ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
QUÁCH THỊ VINH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG
CAO ĐẲNG Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG
VÀ TẤM GƢƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN ĐÌNH THẢO
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TƢ TƢỞNG VÀ TẤM GƢƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 9
1.1. Lý luận chung về đạo đức 9
1.1.1. Khái niệm đạo đức 9
1.1.2. Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội 10
1.2. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng 14
1.2.1. Đạo đức mới (đạo đức cộng sản) 14
1.2.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 15
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cơ bản của
con người Việt Nam trong thời đại mới 16
1.2.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới 22
1.3. Hồ Chí Minh - tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng 26
1.3.1. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh
Phòng hiện nay 44
2.2.2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường
cao đẳng ở Hải Phòng hiện nay theo tư tưởng và tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh 61
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh
viên các trường cao đẳng ở Hải Phòng hiện nay theo tư tưởng
và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 67
2.3.1. Đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên
theo những chuẩn mực đạo đức mới của Hồ Chí Minh 67
2.3.2. Phát triển đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ,
vững vàng về phẩm chất chính trị, có đạo đức, lối sống lành
mạnh, là tấm gương sáng cho sinh viên noi theo 72
2.3.3. Tạo lập môi trường học đường lành mạnh để giáo dục sinh viên,
kiên quyết đấu tranh đẩy lui, loại bỏ các hiện tượng tiêu cực và
các tệ nạn xã hội trong nhà trường 75
2.3.4. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong việc
giáo dục đạo đức cho sinh viên 77
2.3.5. Xây dựng tổ chức Đoàn, Hội thực sự vững mạnh, nâng cao chất
lượng hoạt động của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên trong công
tác giáo dục giá trị đạo đức cho sinh viên bằng các hình thức
sinh hoạt mang ý nghĩa chính trị - xã hội - thực tiễn 79
2.3.6. Nhà trường phải tích cực tiến hành các giải pháp hỗ trợ việc làm
cho sinh viên 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Hồ Chí Minh là bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng”, cả cuộc đời và sự
nghiệp của người là một tấm gương sáng về đạo đức để toàn Đảng, toàn dân
ta noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác
phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề
quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Việc nghiên
cứu, giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho nhân dân nói chung và cho sinh viên
nói riêng, không chỉ cần thiết về mặt lý luận, mà còn nhằm làm cho mọi
người hiểu và tiếp thu tư tưởng đạo đức của Người. Trên cơ sở đó, noi theo
tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh, phấn đấu vươn lên, hoàn thiện bản thân
mình, góp phần vào sự phát triển của đất nước.
Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tích cực chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, đưa nước ta phát triển vững chắc theo định
2
hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
công cuộc đổi mới ở nước ta trong 26 năm qua đã đạt được những thành tựu
hết sức to lớn và toàn diện. Đây là một quá trình chứa đựng những vận hội,
thời cơ mới và những khó khăn, thách thức mới. Các nguy cơ đan xen nhau
cùng tác động đã gây ra những tiêu cực, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, thanh niên, sinh
viên. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thanh niên, sinh viên là “mùa xuân” của
đất nước, “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước
nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [39,
tr.185]. Người căn dặn trong di chúc “Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi
dưỡng họ thành những người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa
chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan
trọng và rất cần thiết” [46, tr.510]. Đảng ta đã kế thừa, vận dụng sáng tạo tư
tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định “Thanh niên là rường cột của nước nhà,
chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và
trạng đạo đức của sinh viên và tầm quan trọng của việc đấu tranh khắc phục
sự suy thoái về đạo đức, lối sống của sinh viên trong xã hội, tôi quyết định
chọn đề tài “Giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường cao đẳng ở Hải
Phòng hiện nay theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” làm đề
tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ngày 07 tháng 11 năm 2006 Bộ Chính trị (khoá X) đã ban hành Chỉ thị
số 06-CT/TW về phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”, nhằm “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu
sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu
dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong
4
toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn
viên, thanh niên, học sinh; nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X
của Đảng” [5]. Sau hơn 5 năm thực hiện, với sự chỉ đạo thường xuyên, chặt
chẽ của các cấp ủy và tổ chức đảng; sự tham gia tích cực của cán bộ, đảng
viên và nhân dân, cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần vào
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kết quả triển khai cuộc vận động đã
khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất
quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà
còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân
dân ta. Ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 03 - CT/TW về tiếp
tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
nhằm “phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc
thực hiện cuộc vận động trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của
tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999.
