Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong những phơng thức cơ
bản điều chỉnh hành vi của con ngời theo một chuẩn mực nhất định của xã hội.
Đạo đức là nhân tố không thể thiếu đợc trong đời sống xã hội, là một tiêu chuẩn
để đánh giá, xem xét phẩm chất, nhân cách cá nhân, vì vậy đạo đức là một nội
dung quan trọng cần đợc giáo dục, rèn luyện thờng xuyên để phát triển nhân
cách con ngời.
Pháp luật cũng là một phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với đạo đức.
Pháp luật có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua các văn bản
quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, tạo điều kiện hớng dẫn con ngời
làm việc thiện, chống cái ác, bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con ngời
bằng những quy định chuẩn mực phù hợp với yêu cầu của từng hình thái kinh tế
- xã hội nhất định.
Đất nớc ta đang thực hiện những bớc đi trong công cuộc đổi mới, xây
dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trờng có
những nguyên tắc vận hành và phát triển riêng, ảnh hởng sâu sắc tới mọi mặt
của đời sống xã hội, tới hệ thống những giá trị, các quy chuẩn đạo đức, tới nếp
nghĩ, tâm lý từng ngời; Những tác động này có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu
cực Trong tình hình đó, một số vấn đề đặt ra là cần phải xác định nên kế thừa,
duy trì những yếu tố nào trong đạo đức truyền thống, trong hệ thống giá trị và
quy tắc xử sự nhằm xây dựng một nền đạo đức Việt Nam nói chung hiện đại
giàu tính dân tộc. Đó là vấn đề các nhà khoa học, những ngời làm công tác giáo
dục đang hết sức quan tâm.
Trên bình diện quốc gia mục tiêu chung nhất của nền giáo dục là: dạy chữ
dạy ngời. Tầng lớp sinh viên là chủ nhân tơng lai của đất nớc, là những ngời đại
diện cho nền giáo dục, bộ mặt văn hóa xã hội nớc ta. Do đó, việc rèn luyện tu dỡng đạo đức, lối sống cho sinh viên trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng. Trong
1
việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên - chủ nhân tơng lai của đất nớc là rất
thông qua vai trò của pháp luật là một trong những phơng hớng cần tiếp tục
nhằm mang lại hiệu quả tốt hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng ảnh hởng của pháp luật trong việc giáo
dục đạo đức mới cho sinh viên các trờng Đại học ở Hà Nội, từ đó luận văn đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của pháp luật trong việc
xây dựng đạo đức mới cho sinh viên các trờng Đại học ở Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để thực hiện đợc mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Làm rõ vai trò của pháp luật và đạo đức đối với đời sống xã hội, mối quan
hệ biện chứng giữa pháp luật với đạo đức, tầm quan trọng của pháp luật trong
việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên.
Phân tích thực trạng ảnh hởng của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức
mới cho sinh viên các trờng đại học ở Hà Nội hiện nay.
Đa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong
việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên ở Hà Nội hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu: Đạo đức và ý thức pháp luật của sinh viên ở Hà Nội
hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Vai trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức
mới cho sinh viên các trờng Đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh và những quan điểm của Đảng ta về pháp luật, đạo đức, về thanh niên,
sinh viên, đồng thời kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu khoa
học khác có liên quan.
3
để Nhà nớc quản lý xã hội. Pháp luật xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện
và tồn tại của Nhà nớc và giai cấp, nó là phơng tiện để thể hiện ý chí của giai
cấp thống trị. Nhà nớc và pháp luật đều là sản phẩm của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, là những phạm trù lịch sử do phơng thức sản xuất xã hội quyết
định. Nhà nớc và pháp luật là một bộ phận quan trọng thuộc kiến trúc thợng
tầng của xã hội có giai cấp, nó tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế, nhằm bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế.
Pháp luật là do Nhà nớc ban hành. Vì vậy, ở chừng mực nào đó, pháp luật
còn thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội.
Nh vậy, pháp luật vừa thể hiện bản chất giai cấp, vừa thể hiện tính xã hội. Nên
pháp luật có các tính chất sau:
- Tính quy ớc: Quy ớc là tế bào của pháp luật chứa đựng những nguyên
tắc khuôn mẫu, xử sự chung. Các quy ớc pháp luật đợc áp dụng nhiều lần trong
những không gian và thời gian khác nhau. Thời gian áp dụng những quy ớc này
chỉ bị đình chỉ khi cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung
hoặc những quy ớc này đã hết thời hạn có hiệu lực.
