Hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên các trường đại học ở hà nội hiện nay - Pdf 38

BẢNG QUY ĐỊNH VIẾT TẮT
Cán bộ nhân viên

:

CBNV

Chủ nghĩa xã hội

:

CNXH

Giảng viên

:

GV

Giáo dục văn hóa học đường

:

GDVHHĐ

Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường

:

HQGDVHHĐ


tri thưc, và toàn cầu hóa, thì vai trò đó càng rõ nét. Do đó, đào luyện lực lượng
sinh viên phát triển toàn diện cả đức, trí, thể mỹ chính là vun bồi một nguồn lực
quý báu của đất nước, là kiến tạo tiền đồ, tương lai của dân tộc. Đảng và Nhà
nước luôn quan tâm đến nhiệm vụ này, đã có 2 nghị quyết chuyên đề chỉ đạo
trong một nhiệm kỳ. Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI ( Nghị quyết số

29-NQ/TW) “Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập”; Nghị quyết hội nghị trung ương 9 khóa XI ( Nghị

quyết số 33-NQ/TW) “Về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định những nội dung và

giải pháp xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của giai đoạn
phát triển mới. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trụ cột của công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, mà trách nhiệm đó trước hết thuộc về ngành
giáo dục, nhất là giáo dục bậc đại học. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, một trong


2

những biện pháp quan trọng là xây dựng trường đại học tật sự trở thành môi
trường văn hóa và làm những giá trị, chuẩn mực hành vi văn hóa đó thấm sâu và
chuyển hóa thành những phẩm chất và năng lực tốt đẹp trong sinh viên, định
hình nên nhân cách sinh viên phù hợp với mục tiêu giáo dục và đào tạo và đáp
ứng được yêu cầu của xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa,
con người Việt Nam theo Nghị quyết của Đảng.
Trên thực tế ở các trường đại học hiện nay, phần lớn sinh viên vẫn giữ
được những giá trị, nét đẹp văn hóa truyền thống như: tôn sư trọng đạo, tích cực,
chủ động, sáng tạo trong học tập; nêu cao ý thức trách nhiệm, rèn luyện phẩm

chất lượng đào tạo
Nhận thức được việc nâng cao hiệu quả giáo dục văn học đường trong
trường đại học là điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo và nâng
cao chất lượng đào tạo để đào tạo ra những sinh viên có đủ đức, đủ tài đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế . Do vấn
đề nghiên cứu giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên đại học ở Hà Nội, đối
tượng quá rộng với gần 50 trường đào tạo các khối ngành khác nhau, lịch sử
hình thành và phát triển khác nhau, sứ mệnh cũng như đối tượng tuyển sinh khác
nhau, vì vậy rất khó thực hiện nhiệm vụ của đề tài, nhất là khi đề xuất các giải
pháp giải quyết những vấn đề đặt ra. Hơn nữa xuất phát từ thực tế công tác hiện
tại nên tác giả chọn: Hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên các
trường đại học ở Hà Nội hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học đào tạo
các ngành kỹ thuật) làm đề tài luận án tiến sĩ của mình. Kết quả nghiên cứu
thành công có thể ứng dụng ở nhiều trường đại học đào tạo các khối ngành khác
nhau. Đồng thời cũng sẽ góp thêm một căn cứ lý luận và thực tiễn vào hệ thống
những giải pháp thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo thành
công
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả giáo dục văn hóa
học đường cho sinh viên, xây dựng những tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo dục
văn hóa học đường và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục văn
hóa học đường cho sinh viên các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà


4

Nội hiện nay. Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng cho các trường đào tạo bậc đại
học khác ở Hà Nội hiện nay
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về phát triển văn hóa, con người trong điều kiện hiện nay, uật Giáo
dục đại học (2012).
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa
học: phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử; phương pháp so sánh;
các phương pháp những bộ môn liên quan như Văn hóa học, Quản lý văn hóa
- Tư tưởng, Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học như: khảo sát, phỏng
vấn sâu…
5. Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa các tri thức về văn hóa học đường, chỉ ra rõ hơn vai trò và
nội dung của văn hóa học đường.
- Nhận diện những giá trị cốt lõi của văn hóa học đường trong trường đại
học so sánh với thực tiễn từ đó có các kết luận làm sơ sở để xây dựng phương
hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh
viên.
- Rút ra những bài học có tính lý luận về giáo dục văn hóa học đường cho
sinh viên đại học
- Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học
đường cho sinh viên trong các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà
Nội hiện nay. Những giải pháp đó có thể mở rộng sử dụng cho các trường đại
học khác


