HỎI & ĐÁP KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
HỎI & ĐÁP
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
(Dùng cho học viên các hệ đào tạo lý luận chính trị
và sinh viên các trường đại học, cao đẳng)
(Tái bản lần thứ hai)
PGS. TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN
- TS VŨ THỊ THOA
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế chính trị Mác-Lênin, một trong những học phần quan trong cấu
thành bộ môn khoa học Mác-Lênin, được coi là môn khoa học khó đối với các
bậc học thuộc các hệ đào tạo chuyên và không chuyên về kinh tế. Để giúp
bạn đọc tiếp cận và giải quyết được những khó khăn trong quá trình học tập
và nghiên cứu môn học, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính tổ chức xuất
bản cuốn sách Hỏi & đáp Kinh tế chính trị Mác-Lênin.
Cuốn sách giới thiệu những nội dung cơ bản nhất, hệ thống hóa, khái
quát hóa toàn bộ kiến thức trừu tượng, khó hiểu của môn học Kinh tế chính trị
Mác-Lênin thành những vấn đề đơn giản, dễ hiểu. Từ những vấn đề về kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đến những quan điểm
mới nhất về kinh tế được Đại hội đại biểu toàn quốc toàn quốc lần thứ X của
Đảng thông qua. Vấn đề kinh tế tập thể, kinh tế cá thể... đến các quan điểm
của Đảng, Nhà nước về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân... tất cả được
hệ thống hóa, cô đọng trong 101 câu hỏi kèm theo phần giải đáp được giới
thiệu rõ ràng, mạch lạc và dễ hiểu. Cuốn sách được biên soạn theo tinh thần:
- Căn cứ theo chương trình chuẩn của Bộ Giáo dục - Đào tạo, giáo
trình phục vụ các hệ đào tạo lý luận chính trị cao cấp, cử nhân và trung cấp.
- Kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu trước đây về môn khoa học
Kinh tế chính trị Mác – Lênin; lĩnh hội những tri thức mới nhất về kinh tế học
và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu quan hệ xã hội của con người
hình thành trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất và vạch rõ
những quy luật điều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của
cải đó trong những trình độ nhất định của sự phát triển xã hội loài người. Tóm
lại, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là nghiên cứu các quan hệ sản
xuất trong mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau với lực lương sản xuất và kiến
trúc thượng tầng.
1.2 Phải nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại
với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng vì:
- Các quan hệ sản xuất phải phù hợp với một trình độ nhất định của lực
lượng sản xuất, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự biến đổi của
quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất,
đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Các quan hệ sản xuất là cơ sở của kiến trúc thượng tầng và kiến trúc
thượng tầng, nhất là quan hệ chính trị, pháp luật... tác động trở lại quan hệ
sản xuất và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, biểu hiện rõ nhất
là vai trò kinh tế của nhà nước trong xã hội hiện đại.
Câu 2. Quy luật kinh tế là gì? Nêu đặc điểm hoạt động của quy luật
kinh tế. Phân biệt quy luật kinh tế với chính sách kinh tế
2.1. Quy luật kinh tế là những mối liên hệ nhân quả bản chất, tất yếu,
có tính ổn định, thường xuyên lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình
kinh tế.
2.2. Đặc điểm hoạt động của quy luật kinh tế
- Quy luật kinh tế có tính khách quan, không lệ thuộc vào ý chí và nhận
thức chủ quan của con người.
- Quy luật kinh tế chỉ xuất hiện trong quá trình hoạt động kinh tế của
con người.
- Quy luật kinh tế có tính lịch sử, nó chỉ tồn tại trong những điều kiện
3.2 Ví dụ vận dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học trong
kinh tế chính trị
Để vạch ra bản chất của CNTB hoàn toàn có thể và cần phải trừu
tượng hoá sản xuất hàng hóa nhỏ, mặc dù nó thực sự tồn tại với mức độ ít
hoặc nhiều ở tất cả các nước tư bản chủ nghĩa, nhưng không được trừu
tượng hoá bản thân quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Bởi vì tư bản lấy quan hệ
hàng hoá - tiền tệ làm hình thái tồn tại của mình. Và càng không được trừu
tượng hoá việc chuyển hóa sức lao động thành hàng hoá, bởi vì không có
hàng hoá sức lao động thì CNTB không còn là CNTB nữa.
