Pháp luật với việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***
ĐINH THỊ CẨM NHUNG
PHÁP LUẬT VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THẾ KIỆT



HÀ NỘI - 2008

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS.
Nguyễn Thế Kiệt.
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều
trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2008.
Tác giả luận văn
Đinh Thị Cẩm Nhung

MỤC LỤC

Nội hiện nay 50
2.3. Những hạn chế và một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi pháp luật ảnh
hưởng đến đạo đức của sinh viên các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay .58
Chương 3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của pháp
luật trong việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong các
trường Đại học ở Hà Nội hiện nay .67
3.1. Xây dựng ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN phù hợp với
kinh tế thị trường định hướng XHCN - Cơ sở pháp lý cho việc xây
dựng đạo đức mới cho sinh viên .67
3.2. Kết hợp giáo dục pháp luật với việc phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống các dân tộc .69
3.3. Đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức pháp luật, ý thức đạo đức trong nhà
trường .73
3.4. Nâng cao tinh thần tự giác rèn luyện ý thức pháp luật, ý thức đạo đức cho
sinh viên các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay .76
Kết luận 79
Danh mục tài liệu tham khảo 81 1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong những phương thức
cơ bản điều chỉnh hành vi của con người theo một chuẩn mực nhất định của
xã hội. Đạo đức là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, là một
tiêu chuẩn để đánh giá, xem xét phẩm chất, nhân cách cá nhân, vì vậy đạo đức
là một nội dung quan trọng cần được giáo dục, rèn luyện thường xuyên để
phát triển nhân cách con người.
Pháp luật cũng là một phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với đạo đức.

viên nói riêng đã được nhiều cá nhân và tập thể tác giả quan tâm nghiên cứu ở
khía cạnh khác nhau, với những tiếp cận khác nhau như: GS Vũ Khiêu: “Mấy
vấn đề đạo đức cách mạng”, NXB. TP Hồ Chí Minh, năm 1978; Trần Thành:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” NXB. Chính trị quốc gia, 1996; Nguyễn
Tĩnh Gia: “Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức của
người cán bộ quản lý”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2 năm 1997; Nguyễn
Văn Lý: “Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền thống trong quá
trình chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” Luận án tiến sỹ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2005; Nguyễn
Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phức (đồng chủ biên): “Mấy vấn đề đạo đức
trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, NXB. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2003.
Bên cạnh những cuốn sách, bài viết còn có các luận văn, luận án tiến sĩ
đề cập đến vấn đề này như: “Giáo dục đạo đức với việc hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ
của Trần Sỹ Phán. “Vấn đề đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Hương. “Vấn đề giáo dục
đạo đức mới cho thanh niên, sinh viên hiện nay trong các trường Đại học ở
Hà Nội”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thu Hường…

3

Tuy vậy, vấn đề đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay ở Việt Nam vẫn là vấn đề mới đang biến động phức tạp. Việc đi sâu
nghiên cứu và giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường Đại học ở Hà
Nội hiện nay thông qua vai trò của pháp luật là một trong những phương
hướng cần tiếp tục nhằm mang lại hiệu quả tốt hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng ảnh hưởng của pháp luật trong việc

Thông qua việc giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn góp phần làm rõ
thực trạng ảnh hưởng của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh
viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay.
Luận văn bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai
trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên ở Hà Nội
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn còn bao gồm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Vai trò của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức mới
cho sinh viên Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Pháp luật với việc xây dựng đạo đức cho sinh viên trong các
trường Đại học ở Hà Nội hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra.
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của pháp
luật trong việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong các trường Đại học ở
Hà Nội hiện nay.

