghiên cứu vấn đề đạo đức và đạo đức mới (đạo đức xã hội chủ nghĩa) tác giả cho
rằng: “GDĐĐ mới cho SV là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt mang tầm chiến lƣợc và
ở chừng mực nào đó có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” [5, tr.46]. Bởi vì, thông qua việc GDĐĐ sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách,
điều chỉnh hành vi của con ngƣời phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội.
Ngoài ra, liên quan trực tiếp đến đề tài có thể kể đến một số luận án Tiến sĩ
Triết học trong thời gian vừa qua.
Luận án Tiến sĩ Triết học “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại
trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Thị Hoài


13

Thanh [140]. Luận án phân tích quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại
trong GDĐĐ cho thanh niên. GDĐĐ là quá trình tác động đến đối tƣợng giáo dục
nhằm hình thành trong họ ý thức, tình cảm, niềm tin, lý tƣởng đạo đức và định
hƣớng cho hành vi đạo đức. Nhiều phẩm chất và hành vi đạo đức ở con ngƣời đƣợc
hình thành chủ yếu bằng con đƣờng giáo dục, tác giả cho rằng: “Truyền thống và
hiện đại là những yếu tố luôn có mặt trong mọi lĩnh vực đời sống của quốc gia, dân
tộc, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa, đạo đức, tinh thần” [140, tr.57]. Vì vậy, cần
phải kết hợp truyền thống và hiện đại trong GDĐĐ cho thanh niên. Tuy nhiên, trong
quá trình GDĐĐ tác giả đã nhấn mạnh rằng: “Cần khắc phục đồng thời cả hai
khuynh hƣớng cực đoan: hoặc là theo chủ nghĩa truyền thống, chỉ ca ngợi, đề cao và
phục hồi truyền thống theo kiểu một chiều trong một môi trƣờng đóng cửa, khép
kín; hoặc là đón nhận, tiếp thu những yếu tố hiện đại không có chọn lọc, không cân
nhắc, chạy theo “hiện đại hoá” bằng bất cứ giá nào” [140, tr.52].
Gần đây nhất, năm 2014 luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hà “Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây dựng lối sống mới cho

lãnh đạo; thái độ tận tụy phục vụ, cống hiến cho Tổ quốc, nhân dân. Trong việc giáo
dục lối sống cho thanh niên, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục cho
thanh niên tình yêu đối với lao động, sống giản dị, trung thực, dũng cảm; sống có
hoài bão, nghị lực, chí tiến thủ; giáo dục thanh niên một tình bạn, tình yêu trong
sáng. Trong tình bạn cũng nhƣ trong tình yêu, Ngƣời dạy thanh niên: “Phải đi đúng
mực, đúng giới hạn quyết chớ phóng túng, lôi thôi” [147, tr.67].
Bài viết “Giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay” của tác
giả Phan Văn Bình [15]. Trong xu thế giao lƣu và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi
những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, trong đó có đạo đức. Vì vậy, việc
GDĐĐ là hết sức cần thiết và GDĐĐ nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị đạo
đức truyền thống, loại bỏ những quan điểm đạo đức không còn phù hợp, định
hƣớng giá trị đạo đức đúng đắn, phù hợp với sự tiến bộ và phát triển của xã hội.
Trên cơ sở xác định tầm quan trọng của việc GDĐĐ cho SV, tác giả đã xác định sáu
nội dung cần giáo dục cho SV hiện nay nhƣ: “Giáo dục theo tấm gƣơng đạo đức Hồ
Chí Minh; giáo dục những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc; giáo dục
lý tƣởng độc lập dân tộc và CNXH; GDĐĐ nghề nghiệp; giáo dục tinh thần tự chủ,
nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, dám đƣơng đầu để tự khẳng định mình; GDĐĐ văn
hoá giao tiếp, tình yêu lứa đôi, hạnh phúc gia đình” [15].