- Tính phổ biến và tính cỡng chế: Pháp luật thực chất là ý chí của Nhà nớc, nó đợc nâng lên thành luật và pháp luật của Nhà nớc hớng tới sự phát triển
của xã hội, làm thay đổi các quá trình kinh tế xã hội. Vì lợi ích và sự tiến bộ
chung của nhân dân. Tính cỡng chế là một tính chất cơ bản của pháp luật. Tính
5
cỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức và các phong tục tập quán. V.I.
Lênin đã chỉ ra rằng: Pháp luật sẽ không còn là gì nữa nếu không có bộ máy có
khả năng bắt buộc mọi ngời phải tuân theo những quy phạm của nó. Sự cỡng
chế này đợc thực hiện trên cơ sở pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật, do các cơ
quan Nhà nớc có thẩm quyền tiến hành.
- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Là sự thể hiện nội dung pháp
luật trong những hình thức nhất định. Nội dung của pháp luật phải đợc quy định
khái quát rõ ràng, sáng sủa, chặt chẽ trong các khoản của mọi điều luật, trong
ngăn chặn và xử lý ngời vi phạm pháp luật, Nhà nớc ban hành những các quy
phạm pháp luật có chế tài, quy định về hành vi vi phạm, các loại hình phạt, mức
độ xử phạt, trật tự xét và quyết định, biện pháp xử phạt và thi hành các quyết
định xử phạt. Pháp luật quy định chức năng thẩm quyền cho các cơ quan thực
hiện ngăn chặn và xử phạt.
- Chức năng giáo dục: Pháp luật đợc thể hiện thông qua sự tác động pháp
luật vào ý thức của con ngời, hình thành ở con ngời những t tởng tình cảm tốt
đẹp. Pháp luật của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa đề cao chức năng này.
1.1.2. Vai trò của đạo đức đối với đời sống xã hội
Để tồn tại và phát triển, con ngời ngay từ thời nguyên thủy đã có quan hệ
gắn bó chặt chẽ với nhau trong tổ chức bầy đàn, thị tộc, bộ lạc Họ sống có tổ
chức và tuân theo những quy ớc chung của cộng đồng đó (quy ớc chung chứ cha
phải là pháp luật). Đó chính là các quan hệ đơn giản của xã hội ban đầu cha có
giai cấp, theo tiến trình phát triển của loài ngời ngày càng trở nên phong phú và
phức tạp, đòi hỏi mỗi cá nhân sống trong cộng đồng phải thờng xuyên tự giác
điều chỉnh hành vi, thái độ cuả mình trong cách giao tiếp, ứng xử sao cho phù
hợp với những chuẩn mực, quy tắc của xã hội, không vi phạm đến nhu cầu, lợi
ích của ngời khác. Trong trờng hợp đó, cá nhân đợc tập thể, cộng đồng coi là
ngời có đạo đức. Ngợc lại, những cá nhân biểu hiện thái độ, hành động chỉ vì lợi
ích của ngời khác, của cộng đồng bị xã hội chê trách, phê phán, thì cá nhân
đó bị coi là ngời thiếu đạo đức.
Với t cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội
thông qua một số chức năng chính sau đây:
7
- Chức năng nhận thức: Với t cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức
có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại. Sự phản ánh của đạo đức
với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức khác. Đạo đức là
phơng thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới của con ngời. Nếu xét dới góc
1.1.3. Sự tơng đồng và khác biệt về bản chất giữa đạo đức và pháp luật
Pháp luật và đạo đức đều là những phạm trù thuộc kiến trúc thợng tầng, đợc quy định bởi kinh tế và chịu sự tác động của nhiều yếu tố thuộc hạ tầng cơ
sở. Pháp luật là đạo đức mang tính pháp lý, là phơng tiện chủ yếu, rất quan
trọng để nhà nớc quản lý xã hội. Còn đạo đức là toàn bộ những quy tắc nhằm
điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngời với con ngời trong xã hội.
Đạo đức và pháp luật là hai phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ tác động
lẫn nhau. Đạo đức và pháp luật ra đời đều có vai trò quan trọng trong việc quản
lý xã hội. Mối quan hệ khăng khít đó thể hiện trớc hết là chúng có cùng mục
đích và nhiệm vụ là nhằm điều chỉnh, đánh giá tất cả những hành vi, hoạt động
của con ngời, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội, với tự nhiên và cả
với chính bản thân mình. Có thể nói, đạo đức và pháp luật có chung một đích là
chống cái ác, làm điều thiện đem lại cuộc sống hạnh phúc, thanh bình cho cá
nhân và xã hội.