6

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của văn học đường cũng như sự

với sự phát triển của lịch sử nhân loại, nhận thức của con người về văn hóa,
khái niệm văn hóa cũng không ngừng thay đổi và luôn được bổ sung những
nội dung mới, những cách nhìn mới.
Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại giành được sự quan tâm như hiện nay cả
về phương diện lý luận và thực tiễn. Điều này càng chứng tỏ vai trò quan
trọng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội. Khái niệm “văn hóa”
(Cultura) có nguồn gốc từ phương Tây, theo tiếng Latinh có nghĩa là: cày,
cấy, vun trồng, làm ruộng, chăm bón, cải thiện, gìn giữ trong sản xuất nông
nghiệp. Xét theo nguồn gốc thuật ngữ, văn hóa là khái niệm gắn với lao động
sản xuất, một hoạt động sáng tạo mang bản chất người nhất. Về sau thuật ngữ
văn hóa được bổ sung thêm những nghĩa mới trừu tượng hơn, nói về tính có
học vấn, tính có giáo dục, sự mở mang trí tuệ của con người. Trước công
nguyên (khoảng năm 45) trong các cuộc hội đàm giữa Xixêrông (nhà triết học


8

La Mã cổ đại) và TuxcunLan đã nói đến triết học như là “văn hóa trí tuệ”.
Xixêrông khẳng định cần phải rèn luyện vun xới trí tuệ như vun xới đất đai.
Khi dùng động từ “vun xới” này, có thể ông đã nhìn thấy nội dung cơ bản của
văn hóa là sự phát triển năng lực người, là hoạt động tinh thần của con người.
Với hai nghĩa chủ yếu đó, thuật ngữ “văn hóa” đã đi vào hầu hết các ngôn
ngữ châu Âu.
Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đã đi tìm nội dung tích cực và bổ
sung những nhận thức mới mẻ về văn hóa. Thời kỳ này được xem như thời kỳ
phát hiện lại con người. Bởi vậy, “văn hóa” được nhìn nhận như lĩnh vực tồn
tại chân chính của con người, lĩnh vực “tính người” thật sự đối lập với lĩnh
vực “tính tự nhiên”, “tính động vật”. Văn hóa được xem như sự phát triển
của con người phù hợp với bản chất của nó.
Từ nguyên nghĩa của văn là xăm thân, và nghĩa gốc của văn hóa là nét

F.Gonzles quan niệm văn hóa bao gồm các giá trị, quan niệm, thái độ,
hành vi và các mối quan hệ tạo nên ý nghĩa, niềm tin và sự thống nhất của
một nhóm người [145]
Tiếp cận văn hóa dưới góc độ tổ chức Ehlers (2009) tổng hợp các tác
giả và cách tiếp cận văn hóa
Tác giả

Cách tiếp cận

Các yếu tố văn
hóa

Gerent
Hofstede (1991)

Văn hóa là quy ước về tinh
Biểu hiện, hình mẫu,
thần hôc chợ mọi người thực lễ nghi, giá trị
hiện thuận lợi các hoạt động
thông qua biểu hiện, nhân
cách, lễ nghi và giá trị

Edgar
Schein (1992)

Văn hóa là một lại qua
Giá trị, sự việc
ướccơ bản do một nhóm hữu hình, quy ước
người đưa ra để giỉa quyết
các vấn đề thích ứng với bên

người mà họ không nhận
thấy rõ

Bảng 1. Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [144, Tr.343-363]
Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm xuất phát từ lý thuyết hệ thống,
trình bày mô hình văn hóa gồm ba thành tố cơ bản:
Văn hóa nhận thức: Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng
người nhất định - một chủ thể văn hóa. Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng
đồng người - chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu, tích lũy được một
lượng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân con người - đó
chính là văn hóa nhận thức.
Văn hóa tổ chức: Là những giá trị văn hóa tổ chức của cộng đồng như văn
hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức sản xuất trong
một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, đô thị, quốc gia) và văn hóa tổ
chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống của mỗi con người
như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật...)
Văn hóa ứng xử (đối với tự nhiên và đối với xã hội): Cộng đồng người chủ thể văn hóa - tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường - môi trường tự
nhiên (thiên nhiên, khí hậu...v.v) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội,