15

Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh với bài viết “Vai trò của trường đại học
trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay” [2]. Trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nƣớc hiện nay, GDĐĐ cho SV sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo
toàn diện nguồn nhân lực. GDĐĐ cho SV là trách nhiệm của mỗi cá nhân và tổ
chức xã hội, trong đó tác giả cho rằng: “Các trƣờng đại học phải có trách nhiệm tổ
chức định hƣớng” [2, tr.55]. Vai trò của nhà trƣờng hiện nay là phối hợp với các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc khai thác tiềm năng của xã hội, phục vụ cho sự
phát triển giáo dục. Tuy nhiên, khi đánh giá về vai trò của nhà trƣờng trong thời

truyền thống và hiện đại là rất cần thiết. Nó phải giữ đƣợc vị trí và vai trò đặc biệt
quan trọng mới có thể xây dựng đất nƣớc thành công bởi sự tác động tích cực của
quá trình này. Trong GDĐĐ, tác giả cho rằng cần: “Giáo dục cho SV về lý tƣởng
độc lập dân tộc và CNXH, thế giới quan cách mạng và nhân sinh quan cộng sản chủ
nghĩa. Bởi vì, khi có nhận thức đúng lý tƣởng, họ sẽ có niềm tin, có hành động
đúng, biết nhìn về tƣơng lai. Giáo dục SV ý thức và trách nhiệm cộng đồng, tinh
thần mình vì mọi ngƣời, lòng khoan dung, ý thức tự giác trong học tập và hoạt động
cá nhân” [67, tr.25].
Đặng Thành Hƣng với bài viết: “Quan niệm đạo đức và giáo dục đạo đức
trong nhà trường hiện đại” [68]. GDĐĐ là một trong những nhiệm vụ giáo dục giá
trị, bởi vì đạo đức là một dạng giá trị. Luận điểm này từ bỏ cách giáo dục rao giảng,
học vẹt các chuẩn mực đạo đức, mà nhấn mạnh giáo dục bằng trải nghiệm, bằng
hành động thực tiễn trong rèn luyện của ngƣời học. Muốn học đƣợc đạo đức, con
ngƣời phải thực hành đạo đức hàng ngày trong cuộc sống riêng tƣ, trong đời sống
cộng đồng, trong quan hệ xã hội, trong hoạt động nghề nghiệp, trong quan hệ với
môi trƣờng và quan hệ với chính mình, cũng nhƣ trong việc xử lý những vấn đề văn
hoá, pháp luật, giải trí, học tập và phát triển cá nhân. GDĐĐ hơn bất cứ nhiệm vụ
giáo dục nào khác, đòi hỏi con ngƣời tính tự giác, ý chí bền bỉ, bản lĩnh tự giáo dục
và niềm tin mãnh liệt vào cái Thiện, cái Tốt. Trong GDĐĐ tác giả cho rằng:
“GDĐĐ là sử dụng các hoạt động và phƣơng thức giao tiếp nhất định để: 1/ Tác
động và phát triển lí trí đạo đức (thấu hiểu, thừa nhận và đánh giá có phê phán các
sự kiện trong đời sống đạo đức trên lập trƣờng Thiện – Ác, Tốt – Xấu; 2/ Phát triển
nhu cầu và tình cảm đạo đức (tin tƣởng vào cái Thiện, yêu cái Thiện, khao khát cái
Thiện, ghét cái Ác, muốn đấu tranh chống lại và thủ tiêu cái Ác; 3/ Khuyến khích
phát triển các hành vi và hành động đạo đức phù hợp với lí trí, nhu cầu và tình cảm
đạo đức của mình trong đời sống cá nhân và cộng đồng” [68, tr.9].


17




18

tình nguyện tham gia hoạt động vì cộng đồng, sống có mục đích và lý tƣởng, luôn
mong muốn đóng góp một phần công sức của mình trong công cuộc xây dựng đất
nƣớc. Những biểu hiện tích cực trong đạo đức, lối sống của SV Thành phố thời gian
vừa qua là do có sự đầu tƣ, quan tâm của các Cấp uỷ Đảng, chính quyền và đặc biệt
là sự phối hợp đồng bộ từ phía gia đình, nhà trƣờng và xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những ƣu điểm, tiến bộ tác giả cũng chỉ ra mặt hạn chế
trong đạo đức, lối sống của SV Thành phố hiện nay. Đó là, một bộ phận SV có động
cơ, thái độ học tập không đúng, vi phạm kỷ luật học tập, thiếu tôn trọng thầy cô,
chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, xa rời đạo đức truyền thống dân tộc, có
hành vi vi phạm pháp luật. Nguyên nhân của sự hạn chế là do công tác GDĐĐ còn
nhiều hạn chế, nền tảng giáo dục của một bộ phận gia đình chƣa vững chắc, đặc biệt
do những tác động tiêu cực từ mặt trái của nền KTTT và của toàn cầu hoá.
Tác giả Nguyễn Văn Tuyên và Nguyễn Thị Tĩnh bài viết “Giáo dục đạo đức
cho sinh viên hiện nay theo 23 điều tư cách trong tác phẩm Đường kách mệnh của
Chủ tịch Hồ Chí Minh” [152]. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện
nay, một bộ phận SV do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu đã có những
biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại nhƣ: lƣời học tập, nghiện ngập, vi phạm pháp luật,
sống buông thả. Do đó, cần chăm lo GDĐĐ cách mạng cho thế hệ SV và coi đó là
một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trên cơ sở nghiên cứu nội dung 23
điều tƣ cách của một ngƣời cách mạng trong tác phẩm Đƣờng kách mệnh của Chủ
tịch Hồ Chí Minh tập thể tác giả cho rằng: “Nội dung 23 điều tƣ cách của một ngƣời
cách mạng trong tác phẩm Đƣờng kách mệnh là những định hƣớng cơ bản cho việc
GDĐĐ cho SV trong giai đoạn hiện nay” [152, tr.7].
Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn San Hà với bài viết “Giáo dục đạo đức thông
qua học tập của sinh viên tại Bảo tàng: Thực trạng và giải pháp” [100]. Bảo tàng
không chỉ là nơi sƣu tầm, bảo quản, giữ gìn những di sản văn hoá mà còn là nơi

