Câu hỏi môn kinh tế chính trị CCLL - Pdf 41

KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Câu 1: Sản xuất hàng hoá và các quy luật sản xuất hàng hoá? Liên hệ và nghiên
cứu về mô hình nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không
phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
Thứ nhất, phân công lao động xã hội: là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao
động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau nên việc trao đổi sản phẩm
trở thành tất yếu, phụ thuộc vào sản phẩm của nhau, do đó buộc phải trao đổi với nhau.
Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: những
người SX trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra
thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động
của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá. Đó là hai điều kiện cần và đủ
của sản xuất hàng hóa. Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa.
Các quy luật của sản xuất hàng hóa
- Quy luật giá trị: Là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá vì nó
quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất
hàng hóa, được thể hiện:
+ Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức trên cơ sở hao
phí lao động xã hội cần thiết.
+ Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí
sức lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí sức lao động xã hội cần thiết,
có như vậy họ mới có thể tồn tại được.
+ Trong trao đổi, hay lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng
hoá trao đổi được với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi,
mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị.
+ Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng
giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị. Tác động điều tiết lưu thông
hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn
đến nơi có giá cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân

* Cung và cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cầu xác định cung và ngược lại,
cung xác định cầu. Cầu xác định khối lượng, cơ cấu của cung về hàng hóa. Cung tác động
đến cầu, kích cầu.
* Khi cung = cầu, thì giá cả = giá trị
* Khi cung > cầu, thì giá cả < giá trị
* Khi cung < cầu, thì giá cả > giá trị
Đó là cơ chế tự điều chỉnh của nền kinh tế hàng hóa; là quy luật cung cầu.
- Quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát:
+ Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định lượng tiền cần thiết cho lưu thông
hàng hóa trong một thời kỳ nhất định.
+ Lạm phát: Là một hiện tượng khủng hoảng tiền tệ, đồng tiền bị mất giá vì tiền giấy
không thực hiện được chức năng là phương tiện cất trữ.
Nghiên cứu mô hình kinh tế thị trường ở Việt nam: Trên tinh thần đổi mới tư duy,
trước hết là tư duy kinh tế và trên cơ sở tổng kết những thành công, yếu kém, khuyết điểm
và bài học kinh nghiệm trong những bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã xác
định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt
thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở VN. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại
là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường hiện đại phải dựa trên nền tảng sở hữu hỗn hợp của
các chủ thể thị trường. Trong nền kinh tế này, sở hữu hỗn hợp dựa trên chế độ cổ phần phải
chiếm ưu thế phổ biến. Bởi vì, sở hữu hỗn hợp chiếm ưu thế phổ biến là kết quả xã hội hóa
sản xuất và xã hội hóa sở hữu ở trình độ cao do yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất,
khoa học, công nghệ và trình độ quản lý. Hình thức sở hữu này đang ngày càng phát triển,
từng bước vượt qua biên giới của một quốc gia và gắn liền với sự phát triển mạnh của các
công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia.
Thứ hai, nền kinh tế thị trường hiện đại phải dựa trên những thành tựu của khoa học,
công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức - một trong những nhân tố quyết định trực tiếp đến sự
giàu mạnh, văn minh của mọi quốc gia.

mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau.
- Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: Hai thuộc tính này cùng tồn tại ở một sự vật
- Mặt mâu thuẫn: Gía trị sử dụng dành cho người tiêu dùng; GT dành cho người SX
* Ưu thế của sản xuất hàng hoá
* Ưu thế
- Xoá bỏ tính tự cung tự cấp, thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển
- Kích thích tính năng động sáng tạo của người lao động
- Tạo điều kiện ứng dụng những thành tựu KHKT để tăng năng suất lao động
- Mở rộng giao lưu kinh tế- văn hoá→mở rộng thị trường
* Hạn chế
- Phân hoá giàu nghèo
- Tiềm ẩn khủng hoảng kinh tế-chính trị
- Phá hoại môi trường sinh thái
2. Sản xuất hàng hoá: Xem câu 1 phần sản xuất hàng hóa
3. Liên hệ và nghiên cứu về cơ chế thị trường và vai trò của nhà nước trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng lý luận về hàng hoá và sản xuất hàng hoá của
C.Mác vào thực tiễn phát triển của đất nước. Trước kia, do chủ quan nóng vội sai lầm mà
nước ta đã xoá bỏ nền kinh tế thị trường,xoá bỏ các thành phần kinh tế, phát triển kinh tế
theo cơ chế quan liêu bao cấp. Sau 1986, chúng ta tiến hành đổi mới với chủ trương cơ bản
là xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, phát triển KT thị trường với nhiều thành phần kinh tế
dưới sự quản lý của NN.
- Việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là một tất yếu, hợp quy luật : Nhà nước
còn tồn tại những điều kiện của việc phát triển kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là cần
thiết và tất yếu trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, đặc biệt là
trong điều kiện ngày nay.
- Bản chất của nền KTTT ở VN được khẳng định ở Đại hội XI : Nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của NN, dưới sự lãnh đạo của Đảng
CSVN ...

trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức?
1- Học thuyết giá trị thặng dư của Mác : Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan
trọng thứ hai sau CN duy vật lịch sử của C. Mác. Nội dung chính của học thuyết phát biểu
rằng SX và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong CNTB về SX và chiếm
hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt
động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác.
Trong học thuyết này C.Mác đưa ra công thức T-H-T’ (tiền-hàng hóa-tiền) để minh
họa cho sự biến đổi của vốn tư bản dạng tiền sang dạng hàng hóa và cuối cùng quay trở lại
dạng tiền ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT (nghĩa là T’=T+ ΔT). Bởi tất cả giá trị
được tạo thành trong quá trình biến đổi thông qua sản xuất hàng hóa là do lao động, mà chủ
yếu là lao động của người làm thuê, nên giá trị thặng dư ΔT cũng là giá trị do lao động kết
tinh. Tuy nhiên, giá trị này không được chia đều cho những người trực tiếp làm ra nó, mà
thuộc quyền sở hữu của chủ tư bản. Khác với công thức H-T-H phản ánh chức năng trung
gian của tiền trong trao đổi, công thức T-H-T’ phản ánh sự luân chuyển và tự phát triển của
tư bản. Tư bản dưới dạng tiền trở thành một chủ thể tự thân, đối lập với sức lao động, bóc
lột sức lao động để nuôi lớn mình lên.
Theo công thức đã dẫn thì tư bản có khả năng lớn lên vô giới hạn. Tuy nhiên Marx
cũng chỉ ra giới hạn nhất định của phát triển tư bản do chi phối của quy luật lợi nhuận trung
bình. Lợi nhuận trung bình xảy ra do sự cạnh tranh tư bản giữa các ngành kinh tế khác nhau.
Mặc khác, do khả năng chi trả trong thị trường cho nhu cầu tiêu dùng là có hạn, nên điều đó
cũng kìm hãm tốc độ vận động của tư bản.
Hình thức cao nhất của sự phát triển tư bản là cho vay lãi. Chủ nhân của tư bản vay lãi
có cảm giác rằng tiền đẻ ra tiền và công thức vận động của tư bản biến thành T-T’.
Giá trị thặng dư được C.Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền
nhà tư bản bỏ ra. Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu
sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến.
Tuy nhiên, người lao động đã đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến
mà nhà tư bản trả cho người lao động. Phần dư ra đó gọi là giá trị thặng dư. Tức là sản lượng
của hàng hóa làm ra có giá trị cao hơn phần tiền mà nhà tư bản trả cho công nhân và mức
chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư.

bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức SX và thúc đẩy LLSX phát triển, thì chừng đó chúng
ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Hai là, trong thực tế nền KT thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, mọi
phuơng án tìm cách định hướng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong
việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng
lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục
hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng pháp luật. Đường lối chủ
trương chính sách của Đảng và NN mỗi khi được thể chế hóa thành luật làm công cụ và cơ
sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp
hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh. Trong nhận thức, quan điểm
chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp
pháp. Trong quản lý xã hội phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp
để, một mặt chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua
nhà nước và các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Đây là một hướng tiếp
cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về
quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong môt giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải
phóng sức sản xuất, tạo động lực PT KT và chủ động hội nhập với nền KT quốc tế.
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn
giới chủ sử dụng lao động bằng pháp luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới đảm bảo công
khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động
là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh được những xung đột
không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ
mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được pháp luật bảo vệ, của
tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý
quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho
cả qúa trình hoàn thiện và xây dựng mô hình KT TT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Biểu hiện mới về giá trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức: Xu hướng chuyển từ
một nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế dựa vào tri thức đã xuất hiện và đang từng
bước trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong động thái phát triển kinh tế của nền kinh tế thế giới.
7