Song, cơ chế vận hành đi đến mục đích của pháp luật và đạo đức có những
đặc điểm khác nhau:
Thứ nhất: Khác nhau về cách thức điều chỉnh hành vi.
Thứ hai: Khác biệt về quá trình thực hiện.
Thứ ba: Khác nhau về quá trình thay đổi các quy định.
1.2. Tầm quan trọng của pháp luật đối với việc xây dựng đạo đức mới
cho sinh viên hiện nay
1.2.1. Sự nghiệp đổi mới và yêu cầu giáo dục đạo đức mới cho sinh viên
hiện nay
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vẻ vang đó, mỗi sinh viên phải đáp ứng
đợc những yêu cầu sau:
9
Một là: Mỗi sinh viên phải có lòng yêu nớc và tinh thần tự hào dân tộc,
cùng với lòng kính trọng đối với nhân dân, đối với Tổ quốc.
Hai là: ở mỗi sinh viên phải có hoài bão, ớc mơ và niềm tin hớng tới tơng
dân trong xã hội, trở thành quyền lực của Nhà nớc đợc thực hiện một cách trực
tiếp, chính xác và thống nhất trong cả nớc. Pháp luật thể hiện ý chí chung của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm xây dựng xã hội mới, con ngời
mới.Đồng thời hệ thống pháp luật đó cũng phản ánh lợi ích lâu dài của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động nhằm xây dựng xã hội mới trong đó mỗi ngời
đều phát huy hết khả năng cuả mình. Vì vậy, pháp luật có tác dụng mạnh mẽ
đến đạo đức xã hội nói chung.
Chơng 2
pháp luật với việc xây dựng đạo đức cho sinh viên
trong các trờng Đại học ở Hà Nội hiện nay
- thực trạng và những vấn đề đặt ra
2.1. Pháp luật xã hội chủ nghĩa và vai trò của nó trong các trờng Đại
học ở Hà Nội hiện nay
2.2.1. Pháp luật xã hội chủ nghĩa và đặc điểm cuả pháp luật xã hội chủ
nghĩa
Pháp luật XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc
chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức XHCN dới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nớc XHCN ban hành
và đảm bảo thực hiện trên cơ sở giáo dục thuyết phục và cỡng chế.
Trong quá trình hình thành và hoàn chỉnh, hệ thống pháp luật nớc ta đợc
chia ra làm bốn thời kỳ với những nội dung sau:
Thời kỳ thứ nhất: Từ năm 1945 đến năm 1959: Pháp luật bảo vệ nền độc
lập non trẻ xây dựng nền dân chủ nhân dân.
Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1960 đến năm 1980: Pháp luật xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nớc.
11
Thời kỳ thứ ba: Từ năm 1980 đến năm 1991: Xây dựng chủ nghĩa xã hội
Những yếu tố về kinh tế - xã hội tác động một cách tích cực đến ý thức
pháp luật của nhân dân nói chung và ý thức pháp luật của sinh viên cũng tăng
lên một bớc. Những nguyên tắc cơ bản của pháp chế XHCN đợc giữ vững.
Trong xã hội đảm bảo đợc quyền và nghĩa vụ của công dân.Những công dân trẻ
tuổi của Đất nớc cũng đã có đợc ý thức pháp luật nh: nhận thức về tính nhân đạo
của pháp luật XHCN từ đó có ý thức tôn trọng pháp luật, tỏ thái độ phẫn nộ trớc
những hành vi phạm pháp luật, tích cực đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ pháp
chế XHCN.
2.2.2. Những biểu hiện tích cực và nguyên nhân trong việc thực thi
pháp luật ảnh hởng đến đạo đức của sinh viên trong các trờng Đại học ở Hà
Nội hiện nay
Với quan điểm đúng đắn của Đảng giáo dục là quốc sách hàng đầu,
trong những năm gần đây Đảng và Nhà nớc, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn dành
sự quan tâm rất lớn cho nền giáo dục nói chung và giáo dục t tởng chính trị và ý
thức pháp luật cho sinh viên nói riêng.
Trớc hết là đầu t ngân sách, ngân sách chi cho giáo dục hàng năm chiếm
tỷ lệ khá nhiều và ngày một tăng trong tổng chi ngân sách nhà nớc.