11

dân tộc, quốc gia). Do đó có văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa
ứng xử với môi trường xã hội [114, Tr.28-29].
Vấn đề văn hóa hiện nay nhận được sự quan tâm cả về phương diện lý luận
và thực tiễn, điều đó nói lên tính phong phú, đa diện trong cách tiếp cận khái
niệm này. Khái niệm về văn hóa hiện nay được nhiều người sử dụng là do Tổng
giám đốc UNESCO Federico Mayor khái quát. Ông cho rằng: “Văn hóa là tổng
số sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ,
hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống

sống hiện thực của con người, tạo nên một đời sống ảo và qua “ảo” để hiểu hiện
thực sâu sắc hơn.
Cũng có thể xem xét văn hóa với cấu trúc gồm văn hóa sinh hoạt vật chất,
văn hóa sinh hoạt tinh thần. Hoặc xem xét dưới góc độ văn hóa sản xuất, văn hóa
tiêu dùng. Văn hóa nếu tiếp cận từ những lĩnh vực cụ thể, sẽ có văn hóa doanh
nghiệp, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật, văn hóa công sở,
văn hóa trang phục, văn hóa học đường, văn hóa giao thông,… Dù được diễn đạt
theo cách nào nó đều có nội dung chung: văn hóa là sự phát triển những năng lực
bản chất của con người hướng tới các giá trị nhân văn. Mỗi một hình thức cộng
đồng người, cộng đồng xã hội có một mô thức văn hóa riêng. Trường đại học là
một thiết chế xã hội, vì vậy việc hình thành văn hóa riêng để góp phần thực hiện
mục tiêu đào tạo, sứ mệnh của mình là một tất yếu khách quan.
Văn hoá là lĩnh vực được quan tâm trong các kỳ đại hội của Đảng cộng sản
Việt Nam, và đặc biệt được nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung Ương 5 khoá
VIII, nghị quyết về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bàn sắc dân
tộc: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [29, Tr 55], tập trung vào những lĩnh vực
lớn: tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục, khoa học, văn học
nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với thế giới, các thể chế và
thiết chế văn hóa. Nghị quyết này cũng nhìn nhận: “Văn hóa Việt Nam là thành
quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ
nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh
hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa
Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ
lịch sử vẻ vang của dân tộc”.[29, Tr 40].


13

Sau hơn 15 năm, từ năm 1998 đến năm 2014, nhận thức về văn hóa và vai


14

Từ góc nhìn giá trị học, tác giả Đỗ Huy trong “Xây dựng môi trường văn
hóa ở nước ta hiện nay - Từ góc nhìn giá trị học” nhấn mạnh vai trò của con
người khi đưa ra định nghĩa: “Môi trường văn hóa chính là sự vận động của các
quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và
hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình” [64, Tr. 35]
Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 129 ngày 2/8/2007 về Quy chế
văn hóa công sở tại các cơ quan nhà nước, Nó cũng có thể được xem như là căn
cứ xây dựng và thực hiện VHHĐ như một loại hình văn hoá cộng đồng cần được
đặc biệt quan tâm.
Thuật ngữ VHHĐ hay văn hóa trường học bắt đầu xuất hiện tại các nước
nói tiếng Anh vào những năm 1990. Một số nước như Mỹ, Úc đã có trung tâm
nghiên cứu, khảo sát thực tiễn và đánh giá vấn đề này. Từ điển Tiếng Anh định
nghĩa văn hóa trường học : school culture can be defined as the guiding beliefs and
values evident in the way a school operates (Văn hóa trường học học có thể được
định nghĩa là niềm tin hướng dẫn do những giá trị rõ ràng trong cách một trường
hoạt động) hay “school culture” can be used to encompass all the attitudes,
expected behavior and values that impact how the school operates (Văn hóa trường
học có thể được sử dụng bao gồm tất cả những thái độ, hành vi mong đợi và những
giá trị tác động đến cách hoạt động của trường). Dù có nhiều ý kiến khác nhau
nhưng đều thống nhất mỗi trường học ngoài là tấm gương phản chiếu những giá trị
văn hóa, sự phát triển chung của cộng đồng đều có những nét văn hóa riêng độc đáo
tác động đến hoạt động của nhà trường .
Nhiên cứu của GS Peter Smith Đại học Sunderlans cho thấy VHHĐ ảnh
hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của một nhà
trường. các lý do cần phải nuôi dưỡng vun trồng VHHĐ tích cực, lành mạnh có
thể tóm tắt như sau:
-Sự phát triển của học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hóa