trong các trường cao đẳng, đại học” của tác giả Hoàng Xuân Sơn, Hồ Thị Thanh
Trúc [138]. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò rất quan trọng
trong định hƣớng, tổ chức các hoạt động GDĐĐ cho thanh niên, SV. Đoàn là lực
lƣợng giáo dục trực tiếp, lãnh đạo chính trị, tƣ tƣởng tập thể đoàn viên thanh niên,
là nhân tố cơ bản của quá trình tự giáo dục. Thông qua các chƣơng trình hành động
thiết thực của mình, Đoàn vận động thanh niên, SV thực hiện tốt nhiệm vụ học tập
và rèn luyện, tu dƣỡng đạo đức bản thân. Công tác giáo dục đoàn viên, thanh niên
thời gian qua đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, tác giả cho rằng: “Bên


20

cạnh những điều kiện thuận lợi rất cơ bản để học tập, trƣởng thành, thanh niên cũng
chịu những tác động không nhỏ do mặt trái của sự phát triển đem lại. Những tác
động tiêu cực ấy dẫn đến hậu quả tất yếu là trình độ giác ngộ, tinh thần trách nhiệm,
ý thức và tổ chức kỷ luật của một bộ phận thanh niên còn thấp; một bộ phận thanh
niên chƣa xác định đúng lý tƣởng cách mạng, suy giảm niềm tin vào con đƣờng mà
Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn” [138, tr.65]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
thực trạng trên, song có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản nhƣ: do mặt trái của
nền KTTT dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng trở nên phổ biến; tệ tham
nhũng, quan liêu, cửa quyền; do diễn biến hoà bình, nhất là diễn biến hoà bình trên
lĩnh vực tƣ tƣởng, văn hoá của các thế lực thù địch.
Cuốn sách “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay” của các tác giả Lƣơng Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt [5].
Nghiên cứu về thực trạng GDĐĐ cho SV trong các trƣờng đại học, cao đẳng thời
gian vừa qua tập thể tác giả cho rằng các trƣờng đại học, cao đẳng đã thực hiện
chƣơng trình “Tuần lễ sinh hoạt chính trị” cho SV đầu khoá theo đúng tinh thần chỉ
đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; qua đó, đã góp phần tuyên truyền, giáo dục những
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giúp SV nắm đƣợc tình hình thời sự về kinh
tế, chính trị trong nƣớc và trên thế giới, góp phần củng cố, bồi dƣỡng niềm tin của