thể những tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ với nhau.
Tái sản xuất, có thể chia thành hai mức độ là tái sản xuất giản đơn và mở rộng.
Tái sản xuất giản đơn: Là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ. Đây là
đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất nhỏ.
Tái sản xuất mở rộng: là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước và
là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất lớn.
Theo kinh tế chính trị Mác-Lênin thi lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy
việc chuyển từ tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất mở rộng là quá trình lâu dài gắn liền
với quá trình chuyển nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.
- Tái sản xuất xã hội gồm các khâu sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Trong
mối quan hệ giữa các khâu thì sản xuất là gốc, có vai trò quyết định và tiêu dùng là mục
đích, là động lực của sản xuất còn phân phối và trao đổi là những khâu trung gian nối sản
xuất với tiêu dùng, có tác động đến cả sản xuất và tiêu dùng
Sản xuất là khâu đầu tiên, trực tiếp tạo ra sản phẩm, giữ vai trò quyết định đối với các
khâu khác.
Phân phối và trao đổi vừa là khâu trung gian, là cầu nối sản xuất với tiêu dùng, vừa có
tính độc lập tương đối với sản xuất và tiêu dùng, vừa có tính độc lập tương đối với nhau.
Trao đổi bao gồm trao đổi hoạt động thực hiện trong quá trình sản xuất và trao đổi sản
phẩm xã hội.
Tiêu dùng là khâu cuối cùng, là điểm kết thúc của một quá trình tái sản xuất. Tiêu
dùng là mục đích của sản xuất, tạo ra nhu cầu cho sản xuất. Tiêu dùng là một trong những
căn cứ quan trọng để xác định khối lượng, cơ cấu, chất lượng, hình thức sản phẩm.
- Tái sản xuất của cải vật chất: Là việc sản xuất lại các của cải vật chất mà đã bị tiêu
hao, hao hụt do quá trình tiêu dùng của con người hay mất mát vì các lý do khác nhau
(Trong tái sản xuất của cải vật chất thì tái sản xuất ra tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định
đối với tái sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, nhưng tái sản xuất ra tư liệu tiêu dùng lại có ý
nghĩa quyết định để tái SX sức lao động của con người, lực lượng SX hàng đầu của XH).
- Tái sản xuất sức lao động: Sức lao động xã hội cũng không ngừng được tái tạo. Tái
sản xuất mở rộng sức lao động về mặt chất lượng thể hiện ở sự tăng lên về thể lực và trí tuệ
của người lao động qua các chu kỳ sản xuất (Tái sản xuất sức lao động về mặt số lượng chịu

Đóng góp của ngành công nghệ cao trong tổng giá trị tăng thêm của toàn bộ ngành
công nghiệp vẫn còn rất thấp và hầu như không thay đổi. Thực tế đó cho thấy công nghiệp
của nước ta vẫn chủ yếu dựa vào các ngành công nghiệp có trình độ công nghệ thấp.
Hiện nay, khi mà lực lượng lao động VN mới chỉ có lợi thế về lượng, còn chất vẫn là
điều thiếu hụt thì đây là cơ hội đồng thời là sức ép cần phải có các chính sách tạo nên một
lực lượng lao động vàng, có chất lượng đưa đất nước phát triển.
Về khuyến khích và thu hút đầu tư, bằng cách giảm thuế, ưu đãi về đất đai, tài nguyên
thiên nhiên cho các nhà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, nhiều địa phương đã cạnh tranh
nhau theo kiểu “cùng nhau về đáy” gây thiệt hại cho kinh tế địa phương mà cả lợi ích chung
của đất nước.
Áp lực luôn phải huy động thêm khiến vốn đầu tư xã hội được huy động vượt xa tỷ lệ
tiết kiệm nội địa. Và sự mất cân đối giữa tiết kiệm nội địa và đầu tư là nguyên nhân quan
trọng làm cho các cân đối lớn của nền kinh tế chưa được vững chắc, gia tăng thêm sự phụ
thuộc với bên ngoài.
* Vấn đề tái sản xuất xã hội hiện nay ở Việt Nam:
Để đẩy mạnh quá trình tái sản xuất thúc đẩy nền KT tăng trưởng và có hiệu quả trong
điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần NN cần phải tiến hành đồng bộ những biện
pháp vĩ mô để tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển cụ thể là:
- Xác lập, củng cố và nâng cao đị vị làm chủ của người lao động trong nền sản xuất xã
hội. Thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn.
10


- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào
kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
- Phân phối và phân phối lại hợp lý các thu nhập, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi
đôi với xoá đói giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ
phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dâ cư.
- Tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của NN. Khắc phục, ngăn ngừa hạn chế những