gồm 3 thành tố có sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau là:
- Hệ thống thái độ và niềm tin của những cá nhân trong và ngoài trường.
- Hệ thống các chuẩn mực văn hoá của nhà trường.
- Hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, thành viên bên trong
trường với nhau, giữa các cá nhân của trường với cộng đồng
Trên mục “Bàn tròn văn hóa”, báo Lao động số 117 ra ngày 26 tháng 5 năm
2008, các tác giả khẳng định “Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩa quyết


16

định chất lượng đào tạo của các trường đại học”, VHHĐ được nhìn nhận trên 2
khía cạnh là khung cảnh sư phạm bao gồm vị trí xây dựng trường học, cơ sở vật
chất… và môi trường sư phạm với nội hàm phong cách giao tiếp trong nhà
trường giữa thầy với trò, thầy với thầy, trò với trò.
Trên tạp chí Tuyên giáo tháng 11-2009, Nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc
cho rằng VHHĐ Việt Nam cần đảm bảo 3 yếu tố: cơ sở vật chất đảm bảo, môi
trường giáo dục tốt và văn hóa ứng xử, giao tiếp chuẩn mực (TC Tuyên giáo,
tháng 11 năm 2009, Tr.41). PGS.TS Phạm Ngọc Trung sau khi khảo cứu các
quan niệm đã được xã hội hóa và đúc rút qua thực tiễn giảng dạy, định nghĩa:
“Văn hoá học đường là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình
thành và tích luỹ trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm thói quen,
tập quán, tư tưởng, luật pháp... nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thầy, trò và các
thành viên có liên quan để việc dạy và học đạt kết quả cao” [123,Tr 51].
Phạm Văn Khanh qua niệm trường học là một tổ chức vì vậy xem văn hóa
học đường là văn hóa tổ chức - một tổ chức sau khi được hình thành, tồn tại và
phát triển thì tự khắc nó sẽ dần dần hình thành nên những nề nếp, chuẩn mực, lễ
nghi, niềm tin và giá trị. Đó là sợi dây vô hình gắn kết các thành viên trong tổ chức
lại với nhau cùng phấn đấu cho những giá trị chung của tổ chức. Đó là nghi lễ, đồng
phục, không khí học tập trật tự, sinh hoạt nề nếp, đi học đúng giờ, tôn trọng luật

quản lý... bầu không khí tâm lý. Thứ ba, nó thể hiện thành hệ thống các chuẩn mực,
các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử... được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong
nhà trường chấp nhận. Thứ tư, VHHĐ có vai trò quan trọng góp phần nâng câo chất
lượng đào tạo của nhà trường, góp phần tích cực trong quá trình hoàn thiện , phát
triển nhân cách con người theo hướng Chân, Thiện, Mỹ
Nghiên cứu khái niệm VHHĐ còn có các quan niệm môi trường văn hóa học
đường, môi trường sư phạm....
Hồ Sĩ Lộc trong “Xây dựng văn hóa học đường trong một số trường đại
học ở Hà Nội hiện nay ” (Đề tài cấp bộ 2011, mã số B.11-20) quan niệm: Môi
trường văn hóa học đường đại học là tổng hòa các mối quan hệ (mang tính văn
hóa) giữa các cá nhân (giảng viên, sinh viên, cán bộ, công nhân viên) và các tổ
chức thành viên (khoa, phòng, ban, viện, trung tâm, lớp học) trong nhà trường
trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần trong một thời gian xác định thuộc
phạm vi không gian trường đại học đó nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo được
những cá nhân có trình độ chuyên môn vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp,


