BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO CÁC NGÀNH KỸ THUẬT)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG
CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO CÁC NGÀNH KỸ THUẬT)
Chuyên ngành : Chính trị học
Mã số
: 62 31 02 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án
: GDVHHĐ
Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường : HQGDVHHĐ
Sinh viên
: SV
Văn hóa học đường
: VHHĐ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Chương 1.................................................................................................... 7
Chương 2.................................................................................................. 35
Chương 3.................................................................................................. 79
Chương 4................................................................................................ 129
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được Đại hội Đảng XI (năm 2011) thông qua, đã định hướng phát triển văn hóa:
“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển
toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn,
dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ
đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh
chủ động, sáng tạo trong học tập; nêu cao ý thức trách nhiệm, rèn luyện phẩm
chất đạo đức, lối sống lành mạnh, dám đấu tranh chống lại những tiêu cực; tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tương lai của đất nước. Bên cạnh đó, trước
sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, sự bùng nổ thông tin qua Internet,
các mạng xã hội; sự du nhập ào ạt các trào lưu văn hóa, quan niệm sống lai căng
cùng với sự chống phá, lôi kéo từ hệ tư tưởng thù địch với những sản phẩm
mang danh văn hóa, một bộ phận thanh niên, trong đó có sinh viên trong các
trường đại học chạy theo lối sống thực dụng, xa lạ với các giá trị văn hóa truyền
thống tốt đẹp, vô tổ chức, vô kỷ luật… không có ý chí vươn lên. Tình trạng tội
phạm và tệ nạn xã hội trong sinh viên có chiều hướng gia tăng về quy mô, phức
tạp về tính chất, gây nhức nhối cho gia đình, nhà trường và xã hội. Nghị quyết
Trung ương 5 khóa VIII chỉ rõ: “Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo
dục, đào tạo làm cho xã hội lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy
trò, bè bạn, môi trường sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão,
ăn chơi, nghiện ma túy, tệ nạn xã hội…ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việc
coi nhẹ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và coi nhẹ các bộ môn chính trị, khoa học xã
hội và nhân văn” [24, tr.47].
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đánh giá: “Chất lượng giáo dục và đào
tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao
vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng,
giữa dạy chữ và dạy người. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc
hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề
đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất
cập. Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn
chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội.”[28, tr. 167, 168]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm
tiễn, tác giả chọn: Hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên các trường
đại học ở Hà Nội hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học đào tạo các
ngành kỹ thuật) làm đề tài luận án tiến sĩ của mình. Kết quả nghiên cứu thành
công có thể ứng dụng ở nhiều trường đại học đào tạo các khối ngành khác nhau,
góp thêm một căn cứ lý luận và thực tiễn vào hệ thống những giải pháp thực hiện
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.
4
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả giáo
dục văn hóa học đường cho sinh viên, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả
giáo dục văn hóa học đường, luận án đánh giá thực trạng hiệu quả giáo dục văn
hóa học đường và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật
ở Hà Nội hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả luận án cần hoàn thành những
nhiệm vụ:
- Tổng quan và có đánh giá, nhận định về tình hình nghiên cứu có liên quan
đến hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học.
- Làm rõ khái niệm, nội dung, biểu hiện đặc trưng của văn hóa học đường
và giáo dục văn hóa học đường trong trường đại học. Xây dựng tiêu chí đánh giá
hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên ở các trường đại học.
- Khảo sát thực tế, phân tích thực trạng văn hóa học đường, giáo dục văn
hóa học đường và hiệu quả giáo dục văn học đường của sinh viên các trường đại
học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội. Phát hiện nguyên nhân và những vấn
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa
học nói chung; các phương pháp của những bộ môn liên quan như Văn hóa
học, Quản lý văn hóa - Tư tưởng, Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học…
Các phương pháp chính cụ thể là:
- Phương pháp tiếp cận từ vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của người
làm công tác quản lý, công tác chính trị trong nhà trường, công tác giảng dạy các
môn lý luận trong trường đại học.
- Phương pháp thu thập thông tin từ các tác phẩm kinh điển, nghị quyết, chỉ
thị, quy chế, quy định và các công trình khoa học… cập nhật thông tin chuyên
ngành từ các tạp chí chuyên ngành và các phương tiện truyền thông khác.
- Phương pháp điều tra bằng trưng cầu ý kiến các cán bộ quản lý, các cán
bộ Đoàn thanh niên trong nhà trường, đại diện sinh viên trong các kỳ giao ban.
Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (anket).
- Phương pháp xử lý thông tin và trình bày kết quả nghiên cứu: phân loại
thông tin, hệ thống hóa thông tin, diễn giải, quy nạp, phương pháp phân tích và
tổng hợp, lôgic và lịch sử; phương pháp so sánh; chứng minh, khái quát hóa,
tổng kết kinh nghiệm và phương pháp chuyên gia…
6
5. Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa các tri thức về văn hóa học đường, chỉ ra rõ hơn vai trò và
nội dung của văn hóa học đường.