Câu 4. Các chức năng của Kinh tế chính trị Mác - Lênin. Sự cần
thiết phải học tập môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin.
4.1. Chức năng của KTCT Mác - Lênin: có 4 chức năng chủ yếu:
- Chức năng nhận thức: Chức năng này giúp cho người học nhận thức
đúng đắn những nguyên lý cơ bản, những luận điểm khoa học của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua việc nắm vững hệ
thống các khái niệm, phạm trù, quy luật kinh tế khách quan. Những tri thức do
KTCT cung cấp là cơ sở khoa học để đề ra đường lối, chính sách kinh tế định
hướng cho sự phát triển kinh tế và cũng là cơ sở khoa học giúp người học
nhận thức đúng các hiện tượng và quá trình kinh tế đang diễn ra trong thực
tiễn, thực hiện tốt đường lối, chính sách kinh tế.
- Chức năng thực đến: KTCT phát hiện ra những quy luật và những xu
hướng phát triển chung, cung cấp những tri thức để giải quyết tốt những vấn
đề cụ thể mà thực tiễn đặt ra. Đồng thời nắm vững những lý luận khoa học nó
sẽ là lực lượng vật chất giúp quyết định hành động thực tiễn của người học
nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn.
- Chức năng phương pháp luận: Là nền tảng lý luận cho một tổ hợp các
khoa học kinh tế, trong đó có các khoa học kinh tế ngành và một loạt khoa
học kinh tế nằm giáp ranh giữa các tri thức ngành khác nhau.
Câu 6. phân tích các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản
xuất. Phân biệt sức lao động và lao động.
6.1 Các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất
Bất kỳ một quá trình lao động sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của
ba yếu tố: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
- Sức lao động là “toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra
vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” (1). Sức lao động là
khả năng lao động của con người. là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình
sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội. Nó được đưa
vào sản xuất thông qua lao động.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm
biến đổi những vật chất tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người.
Đây là hoạt động cơ bản nhất, riêng có của con người và xã hội loài người.
- Đối tượng lao động là những vật mà lao động của con người tác động
vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp nhu cầu của mình. Đối tượng lao động có
thể phân thành hai loại:
+ Loại có sẵn trong tự nhiên, loại này thường là đối tượng lao động của
các ngành công nghiệp khai thác.
+ Loại đã qua lao động, được cải biến ít nhiều (gọi là nguyên liệu - loại
này là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến).
Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển làm cho vai trò của đối
tượng lao động thay đổi, nhiều loại đối tượng lao động mới được tạo ra và có
chất lượng ngày càng tốt hơn. Người ta có thể phân loại: Vật liệu có nguồn
gốc tự nhiên và vật liệu nhân tạo. Tuy vậy, cơ sở của mọi đối tượng lao động
vẫn là đất đai, tự nhiên.
Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ
truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động nhằm biến đổi
+ Quan hệ sở hữu: Là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm
hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
+ Quan hệ quản lý: Là quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức
quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau.
+ Quan hệ phân phối: Là quan hệ giữa người với người trong phân
phối và lưu thông sản phẩm xã hội.
7.3. Sư thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất tạo thành phương thức sản xuất. Trong sự thống nhất
biện chứng này, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không phải
hoàn toàn thụ động, mà có tác động trở lại lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, còn ngược lại, nếu nó không phù hợp
với lực lượng sản xuất thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản
xuất.
Câu 8. Tái sản xuất là gì? Nội dung cơ bản của tái sản xuất xã hội.
8.1. Tái sản xuất
- Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và
phục hồi không ngừng.
- Có thể phân loại tái sản xuất theo những tiêu chí khác nhau:
+ Theo phạm vi: Có tái sản xuất cá biệt là tái sản xuất diễn ra trong
từng đơn vị kinh tế, từng xí nghiệp và tái sản xuất xã hội là tổng thể của tái
sản xuất cá biệt trong mối liên hệ hữu cơ với nhau.