18

khỏe mạnh về thể chất và phong phú về đời sống tinh thần đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của thị trường lao động và tham gia đóng góp vào sự nghiệp đổi mới
đất nước
Liên quan đến việc xây dựng văn hóa học đường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và đào tạo đã ra chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” trong các trường phổ thông
giai đoạn 2008-2013. Bộ Giáo dục và Đào tạo có Kế hoạch số 307/KHBGD&ĐT ngày 22/07/2008 nhằm triển khai chỉ thị nói trên. Đây là nội dung văn
hóa học đường trong các trường phổ thông, song nó sẽ là cơ sở quan trọng để
tiếp cận nội dung VHHĐ trong hệ thống giáo dục nói chung và các trường đại
học nói riêng. Nội dung cụ thể của phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện - học sinh tích cực” gồm:

Tác giả Trương Lưu trong tác phẩm “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội”,
[85] cho rằng: thông qua VHHĐ, sinh viên và thầy giáo nhận ra điểm mạnh và
điểm yếu của chính mình từ đó định hướng và hoàn thiện nhân cách, kỹ năng
cho phù hợp với yêu cầu của xã hội. Phạm Minh Hạc và Hồ Sĩ Quý trong bài
viết “Nghiên cứu con người, đối tượng và những hướng chủ yếu”, Niên giám
nghiên cứu số 1 (Nxb. Khoa học xã hội, 2002) cũng cho rằng: xây dựng VHHĐ
tạo điều kiện để đưa tiêu chí chân, thiện, mỹ vào trong trường đại học.
Kinh nghiệm Singapore là một nước có nền giáo dục được xem là toàn diện
và phát triển nhất Đông Nam Á. VHHĐ (văn hóa trường học) ở Singapore được
chú trọng xây dựng. Mỗi trường đều có logo, biểu tượng và khẩu hiệu hành động rõ
ràng. Các vấn đề về nghi thức, trang phục cũng được quan tâm. Vấn đề hợp tác, xây
dựng nhà trường thành tổ chức học tập là một trong những điểm cốt lõi trong định
hình VHHĐ ở quốc gia này. Bên cạnh trang bị cho học sinh các kiến thức và kỹ
năng cần thiết trong chương trình chính khoá, các trường học của Singapore cũng
có rất nhiều hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá lành mạnh và bổ ích, qua đó
xây dựng tinh thần đoàn kết, hợp tác, thân thiện giữa các học sinh.
Theo BBC, thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan dường như là một
phần là do yếu tố văn hóa. Các học sinh được học trong một không khí thoải mái và
thân mật. Sự thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan được xây dựng trên ý
tưởng học ít hiểu nhiều. Phần Lan tập trung vào các trường học cởi mở, không chịu
sự quy định về chính trị. Với sự kết hợp này, Phần Lan tin rằng không có trẻ em nào
bị bỏ lại phía sau.


20

Theo BBC, thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan dường như là một
phần là do yếu tố văn hóa. Các học sinh được học trong một không khí thoải mái và
thân mật. Sự thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan được xây dựng trên ý
tưởng học ít hiểu nhiều. Phần Lan tập trung vào tạo các trường học cởi mở, không