- Nhận diện những giá trị cốt lõi của văn hóa học đường trong trường đại
học so sánh với thực tiễn từ đó có các kết luận làm sơ sở để xây dựng phương
hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh
viên. Rút ra những bài học có tính lý luận về giáo dục văn hóa học đường cho
học đường ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu
có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài. Nâng cao hiệu quả giáo dục
VHHĐ đã thực sự trở thành vấn đề cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực
tiễn, nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, các nhà khoa học.
Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, có thể khái quát một số công trình tiếp
cận đề tài theo các hướng:
1.1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa học đường và giáo dục văn hóa
học đường
1.1.1. Những nghiên cứu về văn hoá và văn hóa học đường
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ loài người. Cùng
với sự phát triển của lịch sử nhân loại, nhận thức của con người về văn hóa, khái
niệm văn hóa cũng không ngừng thay đổi và luôn được bổ sung những nội dung
mới, những cách nhìn mới.
Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại giành được sự quan tâm như hiện nay cả
về phương diện lý luận và thực tiễn. Điều này càng chứng tỏ vai trò quan trọng
của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội. Khái niệm “văn hóa” (Cultura) có
nguồn gốc từ phương Tây, theo tiếng Latinh có nghĩa là: cày, cấy, vun trồng, làm
ruộng, chăm bón, cải thiện, gìn giữ trong sản xuất nông nghiệp. Xét theo nguồn
gốc thuật ngữ, văn hóa là khái niệm gắn với lao động sản xuất, một hoạt động
sáng tạo mang bản chất người nhất. Về sau thuật ngữ văn hóa được bổ sung thêm
những nghĩa mới trừu tượng hơn, nói về tính có học vấn, tính có giáo dục, sự mở
mang trí tuệ của con người.
Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đã đi tìm nội dung tích cực và bổ sung
những nhận thức mới mẻ về văn hóa. Thời kỳ này được xem như thời kỳ phát
hiện lại con người. Bởi vậy, “văn hóa” được nhìn nhận như lĩnh vực tồn tại chân
chính của con người, lĩnh vực “tính người” thật sự đối lập với lĩnh vực “tính tự
8
người [138].
9
Tiếp cận văn hóa dưới góc độ tổ chức, Ehlers (2009) tổng hợp các tác giả
và cách tiếp cận văn hóa.
Bảng 1. Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, tr.343-363]
Tác giả
Cách tiếp cận
Gerent Hofstede Văn hóa là quy ước về tinh
(1991)
thần hỗ trợ mọi người thực
hiện thuận lợi các hoạt động
thông qua biểu hiện, nhân
cách, lễ nghi và giá trị.
Edgar
Schein Văn hóa là một lại quy ước
(1992)
cơ bản do một nhóm người
đưa ra để giải quyết các vấn
đề thích ứng với bên ngoài
và hòa hợp với bên trong.
Johannes Rsegg Văn hóa có thể so sánh với
(2002)
các quy luật ngữ pháp và ngữ
nghĩa trong một hệ thống
quy ước của một nhóm
người.
Gareth
lượng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân con người - đó
chính là văn hóa nhận thức.
Văn hóa tổ chức: Là những giá trị văn hóa tổ chức của cộng đồng như văn
hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức sản xuất trong
một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, đô thị, quốc gia) và văn hóa tổ
chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống của mỗi con người
như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật...)
Văn hóa ứng xử (đối với tự nhiên và đối với xã hội): Cộng đồng người chủ thể văn hóa - tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường - môi trường tự
nhiên (thiên nhiên, khí hậu...v.v) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội,
dân tộc, quốc gia). Do đó có văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa
ứng xử với môi trường xã hội [107, tr.28-29].
Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor khái quát khái niệm văn hóa,
cho rằng: “Văn hóa là tổng số sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ
và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ
thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu những yếu tố xác định đặc tính riêng
của mỗi dân tộc” (Tạp chí Người đưa tin UNESCO, Tháng 11-1989, tr. 5)
Tổng hợp các định nghĩa trên, cho thấy văn hóa bao gồm các nội dung sau:
- Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
- Văn hóa là hoạt động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành và
phát triển của văn hóa.
- Văn hóa là sự thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi cộng
đồng người, mỗi dân tộc.