+ Theo quy mô: Có tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như
cũ, chưa có sản phẩm thặng dư hoặc nếu có thì rất ít và phần thặng dư đem
tiêu dùng hết cho cá nhân. Tái sản xuất giản đơn thường gắn liền với nền sản
nhân tố tốc độ gia tăng dân số và lao động, xu hướng thay đổi công nghệ, cơ
cấu, số lượng và tính chất của lao động, năng lực tích lũy vốn để mở rộng
sản xuất của một quốc gia... Tái sản xuất sức lao động về mặt chất lượng thể
hiện ở việc tái sản xuất ra thể lực và trí lực người lao động qua các chu kỳ
sản xuất. Nó phụ thuộc vào các nhân tố như: Mục đích của nền sản xuất, chế
độ phân phối sản phẩm, địa vị của người lao động, trình độ phát triển khoa
học và công nghệ, chính sách giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ.
- Tái sản xuất quan hệ sản xuất là quá trình củng cố, phát triển và hoàn
thiện quan hệ sản xuất trên cả ba mặt: Quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và
quan hệ phân phối làm cho quan hệ sản xuất thích ứng với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Tái sản xuất môi trường sinh thái là quá trình bảo vệ và tái tạo các
điều kiện tự nhiên cho sản xuất và đời sống của con người (khôi phục và tăng
thêm độ màu mỡ của đất đai, làm sạch nguồn nước và không khí...) để đảm
bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững của mỗi quốc gia, của cả loài
người.
Câu 9. Thế nào là tăng trưởng kinh tế? Các nhân tố ảnh hưởng
đến tăng trưởng kinh tế.
9.1 Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng tốc độ
và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Để tính mức tăng trưởng kinh tế của một nước, thước đo tiện lợi nhất là
mức gia tăng GNP và GDP năm sau so với năm trước.
[(GNPI – GNPo) : GNPo] x 100%
Hoặc
[(GDP1 – GDP0) : GDPo] x 100%
Trong đó:
GNPO và GDP0: Là tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm quốc
giữa các vùng, khắc phục nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, sử dụng
và phát huy có hiệu quả các nguồn lực, hạn chế tác động tiêu cực của cơ chế
thị trường, khuyến khích tích luỹ, tiết kiệm, kích cầu...
Câu 10. Phát triển kinh tế là gì? Hãy nêu nội dung của phạm trù
phát triển kinh tế.
10.1. Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn
thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm
công bằng xã hội.
10.2. Nội dung của phát triển kinh tế gồm:
- Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc
dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người.
- Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng các
ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ
trọng nông nghiệp ngày càng giảm xuống.
- Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự
tăng lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế... mà mỗi người dân
được hưởng.
=> Phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể:
- Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số.
- Sự tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ để
đảm bảo tăng trưởng bền vững.
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội.
- Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu
cầu của con người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.
Câu 11. sản xuất hàng hoá là gì? Phân tích điều kiện ra đời và tồn
tại của sản xuất hàng hoá? Ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế
tự nhiên.
đáp ứng nhu cầu xã hội tốt hơn.
- Sản xuất hàng hoá tạo điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá
giữa các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển,
tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của người
dân, làm nền kinh tế phát triển năng động và có hiệu quả hơn.
Câu 12. Hàng hoá là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá? Vì
sao hàng hóa có hai thuộc tính? Vì sao nói giá trị biểu hiện quan hệ sản
xuất xã hội?
12.1 Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua trao đổi hoặc mua
bán.
12.2. Hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị.
- Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của vật phẩm có thể thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người. (Ví dụ:Gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để
đi...).
Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy
định, nó là nội dung vật chất của của cải. Giá trị sử dụng của hàng hoá không
phải cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là cho người khác, cho xã
hội thông qua trao đổi - mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là
vật mang giá trị trao đổi.
- Giá trị của hàng hoá: Muốn hiểu giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị
trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi giữa các giá trị
sử dụng khác nhau. Hai sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao
đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao
động, đều có cơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao
động hao phí để sản xuất ra hàng hoá ẩn giấu trong hàng hoá chính là cơ sở
để trao đổi. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất
hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Chất của giá trị là lao động. Lượng của giá
những người sản xuất hàng hoá.