xưởng thực hành, không gian, cảnh quan.) đảm bảo tính thẩm mỹ, giáo dục, góp
phần tạo nên môi trường và phương tiện giáo dục tốt nhất; nội quy, quy chế của
nhà trường phù hợp với chuẩn mực văn hóa chung của xã hội, phù hợp với nội
quy, quy định của môi trường học đường đảm bảo cho các hoạt động trong
trường học diễn ra lành mạnh, đạt mục tiêu giáo dục là đào tạo những con người
toàn diện, có đủ đức, trí, mỹ, thể, có tri thức và có hoài bão khát vọng vươn lên.
Xây dựng VHHĐ và giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên là một công việc vô
cùng quan trọng góp phần tạo nên những thành công lớn trong sự nghiệp giáo
dục cho các trường đại học. Một số nhà khoa học tuy có đề cập đến xây dựng môi
trường VHHĐ ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung đó là những vấn đề
mang tính tổng hợp và lý luận, chưa có nhiều công trình thực sự đi sâu vào nghiên
cứu VHHĐ trong trường đại học. Theo đó tiêu chí xây dựng VHHĐ trong trường
đại học tuy có được gợi mở nhưng lại chưa được xem xét một cách toàn diện với tư
cách là một đối tượng nghiên cứu của công trình khoa học.
1.1.2. Những nghiên cứu về giáo dục và giáo dục văn hóa học đường
Giáo dục với tư cách là một ngành khoa học không thể tách rời những truyền
thống giáo dục từng tồn tại trước đó. Trong xã hội, người đi trước, người có kiến
thức, kỹ năng giáo dục thế hệ tiếp theo, người chưa biết những kiến thức và kỹ
năng cần thiết. Sự phát triển văn hóa và sự tiến hóa của loài người, phụ thuộc
vào lề lối trao truyền tri thức này. Chiều sâu và độ rộng của kiến thức có thể
được bảo tồn và trao truyền gia tăng vượt bậc. Khi các nền văn hóa bắt đầu mở
rộng kiến thức vượt quá những kỹ năng cơ bản về giao tiếp, đổi chác, kiếm ăn,
thực hành tôn giáo, v.v..., việc giáo dục có tổ chức, theo chương trình, có mục
đích trở lên phổ biến. Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị
những kiến thức và kỹ năng cần thiết hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành
vi có lợi. Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và
người học cùng chia xẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau.
Về môi trường giáo dục, theo “Từ điển giáo dục học” ( Bùi Hiển, Nguyễn
Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Nxb Từ điển bách khoa, HN 2001,

- Hoàng Đức Nhuận, “Kết quả điều tra về vai trò của nhà trường trong việc
hình thành và phát triển con người Việt Nam” (Đề tài KX-08, Hà Nội, 1995)
- Nguyễn Thế Kiệt, “Quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc định
hướng các giá trị đạo đức hiện nay" (Tạp chí Triết học, số 6/1996);


23

- Hoàng Chí Bảo: "Văn hóa và sự phát triển nhân cách của thanh niên" (Tạp
chí Nghiên cứu lý luận số 1/1997)
- Lê Thị Thủy, "Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách của
con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay" (Luận án tiến sĩ Triết học,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000) với thông điệp giáo
dục nghề nghiệp phải gắn liền với giáo dục văn hóa, đạo đức lối sống và phải
được thể hiện ngay trong cấu trúc, chương trình đào tạo, trong từng môn học.
- Trần Sĩ Phán, Giáo dục đạo đức đối với việc hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (Luận án tiến sĩ Triết học, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999), v.v…
Các công trình kể trên đã đề cập nhiều đến việc giáo dục văn hóa nói
chung, văn hóa dân tộc với các khía cạnh: quá trình hình thành và phát triển; vai
trò, tác dụng của nó trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong công
cuộc xây dựng đất nước; những nội dung, khía cạnh cơ bản của văn hóa nói
chung và văn hóa dân tộc; những biểu hiện văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội.
Nghiên cứu về giáo dục văn hóa học đường là hướng đi của một số công
trình khoa học. Xác định tầm quan trọng của GDVHHĐ và sự cần thiết phải xây
dựng VHHĐ, các nhà khoa học đã nghiên cứu nội dung cơ bản của VHHĐ và
thực trạng giáo dục VHHĐ trong các trường đại học Việt Nam.
- Trong chuyên khảo Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn
hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất

Văn hóa ứng xử trong VHHĐ là nội dung nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà khoa học :
- Nguyễn Thanh Tuấn trong sách Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay (Nxb.
Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa. HN, 2008) [120] cho rằng khái niệm lối
sống hay văn hóa lối sống tương đương với văn hóa ứng xử. Lối sống là cách
ứng xử của con người với môi trường sống, gồm môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội.
- Nguyễn Tiến Thông trong chuyên luận Một số vấn đề giao tiếp [117] cho
rằng văn hóa ứng xử là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của con
người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với
các điều kiện một hình thái xã hội nhất định.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status