MỞ ĐẦU
Tên đề tài:“Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị cho
sinh viên các trường đại học đào tạo khối ngành kỹ thuật trên địa bàn thành
phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nội dung giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên là một phần không thể
thiếu trong tổng thể các nội dung thuộc chương trình đào tạo của tất cả các
trường đại học. Đây là một nội dung bắt buộc đối với tất cả các sinh viên dù học
ở khối ngành nào, lĩnh vực nào. Những nội dung đó bao gồm những kiến thức cơ
bản của chủ nghĩa Mác- Lê-nin (trong đó được chia thành các phân môn: Triết
học Mác - Lê-nin; Kinh tế chính trị Mác - Lê-nin; Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mác - Lê-nin); Tư tưởng Hồ Chí Minh; Đường lối cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam và một số nội dung khác thuộc về lý luận chính trị.
Thời gian qua, công tác GDLLCT cho sinh viên đã có nhiều chuyển biến
tích cực. Tuy vậy, nhìn chung hiệu quả giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên
của các trường đại học, học viện chưa cao, nhất là đối với các trường đại học đào
tạo khối ngành kỹ thuật bởi đặc thù riêng của lĩnh vực, ngành nghề đào tạo này.
Nhiều trường thuộc khối ngành kỹ thuật thường tập trung vào việc giáo dục, đào
tạo về chuyên môn nghiệp vụ, về khoa học công nghệ, về kiến thức chuyên
ngành kỹ thuật… mà không tập trung vào công tác giáo dục lý luận chính trị cho
sinh viên dẫn đến hiệu quả của công tác này thường không cao. Nhận thức của cả
cán bộ, giảng viên và sinh viên về vị trí, vai trò của công tác giáo dục lý luận
chính trị còn chưa đầy đủ và chính xác nên dẫn đến việc lơ là, “bỏ quên” công
việc quan trọng này. Một số sinh viên có biểu hiện “sợ” các môn học lý luận
chính trị, một số khác thì học tập một cách thụ động, đối phó…
1
Sinh viên thuộc các khối ngành kỹ thuật là những người tiên phong trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong tương lai, họ chính là
nghĩa quan trọng. Tuy vậy, có những đề tài nghiên cứu tập trung đi sâu vào đối
tượng là sinh viên nói chung và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công
tác này cho sinh viên. Nhưng, các đề tài ấy chưa đề cập đến đặc điểm riêng biệt
của từng nhóm đối tượng sinh viên thuộc các ngành học khác nhau, với những
nét đặc thù khác nhau. Chẳng hạn, đối với sinh viên thuộc khối ngành khoa học
xã hội nhân văn, họ có những đặc điểm riêng và phù hợp hơn với việc tiếp nhận
các tri thức lý luận chính trị, những lý thuyết trừu tượng. Mặt khác, đối với sinh
viên thuộc khối ngành khoa học tự nhiên, khối ngành kỹ thuật… lại có những nét
đặc thù riêng biệt ảnh hưởng đến hiệu quả công tác GDLLCT mà các đề tài ấy
chưa đề cập đến. Một số đề tài khác tập trung nghiên cứu đối tượng là sinh viên
của một trường đại học, học viện cụ thể nên những giải pháp đưa ra không mang
tính khái quát mà mang tính khu biệt, chỉ phù hợp với từng đơn vị cụ thể.
Có thể kể đến nhiều đề tài đã nghiên cứu đến công tác giáo dục lý luận
chính trị như:
- Đề tài của TS. Lương Ngọc Vĩnh (2012) nghiên cứu về “Hiệu quả công
tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự ở nước ta
hiện nay”. Đây là luận án tiến sĩ khoa học chính trị. Đề tài này là một nguồn tài
liệu tham khảo quan trọng đối với đề tài của em. Đề tài đã tập trung nghiên cứu
về hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng và khách thể nghiên cứu được
đề cập đến trong luận án là học viên các học viện quân sự. Khách thể này, về đặc
điểm, có nhiều nét khác biệt so với khách thể là sinh viên các trường đại học đào
tạo khối ngành kỹ thuật.
- Đề tài của PGS, TS. Trần Thị Anh Đào chủ biên, “Công tác giáo dục lý
luận chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay”, Nxb. Chính trị quốc gia (năm
3
2010), đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận cho việc nâng cao chất lượng công
tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam qua khảo sát thực tiễn một
này… trong đó có những đặc điểm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giáo dục lý
luận chính trị cho họ.
Những nội dung của các đề tài khoa học trước đó là những tài liệu quan
trọng và quí báu cho những người nghiên cứu sau như em.