GDĐĐ cùng với giáo dục tri thức của các lĩnh vực chuyên ngành nhà trƣờng sẽ góp
phần đào tạo và định hƣớng cho SV, hƣớng SV đến những giá trị tốt đẹp trong cuộc
sống, giúp họ trở thành những con ngƣời có ích cho xã hội, cho Tổ quốc. Nghiên
cứu thực trạng GDĐĐ cho SV trong các trƣờng đại học hiện nay tác giả cho rằng:
“Về ƣu điểm: một số trƣờng GDĐĐ đã thực sự đƣợc coi trọng, môn Đạo đức học là
một trong những môn học bắt buộc trong chƣơng trình, có giáo trình riêng. Các hoạt
động Đoàn, Hội cũng thƣờng nhấn mạnh đến những giá trị đạo đức, hƣớng tới
GDĐĐ cho SV” [151, tr.23]. Tuy nhiên, tác giả cho rằng bên cạnh đó cũng còn
những hạn chế nhất định nhƣ: “Một số trƣờng chỉ chú trọng rèn luyện tài mà chƣa
chú trọng đến rèn đức cho SV và đôi khi chính ngƣời GDĐĐ lại chƣa thực sự là tấm
gƣơng đạo đức cho SV noi theo, điều này cũng ảnh hƣởng lớn đến quá trình
GDĐĐ” [151, tr.23-24].
Ban Thanh niên trƣờng học – Trung ƣơng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh với bài viết: “Các hoạt động phong trào của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh góp
phần GDĐĐ, lối sống cho HSSV” [19]. Đạo đức, lối sống của HSSV là tổng thể
những phẩm chất đạo đức, nếp sống, tâm trạng, nguyện vọng đƣợc thể hiện trong


22

hoạt động học tập, giao tiếp, ứng xử, hoạt động chính trị - xã hội của cá nhân
HSSV. Đánh giá thực trạng đạo đức và GDĐĐ cho SV hiện nay, Trung ƣơng Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh cho rằng: “SV hiện nay thì đa số có mục đích, lý tƣởng, nhận
thức rõ học tập là nhiệm vụ hàng đầu, tích cực học tập. Thực hiện tốt kỷ luật và quy
định của nhà trƣờng. HSSV ngày càng mạnh dạn, chủ động và thực tế hơn trong các
mối quan hệ chia sẻ, trách nhiệm, biểu hiện sự thẳng thắn, thực tế trong quá trình
giao tiếp” [19, tr.50]. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn một bộ phận không nhỏ
HSSV có những biểu hiện tiêu cực trong tƣ tƣởng, đạo đức và lối sống nhƣ: lƣời và
thiếu trung thực trong học tập; có biểu hiện vi phạm pháp luật nhƣ báo chí đã phản
ánh gần đây: bạo lực học đƣờng, trộm cắp, nghiện các trò cờ bạc, nghiện “nét”,

Ngoài ra, SV cần phát huy ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện của mình trong quá trình
hoàn thiện nhân cách, đạo đức và lối sống. Đặc biệt, nhóm tác giả cho rằng việc
GDĐĐ cho SV thông qua việc nêu gƣơng ngƣời tốt, việc tốt có ý nghĩa quan trọng
giúp SV tự nhận thấy mình có thể noi theo gƣơng tốt và làm việc tốt để trở thành
ngƣời có ích cho xã hội.
Bài viết “Giáo dục đạo đức thông qua học tập của sinh viên tại Bảo tàng:
Thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Thị Ngọc Lan, Nguyễn San Hà [100].
Bảo tàng có vị trí quan trọng trong việc học tập nói chung và giáo dục nói riêng cho
SV các trƣờng đại học, cao đẳng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho SV, tập
thể tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản: Một là, cần có sự phối hợp tích cực
hơn nữa giữa Bộ Giáo dục & Đào tạo và hệ thống Bảo tàng trong cả nƣớc trong việc
khuyến khích HSSV đến Bảo tàng. Hai là, hãy để Bảo tàng là địa chỉ thân thuộc đối
với mọi ngƣời. Đặc biệt là các em học sinh, các bạn SV. Ba là, hƣớng đến việc
thành lập Câu lạc bộ tình nguyện viên, để trở thành hƣớng dẫn viên, thuyết minh
viên Bảo tàng có thể là những bạn SV. Bốn là, tăng cƣờng thực hiện “Xã hội hoá
Bảo tàng”, “Đưa Bảo tàng đến với mọi người”. Năm là, các trƣờng đại học, cao
đẳng nghiên cứu thiết kế giữa học tập trên lớp với thực tế tại Bảo tàng [100, tr.227].
Trần Mai Ƣớc với bài viết “Những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Ngân hàng
TP.HCM trong giai đoạn hiện nay” [155]. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá
về kinh tế và các lĩnh vực xã hội khác, sự bùng nổ về thông tin đã tạo điều kiện cho
SV Việt Nam nói chung, cũng nhƣ SV đại học Ngân hàng TP.HCM nói riêng tiếp
thu, phát triển những tri thức tiến bộ của nhân loại. Bên cạnh đó, cũng đặt ra những
thách thức đối với SV, bởi vì không phải SV nào cũng có hoài bão, ƣớc mơ, lý



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status