5 6

Chương 1
VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG

được sống tự do, bình đẳng và công bằng, văn minh, trật tự an toàn xã hội
được bảo đảm. “Đây là kiểu pháp luật cuối cùng trong lịch sử và hình thành
dần cùng với sự ra đời và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa, là pháp
luật kiểu mới, nội dung của nó hoàn toàn phủ nhận chế độ bóc lột, hạn chế và
dần dần đi đến xoá bỏ chế độ tư hữu, xác lập và ngày càng phát triển quan hệ
bình đẳng, tự do, dân chủ, bác ái thật sự, những quan hệ hoàn toàn mới giữa
con người với con người” [60, tr.66].
Pháp luật là do Nhà nước ban hành. Vì vậy, ở chừng mực nào đó, pháp
luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã
hội. Như vậy, pháp luật vừa thể hiện bản chất giai cấp, vừa thể hiện tính xã
hội. Nên pháp luật có các tính chất sau:
- Tính quy ước: Quy ước là tế bào của pháp luật chứa đựng những
nguyên tắc khuôn mẫu, xử sự chung. Các quy ước pháp luật được áp dụng
nhiều lần trong những không gian và thời gian khác nhau. Thời gian áp dụng
những quy ước này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hủy
bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc những quy ước này đã hết thời hạn có hiệu lực.
- Tính phổ biến và tính cưỡng chế: Pháp luật thực chất là ý chí của Nhà
nước, nó “được nâng lên thành luật” và pháp luật của Nhà nước hướng tới sự
phát triển của xã hội, làm thay đổi các quá trình kinh tế xã hội. Vì lợi ích và
sự tiến bộ chung của nhân dân. Tính cưỡng chế là một tính chất cơ bản của
pháp luật. Tính cưỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức và các phong
tục tập quán. V.I. Lênin đã chỉ ra rằng: “Pháp luật sẽ không còn là gì nữa nếu
không có bộ máy có khả năng bắt buộc mọi người phải tuân theo những quy
phạm của nó”. Sự cưỡng chế này được thực hiện trên cơ sở pháp luật, trong
khuôn khổ pháp luật, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành.

8

- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Là sự thể hiện nội dung
pháp luật trong những hình thức nhất định. Nội dung của pháp luật phải được

- Chức năng bảo vệ: Pháp luật đảm bảo cho các quan hệ xã hội đã được
xác lập trong sự quản lý của Nhà nước không bị xâm hại bất luận từ hướng
nào. Để ngăn chặn và xử lý người vi phạm pháp luật, Nhà nước ban hành
những các quy phạm pháp luật có chế tài, quy định về hành vi vi phạm, các
loại hình phạt, mức độ xử phạt, trật tự xét và quyết định, biện pháp xử phạt và
thi hành các quyết định xử phạt. Pháp luật quy định chức năng thẩm quyền
cho các cơ quan thực hiện ngăn chặn và xử phạt.
- Chức năng giáo dục: Pháp luật được thể hiện thông qua sự tác động
pháp luật vào ý thức của con người, hình thành ở con người những tư tưởng
tình cảm tốt đẹp. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đề cao chức năng
này.
Ở nước ta vai trò của pháp luật được ghi nhận ở Điều 12, Hiến pháp
năm 1992 là: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Pháp luật và pháp chế là hai khái niệm không đồng nghĩa với nhau,
nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
không có pháp luật sẽ không có pháp chế và ngược lại không có pháp chế thì
pháp luật cũng chẳng có nghĩa gì. Pháp chế đòi hỏi chủ thể pháp luật phải triệt
để, tuân theo chấp hành thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật. Pháp luật chỉ
điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội dựa trên cơ sở có pháp chế vững
chắc. Ngược lại, pháp chế chỉ được củng cố và tăng cường khi có một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh phù hợp với cơ sở kinh tế và xã hội.
Thực tiễn họat động xã hội, ý thức xã hội luôn tác động đến quá trình
hình thành văn bản pháp luật và thực hiện pháp luật.
1.1.2. Vai trò của đạo đức đối với đời sống xã hội

10

Để tồn tại và phát triển, con người ngay từ thời nguyên thủy đã có quan
hệ gắn bó chặt chẽ với nhau trong tổ chức bầy đàn, thị tộc, bộ lạc… Họ sống

bởi niềm tin các nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [34,
tr.19].
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội mà
nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi, hành động của mình sao cho
phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và tiến bộ chung của xã hội, trong mối quan hệ
giữ con người với con người, giữa cá nhân với xã hội.
Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác
trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng
xã hội, với tự nhiên và cả với bản thân mình [4, tr.6].
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản
ánh những quan hệ xã hội hiện thực trên cơ sở kinh tế. Sự phát triển của đạo
đức xã hội từ thấp đến cao như những nấc thang giá trị về sự văn minh của
con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất vật chất và thông qua đấu
tranh, gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngày càng tiến bộ, phong phú và
hoàn thiện hơn.
Đạo đức là toàn bộ những quy tắc chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh
giá cách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội. Chúng được thể
hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Đạo đức không chỉ là quan hệ xã hội mà còn là lòng tự trọng, sự tự ý thức về
danh dự, nhân phẩm của mỗi con người, ý thức đạo đức là cơ sở hình thành
các quy tắc xử sự của con người trong xã hội, ở đó những giá trị chuẩn mực
đạo đức được hình thành và chi phối hành vi ứng xử của con người.
Khi đề cập đến vấn đề đạo đức, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về
nguồn gốc và bản chất của nó. Tiêu biểu là:

12

Chủ nghĩa duy tâm thần học và tôn giáo cho rằng: Nguồn gốc của đạo
đức là từ tôn giáo, hay nói cách khác là tôn giáo sinh ra đạo đức. Vì vậy, bản
chất của đạo đức là bản chất tôn giáo. Từ quan điểm này đi đến khẳng định từ

Tuy nhiên, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, cũng như nhiều hình
thái ý thức xã hội khác, đều có tính độc lập tương đối. Có thể có những yếu tố
đạo đức phát triển sớm hơn hoặc tồn tại lâu bền hơn khi phương thức sản
xuất, những điều kiện vật chất xã hội đã thay đổi. Tính độc lập tương đối của
đạo đức còn thể hiện ở chỗ, đạo đức là một hệ thống các giá trị bao gồm các
giá trị đạo đức mới hình thành để đáp ứng nhu cầu khách quan của đời sống
xã hội hiện thời. Đối với các đạo đức mới hình thành xuất phát từ nhu cầu tiến
bộ xã hội thì có giá trị tích cực… Ngược lại, các hiện tượng đạo đức hình
thành từ nhu cầu xã hội không lành mạnh, phản động thì những hiện tượng
đạo đức ấy mang tính tiêu cực, phản động… Như vậy, đạo đức luôn mang
tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc, với bản chất và đặc trưng đó đạo
đức có vai trò và chức năng quan trọng trong đời sống xã hội.
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp có địa vị, vai trò,
lợi ích khác nhau và đối kháng nhau. Ý thức đạo đức giúp mỗi giai cấp hiểu
được lợi ích của mình, hiểu được những cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng
định lợi ích giai cấp. Ở xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị luôn luôn tìm mọi
cách làm cho đạo đức của mình trở thành yếu tố thống trị trong đời sống xã
hội. Do đó, đồng nghĩa với việc đạo đức của giai cấp bị trị luôn luôn phải chịu
sự thống trị của giai cấp khác mà trở nên kém phát triển. Đạo đức còn mang
tính nhân loại, nó được biểu hiện ở những quy tắc đơn giản và hết sức thông
thường nhưng lại cần thiết để đảm bảo trật tự cho cuộc sống thường nhật của
con người. Biểu hiện cao hơn trong tính nhân loại của đạo đức ở những giá trị
đạo đức tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại.
Những giá trị đạo đức phổ biến như: Sự công bằng, tính trung thực, tôn trọng,
lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, khiêm tốn… là những giá trị mà ở xã hội
nào, thời đại nào cũng có, cũng rất cần thiết. Song, do bối cảnh lịch sử khác

14

nhau, do lý tưởng đạo đức khác nhau, sẽ đưa đến những cách hiểu khác nhau

Để sống và hoạt động cho sự tiến bộ bản thân và xã hội xứng đáng với
trách nhiệm và nghĩa vụ, mỗi con người đều cần phải có những phẩm chất,
năng lực đạo đức. Vì vậy, thời đại nào cũng cần có nhu cầu tri thức nhất định
về đạo đức để làm nền tảng cho cuộc sống.
- Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của đạo đức góp phần rất to
lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Con người là sản
phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử. Chỉ có thông qua một quá
trình giáo dục những phẩm chất đạo đức của con người, những nhân cách tốt
đẹp của con người mới được dần dần hình thành con người mới, đủ tư chất tốt
đẹp để xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.
Cùng với quá trình giáo dục thì quá trình tự giáo dục giúp con người
càng hiểu rõ vai trò to lớn của lương tâm, nghĩa vụ, ý thức danh dự và các
phẩm chất đạo đức cần thiết của cá nhân đối với những người khác trong cộng
đồng xã hội. Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi trên cơ sở
những chuẩn mực đạo đức xã hội. Chỉ có thông qua một quá trình giáo dục
những phẩm chất đạo đức của con người, những nhân cách tốt đẹp của con
người mới được dần dần hình thành. Điều đó hun đúc cho họ tình cảm nhân
đạo, tình yêu thương giữa con người với con người, với cộng đồng xã hội, xác
định đúng trách nhiệm cá nhân trước cuộc sống và xã hội. Chính nhờ chức
năng giáo dục mà những tấm gương đạo đức cao cả, đức hy sinh cho đất nước
của những anh hùng, lãnh tụ cách mạng có sức lôi cuốn, thuyết phục thế hệ
trẻ không ngừng học tập, rèn luyện, tu dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, vươn
tới và hành động theo cái “chân - thiện - mỹ” vì con người, vì sự tiến bộ xã
hội.
Đặc biệt, giáo dục đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa tạo ra khả năng
quan trọng trong việc hình thành con người mới, có đủ tư cách tốt đẹp để xây
dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Ở đây tính tích cực trong mỗi con người
được nhân lên càng làm cho họ hiểu rõ vai trò to lớn của những giá trị đạo