Đối với đề tài của em, sự khác biệt và nét mới của đề tài là khách thể
nghiên cứu “sinh viên các trường đại học đào tạo khối ngành kỹ thuật trên địa
bàn thành phố Hà Nội”- là một khách thể rất ít khi được đề cập đến trong các đề
tài nghiên cứu trước đây và là một khách thể có nhiều nét đặc thù riêng biệt. Đề
tài sẽ tập trung nghiên cứu vào thực trạng hiệu quả của công tác này trong giai
đoạn hiện nay và nêu lên những vấn đề còn tồn tại để đề ra giải pháp nâng cao
hiệu quả GDLLCT trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực trạng hiệu quả công tác
giáo dục lý luận chính trị để từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này
cho sinh viên các trường đại học đào tạo khối ngành kỹ thuật.
3.2. Nhiệm vụ
- Xây dựng cơ sở lý thuyết của đề tài.
- Nghiên cứu phân tích thực trạng công tác giáo dục lý luận chính trị cho
sinh viên khối ngành kỹ thuật trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay.
5
- Tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này và từ đó đề
xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên các
trường đại học đào tạo khối ngành kỹ thuật trên địa bàn thành phố Hà Nội.
tiễn.
6. Điểm mới của đề tài
Đề tài nghiên cứu góp phần vào việc nghiên cứu thực trạng công tác giáo
dục lý luận chính trị cho sinh viên các trường đại học đào tạo khối ngành kỹ
thuật và nghiên cứu cơ sở lý luận và các lý thuyết về công tác GDLLCT. Từ đó,
đưa ra những kiến nghị, những giải pháp mới trong thực tiễn, khắc phục những
điểm tồn tại, hạn chế, yếu kém của công tác này trong thời gian qua để góp phần
vào việc nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận, đề tài tập trung nghiên cứu về công tác giáo dục lý luận
chính trị để làm cơ sở cho việc vận dụng những tri thức lý luận đó vào giải quyết
7
vấn đề thực tiễn đó là đòi hỏi cấp bách về việc phải nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác GDLLCT cho sinh viên các trường đại học ngành kỹ thuật.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được vận dụng
trong thực tiễn công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên các trường đại
học ngành kỹ thuật để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công tác này
nhằm nâng cao trình độ nhận thức lý luận chính trị cho sinh viên, hình thành
niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng, về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tự diễn biến, tự
chuyển hóa” trong một bộ phận thanh niên, sinh viên hiện nay và giáo dục họ
cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch… Từ đó, thúc đẩy họ hành động cống hiến cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành 3 chương, 11 tiết.
tốt hơn nhu cầu học tập, hiểu biết của con người và trở thành một động lực quan
trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm giáo dục, song, nội
hàm bản chất mà các khái niệm đề cập đến khi nói về giáo dục đó là: Giáo dục
là một hiện tượng xã hội, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội những tri
thức, kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình lịch sử - xã hội của các thế hệ
loài người, nhờ có giáo dục mà trình độ nhận thức và cải tạo thế giới của con
người ngày càng được nâng lên từ thế hệ này đến thế hệ khác, nhờ đó mà xã hội
loài người không ngừng phát triển.
Lý luận theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm trù, quy luật được
khái quát từ nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn của con người trong quá
trình lịch sử. Lý luận là kết quả nhận thức chủ quan của con người về các sự
kiện, hiện tượng trong thế giới khách quan.
Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc,
quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự
tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội; là hoạt động thực tiễn
của các giai cấp, đảng phái, nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện
đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích. (tr.7, Giáo trình
Chính trị học - HVBCTT)
Như vậy, lý luận chính trị chính là từ ghép giữa lý luận và chính trị, theo
đó, lý luận được giới hạn ở lĩnh vực chính trị và quan niệm về lý luận chính trị
được xem xét bởi sự hợp thành từ 3 phương diện sau:
Thứ nhất, lý luận là tri thức thu được từ kết quả nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chính trị.
10
Thứ hai, lý luận chính trị là hệ thống các tri thức khoa học của chính trị
học và các khoa học chính trị.
điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước,
làm tổn hại tới lợi ích của nhân dân, của dân tộc.
Và từ những cách tiếp cận trên, theo Th.s Quản Văn Sỹ, khái niệm
GDLLCT đó chính là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơ bản, có hệ
thống nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính
sách pháp luật của nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “công tác” được định nghĩa là: công
việc của Nhà nước hoặc của đoàn thể. Như vậy, công tác có nghĩa là công việc
chung, hoạt động chung, có nhiều người cùng tham gia để đạt một mục đích
chung.