Câu 13. Lượng giá trị hàng hoá được đo bằng đơn vị gì? Phân tích
mối quan hệ giữa lượng giá trị hàng hoá và năng suất lao động.
13.1. Lượng giá trị hàng hoá là số lượng lao động của người sản xuất
hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
Lượng giá trị hàng hoá là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra
hàng hoá đó quyết định. Đo lượng lao động bằng thời gian lao động, nhưng
không phải thời gian lao động cá biệt mà bằng thời gian lao động xã hội cần
thiết, là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điều kiện bình
thường của xã hội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo
trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất
định. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết từng hợp với thời gian
lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá nào đó
trên thị trường.
13.2. Mối quan hệ giữa lượng giá trị hàng hoá và năng suất lao
động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, nó được
tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số
lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian cần thiết để sản xuất ra
hàng hoá càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược
lại, năng suất lao động xã hội càng giảm thì thời gian cần thiết để sản xuất ra
hàng hoá càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều.
Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết
tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Như vậy muốn giảm giá trị của 1
đơn vị hàng hoá xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động.
Năng suất lao động phụ thuộc vào các nhân tố, trình độ khéo léo người
lao động, sự phát triển khoa học - kỹ thuật - công nghệ và trình độ ứng dụng
aH1 hoặc bH2 hoặc cH3 hoặc … = xgr (Vàng trở thành vật ngang giá
chung)
=> Bản chất của tiền: Tiền tệ là vật ngang giá chung cho tất cả các
hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị và thể hiện lao động xã hội, đồng
thời biểu hiện quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá.
14.2 Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt vì tiền tệ cũng là hàng hóa có
giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của tiền (vàng) cũng như giá trị của hàng hoá
khác, do lao động trừu tượng của người sản là sản xuất ra vàng tạo nên.
Nhưng tiền tệ không phải là hàng hóa thông trường mà là hàng hóa đặc biệt
đóng vai trò vật ngang giá chung cho tất cả hàng hoá. Giá trị sử dụng của tiền
(vàng) khác với các hàng hoá thông thường ở chỗ nó không chỉ thoả mãn nhu
cầu sử dụng của con người mà còn làm vật ngang giá chung, làm thước đo
giá trị của tất cả các hàng hoá khác.
Câu 15. Trình bày nội dung của quy luật lưu thông tiền tệ. Ý nghĩa
thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật đó.
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền tệ cần thiết
cho lưu thông hàng hoá ở mỗi thời kỳ nhất định.
15.1. Nội dung của quy luật lưu thông tiền tệ xác định số tiền phát hành
cần thiết cho lưu thông trong từng thời kỳ. Nó được tính theo công thức:
M = P.Q/V
Trong đó:
M: số lượng tiền cần thiết cho lưu thông
P: mức giá cả
Q: khối lượng hàng hoá, dịch vụ đem ra lưu thông trên thị trường
V: số vòng chu chuyển trung bình của 1 đơn vị tiền tệ
Khi tiền vừa làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện
thanh toán thì lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như sau:
thị trường giá cả hàng hoá phụ thuộc vào các nhân tố giá trị của hàng hoá,
cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền... Giá cả hàng hoá biến động
lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Sự vận động của giá cả thị trường của
hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy
luật giá trị.
16.2. Tác dụng của quy luật giá trị (3 tác dụng)
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
+ Điều tiết sản xuất: Là điều hòa, phân bố các yếu tố sản xuất giữa các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Dựa vào sự biến động của giá cả thị
trường, người sản xuất biết được hàng hoá nào đang thiếu, bán chạy, có giá
cao và nhiều lãi, hàng hoá nào ế thừa, giá thấp. Để từ đó họ sẽ mở rộng sản
xuất những mặt hàng đang thiếu bán chạy, nhiều lãi và ngược lại thu hẹp sản
xuất, thậm chí đóng cửa không sản xuất những mặt hàng ế thừa, không tiêu
thụ được. Như vậy, các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động và
tiền vốn được chuyển dịch từ ngành này sang ngành khác, làm quy mô sản
xuất ngành này mở rộng, ngành kia thu hẹp.