Bên cạch việc đầu t ngân sách, Đảng và Nhà nớc ta còn quan tâm tới việc
xây dựng những bộ giáo trình, tài liệu chuẩn cho các môn học trong đó có cả
các môn khoa học Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, môn học pháp luật đại cơng cho các trờng đại học. Nội dung sách giáo khoa các môn khoa học Mac Lênin và t tởng Hồ Chí Minh nhiều lần đợc chỉnh lý cho phù hợp với đối tợng và
đảm bảo tính khoa học, tạo ra sự thống nhất cao giữa lý luận và thực tiễn. Trên
cơ sở giáo trình đợc biên soạn, Bộ Giáo dục và đào tạo đa ra chơng trình khung
hớng dẫn cụ thể cho giảng viên và sinh viên các trờng tiến hành nghiên cứu học
tập cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao.
Cùng phối hợp hành động với Bộ giáo dục - Đào tạo là Thành đoàn và Hội
sinh viên trong việc chỉ đạo các phong trào, các cuộc thi nhằm giáo dục và nâng
cao bản lĩnh chính trị và đạo đức cho sinh viên. Tiêu biểu là các cuộc thi nh:
Olympic các môn khoa học Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, caca buổi tọa
13
Một là: Phải kể đến sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong công cuộc đổi
mới suốt hơn 20 năm qua.
Hai là: Bên cạnh sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc là sự quan tâm của cả
xã hội dành cho giáo dục. Phải kể đến sự quan tâm của chính quyền và nhân
dân, các cấp các ngành trên địa bàn thành phố Hà Nội mà đặc biệt là ngành
công an. Bởi sinh viên là đối tợng dễ bị kẻ xấu lợi dụng và cũng là đối tợng rất
dễ bị sa ngã.
Ba là: Cùng với sự quan tâm chung của toàn xã hội đối với giáo dục thì
bản thân các trờng Đại học trong những năm vừa qua cũng rất chú trọng công
tác giáo dục chính trị t tởng, giáo dục đạo đức mới cho sinh viên. Ngoài việc
trang bị cho sinh viên những tri thức lý luận Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
một cách có hệ thống, các trờng còn chú trọng bồi dỡng trình độ chuyên môn
cho giáo viên giảng dạy, thờng xuyên tổ chức các buổi tọa đàm về tình hình
chính trị trong nớc và thế giới để giáo viên và sinh viên có đợc những thông tin
về tình hình chính trị trong nớc và quốc tế.
Bốn là: Bản thân sinh viên trong các trờng đại học hiện nay cũng tự giác
tu dỡng, rèn luyện bản thân để tự khẳng định mình trong cuộc sống.
2.3. Những hạn chế và một số vấn đề đặt ra trong việc thực thi pháp
luật ảnh hởng đến đạo đức của sinh viên các trờng Đại học ở Hà Nội hiện
nay
Trong những năm qua, ngoài những thành tựu đáng mừng đã đạt đợc
trong công tác giáo dục đạo đức, giáo dục ý thức pháp luật, thực thi pháp luật
của sinh viên các trờng đại học, còn có nhiều hạn chế cần khắc phục.
Tình hình vi phạm pháp luật và biểu hiện tha hóa đạo đức của sinh viên
vẫn còn phổ biến.
Đó là đi học muộn,chốn giờ, bỏ tiết, bỏ học không có lý do chính đáng,
thái độ gian lận trong thi cử và cờ bạc cắm quán vẫn cha chấm dứt
15
XHCN, tình hình kinh tế - xã hội của Đất nớc có những bớc phát triển đáng kể.
Song tình hình đạo đức xã hội nói chung, đạo đức sinh viên nói riêng lại có
chiều hớng xuống cấp, ý thức pháp luật kém dẫn đến hiện tợng coi thờng pháp
luật.
Với chính sách kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng,
với đờng lối kinh tế mở đã tạo nên bớc chuyển rất mạnh trong đời sống kinh tế xã hội. Nó vừa tạo điều kiện cho kinh tế tăng trởng với tốc độ khá cao, vừa tạo
địa bàn cho sự xâm nhập, đan xen, tác động lẫn nhau của nhiều kiểu, nhiều hình
thức, hành vi đạo đức khác nhau cùng biểu hiện, cùng tồn tại. Có nhiều hành vi
đạo đức cao thợng, tốt đẹp Nhng cũng có nhiều hành vi đạo đức trái với đạo
đức truyền thống, trái với pháp luật XHCN.