Công tác giáo dục lý luận là thuộc về công tác chính trị - tư tưởng do cấp
ủy phụ trách và chịu trách nhiệm. Ở hệ thống nhà nước, còn do các cơ sở đào
tạo, do các nhà chuyên môn phụ trách, công tác GDLLCT vừa là công tác
chuyên môn lại vừa là công tác chính trị gắn với nội dung và phương thức lãnh
đạo của Đảng. Đối với công tác GDLLCT, người nghiên cứu đồng thời có thể là
giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên hoặc là một lực lượng chuyên nghiệp
chuyên làm công tác GDLLCT. Đây là một đội ngũ chuyên trách từng mảng
công việc theo chyên môn, có sự tham gia hỗ trợ của lực lượng cộng tác viên và
sự phối hợp của các lực lượng, tổ chức khác.
Tiếp cận tới khái niệm “Công tác giáo dục lý luận chính trị” theo hướng đề
cập đến nội dung, phương thức và các chủ thể tham gia công tác GDLLCT, trong
12
cuốn giáo trình “Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục LLCT”, PGS.TS
Phạm Huy Kỳ cho rằng: “Công tác GDLLCT là hoạt động truyền bá, giáo dục
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước, các tri thức khoa học chính trị… được tổ chức một cách khoa học,
theo một kế hoạch, chương trình nhất định nhằm nâng cao trình độ và năng lực
1.1.2.1. Sinh viên và sinh viên đại học khối ngành kỹ thuật
Thuật ngữ Sinh viên bắt nguồn từ gốc Latinh: “Students” với nghĩa là
người làm việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức. (Từ điển bách khoa thưTiếng Nga).
Hiểu theo nghĩa thông thường thì Sinh viên là những người đang học trong
các trường Đại học, cao đẳng.
Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm ngành được hiểu theo nghĩa là: lĩnh vực
hoạt động về chuyên môn. Ví dụ: khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế…
Cũng theo từ điển tiếng Việt, khái niệm kỹ thuật được hiểu theo 2 nghĩa đó
là:
- Tổng thể nói chung những phương tiện và tư liệu hoạt động của con
người, được tạo ra để thực hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu cầu phi
sản xuất của xã hội. Ví dụ: Kỹ thuật quân sự, kỹ thuật công nghiệp…
- Tổng thể nói chung những phương pháp, phương thức sử dụng trong một
lĩnh vực hoạt động nào đó của con người. Ví dụ: kỹ thuật cấy lúa, kỹ thuật luyện
thép…
Như vậy, các trường đại học khối ngành kỹ thuật là những trường nằm
trong hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo các chuyên ngành liên quan đến kỹ
thuật cho sinh viên nhằm hình thành nên đội ngũ kỹ sư, chuyên viên, cử nhân
14
ngành kỹ thuật trong tương lai. Và, sinh viên đại học khối ngành kỹ thuật chính
là những người đang học trong các trường đại học khối ngành kỹ thuật. Họ được
đào tạo một cách bài bản, chuyên sâu về các ngành nghề kỹ thuật, phục vụ cho
công việc thực tế sau này.
1.1.2.2. Chủ thể giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên
Có nhiều chủ thể tham gia vào việc GDLLCT cho sinh viên và có thể chia
các chủ thể đó ra thành 3 nhóm chủ thể khác nhau: Nhóm chủ thể lãnh đạo, quản
lý; nhóm chủ thể truyền đạt kiến thức lý luận chính trị và nhóm chủ thể hỗ trợ,
phối hợp.
trường giáo dục đầu tiên và thường xuyên đối với mỗi con người. Gia đình chính
là môi trường hiệu quả để giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa,…
cho mỗi sinh viên, đó là những yếu tố tiền đề, khởi đầu cho việc tiếp thu những
kiến thức LLCT sau này của sinh viên.
1.1.2.3. Nội dung giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên
Thứ nhất, công tác GDLLCT hướng đến giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước, tình hình thời sự - chính trị trong nước và quốc tế:
- Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và làm kim chỉ nam cho mọi hành động, công tác tư tưởng nói
chung và công tác GDLLCT nói riêng phải hướng đến mục tiêu đó là đưa hệ tư
tưởng Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành hệ tư tưởng thống trị
trong đời sống xã hội. Vì vậy, công tác GDLLCT phải trang bị cho sinh viên
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
16
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, cần
hướng đến việc giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn.