Văn hóa là sản phẩm của hoạt động người, là kết quả sáng tạo ra của nhiều
thế hệ nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần không ngừng tăng lên
của con người. Văn hóa bao gồm các giá trị văn hóa và hoạt động sáng tạo ra
những giá trị đó. Khi tạo ra thế giới văn hóa, con người không chỉ làm biến đổi
những điều kiện khách quan, mà còn làm biến đổi chính bản thân con người,
phát triển những năng lực tiềm tàng trong bản thân mình. Không chỉ có vậy, con
người còn có khả năng tự đánh giá trình độ phát triển của bản thân mình thông
qua các sản phẩm do chính mình tạo ra. Bởi vì trong quá trình hoạt động con
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội” [24, tr 55]. Nghị quyết tập trung vào những lĩnh vực lớn:
tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục, khoa học, văn học
nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với thế giới, các thể chế và
thiết chế văn hóa… và khái quát: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn
năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều
12
nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã
hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang
của dân tộc”.[24, tr 40].
Sau hơn 15 năm, từ năm 1998 đến năm 2014, nhận thức về văn hóa và vai
trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã phát
triển thêm một bước dài. Trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó có 2 quan điểm phát triển,
bổ sung rất sâu sắc. Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận về văn hóa:
Một là, Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây
dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là
chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ
bản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết cần cù, sáng tạo và quan
điểm: xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia
đình, cộng đồng.
Hai là, Phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa, cần chú ý đầy đủ đến yếu tố
văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
Khi nghiên cứu văn hóa, giới chuyên môn đã sử dụng phạm trù “môi
trường văn hóa” để thể hiện mối quan hệ giữa con người và văn hóa.
Trong cuốn “Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin” (1981, Nxb. Văn hóa,
and values evident in the way a school operates (Văn hóa trường học học có thể
được định nghĩa là niềm tin hướng dẫn do những giá trị rõ ràng trong cách một
trường hoạt động) hay “school culture” can be used to encompass all the
attitudes, expected behavior and values that impact how the school operates
(Văn hóa trường học có thể được sử dụng bao gồm tất cả những thái độ, hành vi
mong đợi và những giá trị tác động đến cách hoạt động của trường). Dù có
nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều thống nhất mỗi trường học ngoài là tấm
gương phản chiếu những giá trị văn hóa, sự phát triển chung của cộng đồng đều
có những nét văn hóa riêng độc đáo tác động đến hoạt động của nhà trường .
Nghiên cứu của GS. Peter Smith Đại học Sunderlans cho thấy VHHĐ ảnh
hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của một nhà
trường. Các lý do cần phải nuôi dưỡng vun trồng VHHĐ tích cực, lành mạnh có
thể tóm tắt như sau:
-Sự phát triển của học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hóa
-xã hội mà họ lớn lên
- Văn hóa học đường lành mạnh giảm bớt sự không hài lòng của giáo viên
và giúp giảm thiểu hành vi cử chỉ không lịch sự của học sinh
- Văn hóa học đường tạo ra môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy và học,
khuyến khích GV và học sinh nỗ lực trong rèn luyện, học tập đạt thành tích
mong đợi...
14
Tổng hợp các quan niệm về VHHĐ của các học giả nước ngoài đã làm nổi
bật vị trí, vai trò của VHHĐ đối với sự duy trì và phát triển của trường học. Họ
đều khẳng định văn hóa là tài sản của tổ chức trường học, nó luôn chi phối trực
tiếp đến sự phát triển và tiến bộ của nhà trường cũng như nét đặc sắc riêng của
từng trường.
Ở Việt nam thuật ngữ VHHĐ được sử dụng chưa lâu nhưng nội dung của
VHHĐ trong các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa đã có và trở thành các truyền
tháng 11 năm 2009, tr.41). Tác giả Phạm Ngọc Trung sau khi khảo cứu các quan
niệm đã được xã hội hóa và đúc rút qua thực tiễn giảng dạy, định nghĩa: “Văn
hoá học đường là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành
và tích luỹ trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm thói quen, tập
quán, tư tưởng, luật pháp... nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thầy, trò và các
thành viên có liên quan để việc dạy và học đạt kết quả cao” [116, tr 51].
Phạm Văn Khanh quan niệm trường học là một tổ chức, vì vậy xem văn
hóa học đường là văn hóa tổ chức - một tổ chức sau khi được hình thành, tồn tại
và phát triển thì tự khắc nó sẽ dần dần hình thành nên những nề nếp, chuẩn mực,
lễ nghi, niềm tin và giá trị. Đó là sợi dây vô hình gắn kết các thành viên trong tổ
chức lại với nhau cùng phấn đấu cho những giá trị chung của tổ chức. Đó là nghi
lễ, đồng phục, không khí học tập trật tự, sinh hoạt nề nếp, đi học đúng giờ, tôn
trọng luật giao thông…Có thể nói, văn hóa tổ chức là yếu tố cơ bản trong văn
hóa học đường, nó hiện diện trong khắp các hoạt động của nhà trường . [Bài phát
biểu tại hội thảo khoa học toàn quốc “Tâm lý học và vấn đề cải thiện môi trường
giáo dục hiện nay” tại Cần Thơ ngày 13-7-2013]
Cùng xuất phát từ góc độ tổ chức, Phạm Thị Hường đưa ra khái niệm văn
hóa nhà trường (VHHĐ): “Văn hoá nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị,
chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của
nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được
thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho
mỗi tổ chức sư phạm”.