- Hoàng Anh: “Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học;
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001.
- Doãn Thị Chín: “Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
sinh viên Việt Nam hiện nay” (qua thực tế một số trường đại học, cao đẳng ở
thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004.
6
- Nguyễn Thế Kiệt: “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định
hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, Tạp chí Triết học số 6/1996.
- Tô Thị Nhung: “Vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Thanh
Hóa trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Hùng Oanh: “Phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên
quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay”; Luận án Tiến sĩ Triết
học, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2002.
- Hoàng Kim Oanh: “Vấn đề giáo dục y đức cho sinh viên ngành y ở
Thành phố Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007.
- Nguyễn Đình Quế: “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng
đạo đức mới cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000.
- Nguyễn Thái Sinh: “Vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên
đào tạo sĩ quan quân đội”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chinh trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003.
- Thái Duy Tuyên (chủ biên): “Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên
Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường”, Đề tài KX - 07, Hà Nội, 1994.
Nhìn chung, các công trình nói trên đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn đề
giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức cách mạng nói riêng cho thanh niên,
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Sinh viên đang học tập tại 3 trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hải
Phòng như: Cao đẳng Hàng hải I, Cao đẳng Y tế Hải Phòng, Cao đẳng Cộng
đồng Hải Phòng.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
8
Luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; đồng thời, kế thừa những thành tựu của một số công trình
nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến nội dung mà đề tài
luận văn đề cập.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp lịch sử và lôgíc,
phân tích tổng hợp; phương pháp điều tra xã hội học….để thực hiện mục đích
và nhiệm vụ đề tài đề ra.
6. Đóng góp và ý nghĩa của luận văn
6.1. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề
giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên các trường cao đẳng Hải Phòng
hiện nay.
- Đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Hải Phòng hiện nay.
6.2. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu để giáo dục đạo đức cho sinh
viên thông qua các buổi sinh hoạt chính trị, sinh hoạt đoàn, các hoạt động
ngoại khoá và lồng ghép giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh trong giảng dạy môn
Chính trị, các môn khoa học Mác-Lênin ở các trường cao đẳng, trung cấp
chuyên nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
7. Kết cấu của luận văn
lợi… giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, cộng đồng và toàn xã hội.
Đạo đức là một phạm trù lịch sử, kết quả của quá trình phát triển của xã
hội loài người. Đạo đức thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định bởi cơ
sở hạ tầng. Sự thay đổi hạ tầng kinh tế - xã hội làm thay đổi các chuẩn mực
đạo đức của xã hội. Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực, giá trị như: nhân đạo, dũng
10
cảm, vị tha… có ý nghĩa toàn nhân loại và tồn tại phổ biến trong các xã hội
khác. Do tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nên trong xã hội có giai cấp,
đạo đức mang tính giai cấp; chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị chiếm
vị trí chi phối đạo đức xã hội.
Do hành vi đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức, cho nên nền đạo đức
thường tỉ lệ thuận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân.
Nhưng không phải cứ có trình độ học vấn cao là có trình độ đạo đức cao và
ngược lại, bởi sự khác biệt giữa ý thức và hành vi đạo đức, giữa nhận thức và
hành động của mỗi người.
1.1.2. Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống của con người, là vấn đề
thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và
cộng đồng tồn tại, phát triển. Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng
là động lực để phát triển xã hội.