3.2. Kết hợp giáo dục pháp luật với việc phát huy các giá trị đạo đức
truyền thống các dân tộc
Từ xa đến nay, bao giờ pháp luật cũng dựa trên một nền tảng đạo đức nhất
định và trở thành phơng tiện để duy trì đạo đức đó. Nhng trong quan hệ xã hội,
luôn luôn tồn tại một khoảng trống mà pháp luật cha vơn tới, khi đó một hệ
thống chuẩn mực xã hội khác sẽ làm nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội
trong đó có sự góp mặt của đạo đức. Nh vậy, cả pháp luật và đạo đức đều tham
gia vào quá trình quản lý xã hội, trong những trờng hợp nh vậy, hiệu quả tác
17
động của pháp luật tăng lên rất nhiều. Việc kết hợp giáo dục pháp luật với việc
phát huy giá trị đạo đức trong quản lý xã hội ở nớc ta là một điều hết sức thuận
lợi. Bởi lẽ, nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống cần cù, chịu khó, sáng tạo,
tình cảm yêu nớc thơng nòi, ý thức cộng đồng, thơng yêu đùm bọc lẫn nhau,
thủy chung nhân nghĩa và ý chí quật cờng bất khuất Những đức tính đó trở
thành nếp nghĩ, lối sống của cả dân tộc và đáng đợc trân trọng giữ gìn, và phát
huy trong cuộc sống hiện tại và tơng lai.
3.3. Đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức pháp luật, ý thức đạo đức
trong nhà trờng
mới cả về nội dung và hình thức. Nhằm trang bị cho sinh viên một số kiến thức
cơ bản về pháp luật, để nâng cao ý thức pháp luật góp phần không nhỏ vào quá
trình dân chủ hóa xã hội. Nghiên cứu thực tiễn giảng dạy môn học pháp luật đại
cơng ở trờng Đại học kinh tế - kỹ thuật công nghiệp cho thấy việc giáo dục pháp
luật trong trờng cũng rất đợc chú trọng. Trên cơ sở chơng trình khung của Bộ
giáo dục và đào tạo, nhà trờng đã xây dựng chơng trình chi tiết môn học pháp
luật khá hợp lý (xem phụ lục).
Song song với công tác giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật và điều chỉnh hành vi của sinh viên cho phù hợp với các chuẩn
mực đạo đức xã hội, thì công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cũng có tác
động trực tiếp đến học sinh sinh viên và các tầng lớp khác trong xã hội. Điển
hình là trong những năm vừa qua, Ban khoa giáo đài truyền hình Việt Nam liên
tục tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật dành cho sinh viên các tr ờng cao
đẳng và đại học tham gia thông qua kênh truyền hình VTV2. Hoặc gần đây nhất
là chơng trình Tòa tuyên án phát sóng trên kênh VTV3 vào các tối thứ By
hằng tuần góp phần không nhỏ và việc giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân
nói chung và cho sinh viên nói riêng. Sinh viên là lớp ngời trẻ, năng động, sáng
tạo và tiếp thu nhanh nhng cũng rất ham vui nên việc tuyên truyền pháp luật
thông qua các kênh truyền hình nh hiện nay là biện pháp hữu hiệu để sinh viên
nắm bắt nhanh chóng các quy định pháp luật đồng thời thông qua những sự việc
điển hình về vi phạm pháp luật đã bị xử lý và đợc đài truyền hình dựng lại sinh
19
viên sẽ rút ra đợc cho mình những cách xử sự phù hợp với chuẩn mực đạo đức
và pháp luật mà Nhà nớc đã ban hành.
Giá trị đạo đức hình thành trong mỗi con ngời là kết quả tổng hợp cuả
việc giáo dục, rèn luyện nâng cao trí tuệ, bản lĩnh, ý chí qua hoạt động tự giác
của con ngời. Bớc vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống xã hội có nhiều
khởi sắc, nhng bên cạnh đó là sự du nhập văn hóa ngoại lai tiêu cực làm cho giá
thông qua các hoạt động giáo dục trong đó bao hàm cả quá trình tự giáo dục.
Con ngời với t cách là chủ thể của quá trình nhận thức, quá trình cải tạo
thế giới, là chủ thể của xã hội. Thông qua hoạt động giáo dục (trong đó có cả
hoạt động tự giáo dục) con ngời với khả năng tự biến đổi nhân cách của mình
một cách có ý thức.