Trịnh Ngọc Toàn quan niệm văn hóa nhà trường (VHHĐ) là một tập hợp
các giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong nhà
trường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của nhà trường đó. Căn cứ theo hình thức
biểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phần nổi có thể nhìn thấy như: không gian
cảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giao tiếp... và phần chìm không
quan sát trực tiếp được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ...
Về góc độ tổ chức, văn hóa nhà trường được coi như một mẫu thức cơ bản,
đất nước.
Liên quan đến việc xây dựng văn hóa học đường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và đào tạo đã ra chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” trong các trường phổ thông
giai đoạn 2008-2013. Bộ Giáo dục và Đào tạo có Kế hoạch số 307/KHBGD&ĐT ngày 22/07/2008 nhằm triển khai chỉ thị nói trên. Đây là nội dung văn
hóa học đường trong các trường phổ thông, song nó là cơ sở quan trọng để tiếp
cận nội dung VHHĐ trong hệ thống giáo dục nói chung và các trường đại học
17
nói riêng. Nội dung cụ thể của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện - học sinh tích cực” gồm:
- Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.
- Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh giúp
các em tự tin trong học tập.
- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
- Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh.
- Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch
sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương: Nhận chăm sóc và phát huy giá trị các di
tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương. Thực hiện lồng ghép với các môn
học để giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc, tinh thần cách mạng một cách có
hiệu quả nhất cho tất cả học sinh.
Như vậy, dù còn nhiều ý kiến khác nhau, dù bàn về các cấp độ và phạm vi
khác nhau nhưng các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục đều thống nhất:
mỗi trường học cần có VHHĐ của mình. Văn hóa học đường là các hệ thống
chuẩn mực, giá trị giúp cán bộ quản lý nhà trường, thầy cô giáo, phụ huynh, học
sinh, sinh viên có cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp.
Các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu về văn hóa học đường mà còn
nghiên cứu về vai trò, thực trạng của văn hóa học đường, nhận thức rõ vai trò
quan trọng của VHHĐ đối với sự phát triển của các trường đại học nói riêng,
mật. Các trường học ở đây cởi mở, không chịu sự gò ép về chính trị. Với sự kết
hợp này, người Phần Lan tin rằng không có trẻ em nào bị bỏ lại phía sau.
Từ những công trình khoa học đã phân tích dễ dàng nhận thấy có nhiều
cách tiếp cận VHHĐ nên có nhiều định nghĩa khác nhau. Tùy theo mục đích, các
nhà nghiên cứu có thể nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác. Có ý kiến
khẳng định VHHĐ là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các lễ nghi và
nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của trường học. Ý
kiến khác cho rằng: VHHĐ là một cấu trúc, một quá trình, là các giá trị và chuẩn
mực dẫn dắt giảng viên và sinh viên đến việc giảng dạy và học tập có hiệu quả.
Khuynh hướng thứ 3 tiếp cận VHHĐ đưa ra quan điểm về sự vận động, khẳng
định văn hóa nhà trường không phải là một thực thể tĩnh. Nó luôn được hình
thành và định hình thông qua các tương tác với người khác và thông qua những
hành động đáp lại trong cuộc sống nói chung. Văn hoá học đường phát triển
ngay khi các thành viên tương tác với nhau, thầy với thầy, trò với trò, nhà trường
với xã hội, cá nhân với cộng đồng. Nó trở thành chỉ dẫn cho hành vi giữa các
thành viên của nhà trường. Theo đó, VHHĐ có các chức năng biểu tượng, chức
năng xây dựng, chức năng hướng dẫn và chức năng gây cảm xúc. Nếu các chức
năng ấy của VHHĐ được làm tốt, mỗi thành viên trong các trường học sẽ vừa
thấm nhuần, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống và những phẩm giá quý báu
của dân tộc: như tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường,
19
đoàn kết vì đại nghĩa; tính trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; sự
hiếu học và tôn sư trọng đạo… vừa đầy đặn lòng nhân ái, tình cảm vị tha và
khoan dung; tính trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; có hành động
và thái độ rõ ràng đối với những hiện tượng phản văn hóa.
Trong môi trường học đường, văn hóa được chia làm 2 nội dung là văn hóa
vật chất biểu hiện qua cơ sở vật chất nhà trường, khuôn viên trường và văn hóa
tinh thần như tinh thần dân chủ, giao tiếp, ứng xử... Như vậy, có thể hiểu VHHĐ