16

17

- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức là một phương thức để điều
chỉnh hành vi, sự điều chỉnh đó làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và
phát triển để đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và xã hội.Pháp luật và
đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhưng sự
điều chỉnh hành vi của mỗi hệ thống lại khác nhau ở mức độ và phương thức
điều chỉnh.
Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị nên nó buộc mọi người phải
tuân theo. Những chuẩn mực của pháp luật được thực hiện bằng sự ngăn cấm
và cưỡng bức.
Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa các hành vi cá nhân. Phương
thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Nhưng chuẩn mực đạo
đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.
Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi. Trong đó
có chính trị, pháp quyền và đạo đức Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các
giai cấp, các dân tộc, các quốc gia bằng biện pháp đặc trưng như ngoại giao,
kinh tế, hành chính, bạo lực… Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức
bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa hành vi con
người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý
thức khác, hiện tượng xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế cuả
đạo đức.
Trên cơ sở ý thức được những quan điểm đúng đắn của đạo đức tiến bộ,
ý thức đầy đủ vai trò của đạo đức, các chủ thể sẽ tự hướng hành vi hoạt động
cuả mình vào những nội dung được xã hội chấp nhận, tránh những hành vi
đạo đức mà dư luận xã hội lên án để hành động vì lợi ích chung của cộng
đồng, trong đó có lợi ích cá nhân…
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện bằng hai
hình thức chủ yếu: xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi, khuyến khích
cái thiện, phê phán lên án mạnh mẽ cái ác.

gắn liền với nhau trong đời sống đạo đức.

19

Những tri thức đạo đức và những phẩm chất đạo đức tiến bộ không
phải tự nhiên mà có, mà phải thông qua quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn
luyện trong lao động và đấu tranh bền bỉ hàng ngày, như Bác Hồ kính yêu của
chúng ta đã dạy rằng: “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng
trong”.
Với các chức năng trên, đạo đức có vai trò to lớn trong đời sống xã hội.
Các lợi ích trong xã hội thường không giống nhau, thậm chí còn mâu thuẫn
với nhau. Xã hội ổn định hay xung đột tùy thuộc vào mối quan hệ giữa các lợi
ích của các lực lượng xã hội. Khi các lợi ích có sự nhất trí tương đối thì xã hội
ổn định, phát triển; khi các lợi ích của các lực lượng xã hội trái ngược nhau,
xâm phạm lẫn nhau, loại trừ nhau thì xã hội mất ổn định, trì trệ. Chính ở đây,
các chuẩn mực đạo đức sẽ giúp cho các chủ thể điều chỉnh hành vi của mình
theo những quy tắc xử sự đảm bảo cho sự cân bằng tương đối, không phá vỡ
xã hội. Tuy nhiên, khi mâu thuẫn giữa các lực lượng xã hội phát triển thành
xung đột đối kháng không thể điều chỉnh, thì chính những giá trị đạo đức tiến
bộ sẽ cổ động, động viên đông đảo lực lượng xã hội đấu tranh phá bỏ chế độ
cũ, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn. Do vai trò của đạo đức với tính cách là
những giá trị phổ biến và tương đối bền vững so với sự vận động của tồn tại
xã hội, nên giai cấp thống trị luôn phải dựa vào đạo đức để duy trì địa vị địa
vị của mình một cách “hợp lẽ”. Ngược lại, giai cấp bị trị cũng bắt đầu cuộc
đấu tranh cải tạo xã hội của mình xuất phát từ những tình cảm đạo đức. Đạo
đức là “cái tâm” cho mọi cuộc đấu tranh thúc đẩy xã hội tiến bộ.
Khi cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới thành công, giai cấp
vô sản bắt tay vào xây dựng cho mình một chế độ xã hội mới do nhân dân lao
động làm chủ, thực thi quyền lực và lợi ích của nhân dân lao động. Khi đó,
giai cấp vô sản cũng tiến hành xây dựng cho mình một nền đạo đức mới cho

cao quý của con người, được biểu hiện bằng tinh thần trách nhiệm, thái độ tôn
trọng lẫn nhau tạo điều kiện cho cá nhân phát triển vì lợi ích xã hội. Đây cũng

Trích đoạn Sự nghiệp đổi mới và yêu cầu giáo dục đạo đức mới cho sinh viên hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status