Sinh viên là ngời những ngời đang đợc giáo dục bởi nhà trờng, gia đình,
xã hội. Cùng với quá trình giáo dục, việc tự giáo dục là quá trình sinh viên tự
hoàn thiện các phẩm chất của mình sao cho phù hợp với yêu cầu của cuộc sống,
phù hợp với lý tởng cách mạng.
Đất nớc chúng ta muốn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống của mọi
ngời dân bằng chính sự sáng tạo đó, không chấp nhận sự lừa dối, đầu cơ, buôn
lậu Vì sự sáng tạo không chỉ là điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế, mà còn
hành động của lơng tri và lý trí. Thực chất của việc phát triển kinh tế - xã hội
theo định hớng XHCN là xác lập cơ sở kinh tế - xã hội khách quan, là điều kiện
thực tiễn cần thiết cho đạo đức mới dựa và đó tồn tại, củng cố và phát triển. Để
đáp ứng đợc yêu cầu đó, bên cạnh công tác nâng cao vai trò của pháp luật và
tăng cờng tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân nói chung,
cho sinh viên nói riêng. Còn đòi hỏi mỗi sinh viên phải tự ý thức, tự điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp đổi mới đất nớc.
Sự hình thành ý thức pháp luật và ý thức đạo đức của sinh viên không chỉ
thông qua quá trình giáo dục trang bị cho sinh viên những nguyên tắc, chuẩn
mực đạo đức xã hội trên sách vở. Nó đòi hỏi mỗi cá nhân sinh viên phải tự giác
tu dỡng, rèn luyện và nâng cao tính tự giác giáo dục mình. Vì vậy, mỗi một
21
phẩm chất đạo đức đợc hình thành và củng có trong thanh niên sinh viên sẽ trở
thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách con ngời.
kết luận
Pháp luật và đạo đức là những hình thái ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thợng tầng, đều có chức năng chung là điều chỉnh hành vi của con ngời và các
mối quan hệ xã hội. Chúng có quan hệ mật thiết với nhau tạo nên sự điều chỉnh
mạnh mẽ nhất đối với hành vi của con ngời, khuyến khích con ngời làm việc
thiện, chống lại cái ác, bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá của con ng ời bằng
những quy định, chuẩn mực phù hợp với yêu cầu xã hội nhất định.
Dới CNXH, pháp luật và đạo đức đều có chức năng chủ yếu là giáo dục
nhân dân ý thức tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật, có hành vi ứng xử văn
minh, lịch sự phù hợp với truyền thống đạo đức, thuần phong, mỹ tục nhằm đáp
ứng lợi ích chung của toàn xã hội và của từng cá nhân.
Sự thống nhất bao hàm cả sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức chính là
cơ sở quyết định sự tác động qua lại giữa chúng.Trong mối quan hệ ấy đạo đức
là cơ sở của việc xây dựng và bảo vệ pháp luật, đồng thời cũng chính là nhân tố
quan trọng đảm bảo cho pháp luật đợc thực thi một cách nghiêm minh. Bất kỳ
hệ thống pháp luật nào cũng đợc xây dựng trên một nền tảng đạo đức nhất định.
Ngợc lại, pháp luật cũng tác động mãnh mẽ đến đạo đức. Pháp luật ghi nhận,
củng cố và phát huy những quan niệm, quan điểm đạo đức truyền thống tiến bộ
và hạn chế đi đến loại trừ những quan điểm đạo đức lạc hậu không còn phù hợp
với sự phát triển của xã hội. Pháp luật và đạo đức giữ vai trò rất quan trọng trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì một trật tự xã hội ổn định, tạo động
lực cho sự phát triển của những giá trị đạo đức.
Hiện nay sinh viên trong các trờng cao đẳng đại học nói chung, là lớp ngời trẻ tuổi đang ở giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách. Do đó,bên cạnh
việc giáo dục chuyên môn định hớng nghề nghiệp việc giáo dục đạo đức, nhân
cáchcũng hết sức cần thiết.
Sinh viên chính là lực lợng kế cận xây dựng và phát triển đất nớc trong tơng lai. Phần lớn họ đều tự ý thức đợc trách nhiệm của mình với non sông đất nớc. Họ sống có lý tởng, có lối sống lành mạnh, tích cực tham gja vào phong trào
23
chung của toàn xã hội và đang trở thành lực lợng nòng cốt của công cuộc công