- Đạo đức, với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, là một bộ phận quan
trọng của nền tảng tinh thần của xã hội.
- Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, qua đó góp phần
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Như vậy, có thể nói: Nhân loại bao giờ cũng cần đến đạo đức vì đó là
những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của con
người. Ngày nay, khi khoa học - công nghệ càng phát triển kéo theo sự tiến bộ
của xã hội thì nhân loại càng cần đến đạo đức, bởi lẽ:
Thứ nhất: một trong những phương thức cơ bản điều chỉnh hành vi của
con người chính là đạo đức. Sự điều chỉnh đó hoàn toàn tự nguyện, tự giác,
phẩm giá, làm thức dậy trong con người những tình cảm tốt đẹp, những phẩm
chất cao quý, đó là lòng nhân ái, vị tha, tính trung thực, thẳng thắn… Đạo đức
như một động cơ có sức mạnh thôi thúc con người đấu tranh chống lại những
12
cái ác, cái xấu, giữ gìn và phát huy những cái tốt, cái thiện. Nói cách khác,
đạo đức luôn hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ.
Như vậy, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Xã hội loài người càng tiến lên thì vai trò của đạo đức cũng tăng lên, có thể
đạo đức sẽ nắm vai trò điều khiển xã hội, thay thế chức năng quản lý con
người bằng pháp luật. Khi xã hội phát triển đạt đến văn minh thì một số hình
thái ý thức xã hội sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát triển cùng với
xã hội loài người.
Tuy nhiên, cần thấy rằng sự tác động của đạo đức đến đời sống xã hội
có tính hai mặt. Nếu hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức
tiến bộ, phù hợp với đời sống xã hội, với xu thế vận động của xã hội thì nó sẽ
có tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển; nếu ngược lại, nó sẽ gây nên
những tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển xã hội. Vì vậy, trong quá trình
xây dựng xã hội mới, chúng ta phải biết kế thừa và phát triển những giá trị
đạo đức truyền thống phù hợp với xã hội ngày nay, loại bỏ những chuẩn mực
đạo đức cũ, không còn phù hợp. Đồng thời, xây dựng những chuẩn mực đạo
đức mới nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Vai trò của đạo đức còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ
bản của đạo đức:
- Chức năng nhận thức: Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo
đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội. Sự nhận
thức của đạo đức có đặc điểm: Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá
trị đạo đức và trong đa số trường hợp, quá trình đó có sự hòa quyện ý thức
đạo đức với hành động đạo đức. Nhận thức của đạo đức còn là quá trình vừa
hướng ngoại (hướng ra ngoài), và hướng nội (tự nhận thức - hướng vào chính
mình, chính chủ thể). Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống
14
người với người, quan niệm và hành vi đạo đức của người này có tác động
đến quan niệm và hành vi đạo đức của người khác và ngược lại.
1.2. Những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng
1.2.1. Đạo đức mới (đạo đức cộng sản)
Đạo đức là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, xuất hiện sớm nhất
trong sự phát triển của lịch sử. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, các chuẩn
mực và quy tắc này được củng cố trong các phong tục, tập quán khác nhau
của mỗi cộng đồng. Với sự ra đời của xã hội chiếm hữu nô lệ, ý thức đạo đức
được hình thành và phát triển với tính cách là một hình thái riêng của ý thức
xã hội. Cũng từ đây, trong lịch sử nhân loại đã xuất hiện nhiều học thuyết về
đạo đức, với nhiều quan niệm khác nhau; nhưng do hạn chế về lập trường giai
cấp và thế giới quan, các quan niệm trước Mác về đạo đức đều đi giải thích
một cách sai lầm về nguồn gốc, bản chất, vai trò cũng như quá trình hình
thành và phát triển của đạo đức trong lịch sử.
Trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực
hiện một cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức. Trên cơ sở thế giới quan
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá lại
toàn bộ những tư tưởng đạo đức đã có từ xưa đến nay, tổng kết và đưa ra
những luận điểm khoa học của mình về đạo đức. Hai ông đã chỉ ra sự tất yếu
xuất hiện của một kiểu đạo đức mới trong lịch sử - đạo đức cách mạng của
giai cấp công nhân.
Đạo đức mới - đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân hay còn gọi
là đạo đức cộng sản. Theo C.Mác, đạo đức cộng sản là một thứ đạo đức “thực
sự có tính người, đứng trên những đối lập giai cấp và trên mọi hồi ức về
những đối lập ấy” [27, tr.137].
Khác với các nền đạo đức trước đây, đạo đức cách mạng của giai cấp
công nhân là nền đạo đức tiêu biểu cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân
15
việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối chính sách
của Đảng, đặt lợi ích của đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi
ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng vì
dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc. Ra sức học tập
Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư
tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí của mình tiến bộ” [43,
tr.285].
1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về những phẩm chất đạo đức cơ bản
của con người Việt Nam trong thời đại mới
Quan điểm cho rằng đạo đức là gốc của người cách mạng đã được Hồ
Chí Minh khẳng định từ rất sớm. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người
đã nêu 23 luận điểm thuộc “tư cách của người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là
các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện trong 3 mối quan hệ: với mình, với người
và với việc. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới
là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một sự nghiệp nặng nề, một
cuộc đấu tranh rất lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi
được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [39, tr.252-253].
Hồ Chí Minh luôn quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của
người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước.
Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân” [43, tr.283]. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức
mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Cán bộ là cái gốc
17
của mọi công việc” [39, tr.269], do đó: “Công việc thành công hoặc thất bại,
đều do cán bộ tốt hay kém” [39, tr.273].
nhiệm, bổn phận của người dân. Với khái niệm cũ, Người đưa vào đó một nội
dung mới, phản ánh đạo đức cao rộng hơn, không phải chỉ trung với vua và
hiếu với cha mẹ mà là: “trung với nước, hiếu với dân”. Người nói: “Đạo đức
ngày nay cao rộng hơn, không phải chỉ có hiếu với cha mẹ, mà trung với
nước, hiếu với dân” [46, tr.558].
Trung với nước là sự trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước và
giữ nước. Phải biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên
hết. Nước là của dân, còn nhân dân là chủ của nước; trung với nước là trung
với dân, vì lợi ích của nhân dân như Hồ Chí Minh nói “Bao nhiêu lợi ích đều
vì dân”. Như vậy, bằng việc chuyển khái niệm trung với vua thành trung với
nước, Hồ Chí Minh đã loại bỏ công cụ thống trị đắc lực của các triều đại vua
chúa phong kiến. Đây là một sự độc đáo của Hồ Chí Minh trong việc sử dụng
khái niệm đạo đức cũ để nói lên đạo đức mới. Hiếu với dân là khẳng định vai
trò sức mạnh của nhân dân, tin dân, học dân, lấy dân làm gốc phải thực hiện
dân chủ cho người dân. Người đã đặt vấn đề: “bao nhiêu quyền hạn đều của
dân” “bao nhiêu lợi ích đều vì dân” “Đảng, Chính phủ là “đầy tớ” của dân”.
Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng
cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người làm chủ đất
nước. Trong Bài nói tại lớp chỉnh Đảng Trung ương khoá 2 (3-1953) Người
nói: “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất. Vì
sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục
triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc phong kiến giày vò. Mình không
những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước
nữa. Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy” [41, tr.60].
19
Như vậy, với luận điểm trung với nước, hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã
làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức. Người đã gạt bỏ cái cốt lõi
nhất trong Nho giáo là lòng trung thành tuyệt đối với ông vua phong kiến. Hồ
Chí Minh đã lật ngược triết lý đạo đức Nho giáo, giống như C. Mác đã làm
với học thuyết của F.Hêghen.