- Giáo dục về ý thức, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, ý thức tuân thủ
luật pháp của Nhà nước, tinh thần yêu nước, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như việc hiện thực hóa niềm tin ấy thành
hành động thực tiễn, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Trong giáo dục lý luận chính trị mục đích quan trọng nhất là hình thành
và phát triển thế giới quan khoa học và nhân sinh quan Cộng sản chủ nghĩa cho
học sinh, sinh viên. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong suốt cuộc đời của
người công nhân trong tương lai. Vì vậy, giáo dục những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác - Lênin với tư cách là khoa học về thế giới quan khoa học và phương
pháp luận trở thành nội dung cốt lõi nhất, trung tâm nhất của giáo dục lý luận
Thứ ba, giáo dục về truyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc và
những giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc:
- Giáo dục cho sinh viên về lịch sử Đảng, về những truyền thống cách
mạng của Đảng, về những đóng góp lớn lao của Đảng đối với lịch sử phát triển
của đất nước, của dân tộc. Giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp, những cống hiến và
tư tưởng lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
- Giáo dục cho sinh viên về truyền thống dân tộc như truyền thống yêu
nước, thương nòi, truyền thống hiếu học… giáo dục về tinh thần cách mạng, tinh
thần yêu nước, yêu chế độ, trung thành với sự lãnh đạo của Đảng.
18
- Giáo dục về những truyền thống, những tinh hoa văn hóa của Việt Nam
để sinh viên có ý thức bảo tồn, gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa, thuần phong
mỹ tục của dân tộc. Phê phán những trào lưu văn hóa ngoại lai, phản văn hóa ảnh
hưởng tiêu cực đến sinh viên. Giáo dục về lịch sử văn hóa hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước của dân tộc.
1.1.2.4. Hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục lý luận chính trị
cho sinh viên
- Hình thức GDLLCT cho sinh viên tại các trường đại học đào tạo khối
ngành kỹ thuật trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay diễn ra chủ yếu với 2
hình thức đó là giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa. Giáo dục chính
khóa chủ yếu thông qua hoạt động giảng dạy và học tập các môn LLCT trên lớp
còn việc giáo dục ngoại khóa có thể thông qua nhiều hoạt động như các hình
thức văn hóa - văn nghệ - thể thao; các hội thi về kể chuyện tấm gương đạo đức,
thi kỹ thuật, thi tay nghề, thi sáng chế; các hoạt động của Đoàn Thanh niên, hội
sinh viên, câu lạc bộ sinh viên, các buổi học thời sự, nghị quyết…
- Phương pháp GDLLCT cho sinh viên khá phong phú, đa dạng như
phương pháp thuyết trình, giảng giải, phương pháp xêmina, phương pháp nêu
công tác tư tưởng”, đã có một số công trình nghiên cứu đưa ra được định nghĩa
tương đối cụ thể. Tiêu biểu hiện nay có công trình nghiên cứu về hiệu quả công
tác tư tưởng của PGS.TS Lương Khắc Hiếu trong cuốn Nguyên lý công tác tư
tưởng II. Đây là công trình nghiên cứu khá hệ thống và toàn diện về công tác tư
20
tưởng nói chung và hiệu quả công tác tư tưởng nói riêng. Ở đây, tác giả đưa ra
khái niệm: “Hiệu quả công tác tư tưởng là sự tương quan giữa kết quả đạt được
do tác động tư tưởng mang lại với mục đích của công tác tư tưởng được đặt ra
và với chi phí để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định.”
Như vậy, cũng như hiệu quả nói chung, hiệu quả công tác tư tưởng nhấn
mạnh đến ba yếu tố: kết quả, chi phí và mục đích. Kết quả là cái đạt được do
hoạt động tư tưởng mang lại, là sự thay đổi trong nhận thức, thái độ, hành vi của
đối tượng sau một chu trình tác động tư tưởng nhưng chưa tính đến chi phí để có
kết quả đó. Cần phải phân biệt rõ giữa kết quả và hiệu quả trong công tác tư
tưởng.
Từ các quan niệm về hiệu quả trên, có thể đưa ra định nghĩa về hiệu quả
công tác giáo dục lý luận chính trị như sau: Hiệu quả công tác giáo dục lý luận
chính trị là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động của công tác
GDLLCT mang lại với mục đích của công tác GDLLCT đã đặt ra và với việc sử
dụng nguồn lực để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định.