+ Điều tiết lưu thông: Dưới tác động của quy luật giá trị, hàng hoá được
di chuyển từ nơi giá thấp đến nơi giá cao thông qua sự biến động giá cả thị
trường.
- Kích thích cải tiên kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao
động... thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Trong nền kinh tế hàng hoá, các hàng hoá được sản xuất ra trong
những điều kiện khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, ai có hao
phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá thì sẽ có
lợi, có nhiều lãi. Ngược lại thì sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi thế trong
cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản họ phải hạ thấp hao phí lao động
cá biệt của mình hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy họ
phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao
(chứ không phải bán rồi mới mua); trong công thức (1) điểm mở đầu và kết
thúc đều là tiền, hàng hoá chỉ là trung gian trong trao đổi, tiền được ứng trước
để thu về số lượng lớn hơn T’ > T hay T’ = T + ∆t (∆t chính là số tiền trội hơn
số tiền ứng ra, C.Mác gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m).
Mục đích của trao đổi, công thức (1) mục đích không phải là giá trị sử
dụng mà là giá trị, hơn nữa là giá trị thặng dư (chứ không phải giá trị sử dụng
như ở công thức (2)).
Giới hạn của sự vận động, công thức (1) sự vận động của tư bản là
không có giới hạn. Còn công thức (2) sự vận động là có giới hạn.
17.2 Công thức T - H – T’ được gọi là công thức chung của tư bản
vì mọi tư bản đều vận động theo công thức này, dù là tư bản thương nghiệp,
tư bản công nghiệp hay tư bản cho vay.
Câu 18. Sức lao động là gì? Phân tích điều kiện biến sức lao động
thành hàng hoá.
18.1. Sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực, trí lực tồn tại trong cơ
thể sống của con người mà con người có thể sử dụng trong quá trình lao
động sản xuất. Sức lao động là khả năng của lao động.
Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất. Nó chỉ trở
thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định.
18.2. Điều kiện để biến sức lao động thành hàng hoá (2 điều kiện)
- Thứ nhất, người có sức lao động được tự do về thân thể, tự do chi
phối sức lao động của mình, tự do đem bán sức lao động của mình như một
hàng hoá, nhưng chỉ bán trong một thời gian nhất định.
- Thứ hai, người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp
với sức lao động của mình, buộc phải bán chính sức lao động tồn tại trong cơ
thể sống của anh ta.
Sức lao động trở thành hàng hoá là điều kiện quyết định để biến tiền
thành tư bản. Sức lao động biến thành hàng hoá là nhân tố đánh dấu một giai
Câu 20. Quá trình sản xuất TBCN là gì? Giá trị thặng dư được sản
xuất ra như thế nào?
20.1. Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa
quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng
dư.
C.Mác viết: “Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và
quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng
hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm
tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất TBCN, là hình thái
tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”1.
20.2. Giá trị thặng dư được sản xuất trong nền tinh tế hàng hoá
TBCN. Để sản xuất, nhà tư bản phải mua các yếu tố sản xuất gồm tư liệu sản
xuất và sức lao động. Giả định việc mua này đúng giá trị. Ví dụ, để sản xuất
20kg sợi trong 12giờ chia làm 2 lần.
Trong 6 giờ đầu, để sản xuất 10kg sợi, nhà tư bản ứng trước để:
- Mua 10kg bông hết 10 USD.
- Đểchuyển 10kg bông thành sợi, chi phí về hao mòn máy móc hết 2
USD.
- Mua sức lao động trong cả ngày (12 giờ) là 3 USD.
Giả sử trong 6 giờ đầu, bằng lao động cụ thể, người công nhân chuyển
hết 10kg bông thành sợi và bằng lao động trừu tượng tạo thêm lượng giá trị
mới là 3 USD. Kết quả sản xuất tạo ra 1 lượng sợi với giá trị là 15 USD. Như
vậy nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm bù đắp lại giá trị - sức lao