Nguồn lực ở đây được hiểu là những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất
phục vụ cho mục tiêu nhất định: tiền bạc, cơ sở vật chất, con người, thời gian…
Cần phải phân biệt giữa hiệu quả và kết quả. Kết quả là cái đạt được do
hoạt động tư tưởng mang lại, là sự thay đổi trong nhận thức, thái độ, hành vi của
đối tượng sau một chu trình tác động tư tưởng nhưng chưa tính đến chi phí để có
kết quả đó. Còn hiệu quả là tương quan, là sự so sánh của kết quả với mục đích
và chi phí trong công tác tư tưởng. Nói cách khác, hiệu quả là sự so sánh giữa cái
dùng lời nói; phương pháp đối thoại (sử dụng đàm thoại, vấn đáp, hỏi đáp, phỏng
22
vấn,…); phương pháp trực quan (thông qua các bài giảng điện tử, đa phương
tiện…); phương pháp độc thoại (thuyết trình, giảng dạy, diễn giảng)….
Mặt khác, để tạo được sự hứng thú cho đối tượng GDLLCT, cần lựa chọn
cách thức tổ chức, phối hợp hoạt động giữa chủ thể và đối tượng một cách phù
hợp. Nói cách khác, cần bố trí, sắp xếp các yếu tố bảo đảm các bước tiến hành
theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện mục đích của công tác GDLLCT. Căn
cứ vào đặc điểm của đối tượng, chủ thể GDLLCT có thể đưa ra một số hình thức
như: giảng dạy trên lớp thông qua các bài giảng, đi tham quan dã ngoại thực tế,
tổ chức các hội thi tìm hiểu, thông qua các hoạt động ngoại khóa… trong đó,
việc giảng dạy các môn học lý luận chính trị trên lớp chính là hình thức quan
trọng và chủ yếu nhất.
Ngoài ra, cách viết, cách nói hấp dẫn của chủ thể GDLLCT cũng là yếu tố
tạo lập sự hứng thú cho đối tượng. Trong quá trình giảng dạy,giảng viên cần
khéo léo, sáng tạo, vận dụng linh hoạt các phương thức phù hợp để lôi kéo và thu
hút đối tượng, tạo được sự chú ý của người học.
Tiêu chuẩn tinh thần tiếp theo trong việc đánh giá hiệu quả công tác
GDLLCT chính là trình độ nhận thức của đối tượng. Nhận thức có vai trò quan
trọng trong sự phát triển của con người. Đối với công tác GDLLCT cũng vậy, cái
đích mà công tác này hướng đến trước tiên chính là nâng cao trình độ nhận thức
lý luận chính trị của sinh viên nói chung và sinh viên khối ngành kỹ thuật nói
riêng. Đó là sự nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tình hình
thời sự chính trị trong nước, quốc tế… Chỉ có nâng cao nhận thức lý luận chính
trị thì sinh viên mới hình thành được tư duy chính trị đúng đắn, nắm vững được
các tri thức cơ bản của lý luận chính trị để từ đó tạo nền tảng hình thành nên bản
mình. Học tập các môn học lý luận chính trị đạt được kết quả cao. Cơ bản nắm
được những nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận,…
Nắm được những nội dung cơ bản của LLCT và có khả năng liên hệ thực tiễn
vào công việc học tập hiện tại và công tác sau này của bản thân mình.
Mức độ thứ ba: sinh viên không chỉ chủ động, tự giác trong học tập LLCT
mà còn tham gia tích cực vào việc thực hiện công tác GDLLCT như tham gia
vào các hoạt động Đoàn, hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khóa… Sinh viên
hình thành được cho mình một thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách
mạng, phương pháp luận biện chứng… Có khả năng vận dụng sáng tạo những tri
thức lý luận ấy vào thực tiễn công việc của mình. Quan tâm đến tình hình chính
trị trong nước, quốc tế. Có bản lĩnh chính trị vững vàng và biết đứng lên bảo vệ
cái đúng, lên án những cái hạn chế, tiêu cực…
Như vậy, hiệu quả công tác GDLLCT là kết quả của sự thống nhất chặt
chẽ giữa nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên, trong đó tự giác trong học tập
tri thức LLCT và vận dụng những tri thức LLCT ấy vào trong thực tiễn, cụ thể
hóa bằng hành động học tập, rèn luyện, công tác là hiệu quả cao nhất của công
tác GDLLCT.
Hai là, nhóm tiêu chí đánh giá việc sử dụng các nguồn lực trong công tác
GDLLCT.
Để đạt hiệu quả cao trong công tác GDLLCT cần có sự phối hợp đồng bộ
giữa các nguồn lực: nhân lực, tài lực và vật lực và tin lực. Sự phối hợp này được
thể hiện như sau:
Về nhân lực: Bao gồm đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục và đội
ngũ cán bộ, giảng viên trực tiếp tiến hành công tác GDLLCT.
25