sát nhập những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn.
Quá trình tích lũy là quá trình là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng
tăng:
- Quy mô của tư bản cá biệt tăng lên thông qua hai con đường tích tụ tư bản và tập
trung tư bản.
- Tích tụ và tập trung tư bản giống nhau ở chỗ đều làm tăng quy mô của tư bản cá
biệt, nhưng khác nhau về biện pháp thực hiện. Tích tụ tư bản làm cho tư bản xã hội cũng
tăng lên, còn tập trung tư bản không làm tăng tư bản xã hội.
- Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất với nhau, sự
khác biệt này không chỉ về chất mà còn khác nhau về lượng.
- Tập trung tư bản tuy không làm tăng quy mô tư bản xã hội nhưng có vai trò rất lớn
trong quá trình chuyển sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn TBCN và quá trình CNTB từ giai đoạn
thấp lên giai đoạn cao.
Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản: Quy mô của
tư bản mà tăng lên thì cấu tạo của tư bản cũng có sự biến đổi. Mác phân biệt cấu tạo kỹ
thuật, cấu tạo giá trị và cấu tạo hữu cơ của tư bản:
Cấu tạo kỹ thuật của tư bản: Là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức
lao động sử dụng những tư liệu sản xuất đó trong quá trình sản xuất.
- Quan hệ này có tích tất yếu về mặt kỹ thuật, do trình độ PT của LLSX quyết định.
- Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ phát triển của LLSX xã hội. Cấu tạo kỹ thuật của
tư bản ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của CNTB.
Cấu tạo giá trị của tư bản: Là tỷ lệ giữa số lượng giá trị của tư bản bất biến và tư bản
khả biến cần thiết để tiến hành sản xuất. Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị của tư bản có
quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, những sự thay đổi trong cấu tạo kỹ thuật của tư bản sẽ dẫn
đến những thay đổi trong cấu tạo giá trị tư bản.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản: Là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật của tư
bản quyết định và phản ánh những biến đổi của cấu tạo kỹ thuật đó.
- Cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên là một quy luật kinh tế của CNTB. Trong quá
trình phát triển của CNTB, cấu tạo kỹ thuật của tư bản ngày càng tăng, do đó cấu tạo giá trị
của tư bản phản ánh cấu tạo kỹ thuật của tư bản cũng tăng, và do đó, cấu tạo hữu cơ của tư

- Vấn đề huy động vốn cho quá trình CNH, HĐH có ý nghĩa quan trọng đối với nền
KT nước ta. Trước hết là huy động nguồn vốn từ nội bộ nền KT trong nước, đây là nguồn
vốn có tính quyết định, là nhân tố nội lực. Nhờ tăng năng xuất lao động XH một cách liên
tục mà tạo ra nguồn vốn tự có. Nguồn vốn nội bộ còn được tạo ra từ sự liên doanh liên kết
giữa các ngành, các lĩnh vực, các miền, các vùng của nền kinh tế đất nước. Nguồn vốn còn
được tạo ra thông qua sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ phần, thông qua việc huy
động các khoản tiền nhàn rỗi của dân cư, của các cơ sở KT, các tổ chức đoàn thể, thông qua
các khoản thuế nộp ngân sách nhà nước…

13


Câu 6: Giá trị thặng dư, lợi nhuận và quy luật giá trị thặng dư? Liên hệ và
nghiên cứu về vấn đề bóc lột trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và biểu hiện mới
về sản xuất giá trị thặng dự trong nền kinh tế tri thức?
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê
tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Thực chất của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là
quá trình sản xuất vượt qua một điểm ngưỡng mà ở đó người công nhân tạo ra một lượng giá
trị mới lớn hơn lượng giá trị của bản thân họ, điều đó chỉ thực hiện được khi lực lượng sản
xuất phát triển đến một trình độ nhất định, năng suất lao động đạt đến một trình độ nhất định
để người công nhân chỉ cần một phần của ngày lao động đã tạo ra sản phẩm đủ nuôi sống
mình: Giá trị mới tạo ra = giá trị sức lao động + giá trị thặng dư (m)
Gồm có 2 phương thức sản xuất giá trị thặng dư:
- Giá trị thặng dự tuyệt đối: Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách kéo dài ngày lao
động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi gọi là GT thặng dư tuyệt đối.
- Sản xuất giá trị thặng dự tương đối: Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách rút ngắn
thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài
tương ứng thời gian lao động thặng dư gọi là giá trị thặng dư tương đối.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch: là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi giá trị
cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của nó (được tạo ra trong quá trình lưu thông).

đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận gíao điều và xơ
cứng cũ. Càng phát triển nền KT nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ chừng nào quan hệ
bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức SX và thúc đẩy LLSX phát triển, thì chừng đó chúng
ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Hai là, trong thực tế nền KT thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, mọi
phương án tìm cách định hướng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong
việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng
lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục
hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng pháp luật. Đường lối chủ
trương chính sách của Đảng và NN mỗi khi được thể chế hóa thành luật làm công cụ và cơ
sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp
hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên
coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong
quản lý xã hội phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt
chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua nhà nước và
các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc
lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột,
cũng như việc vận dụng nó trong môt giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản
xuất, tạo động lực PT KT và chủ động hội nhập với nền KT quốc tế.
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn
giới chủ sử dụng lao động bằng pháp luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới đảm bảo công
khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động
là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh được những xung đột
không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ
mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được pháp luật bảo vệ, của
tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý
quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho
cả quaá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình KT TT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Biểu hiện mới về giá trị thặng dư trong nền kinh tế tri thức: Xu hướng chuyển từ

lực mọi mặt nhằm bành trướng thế lực trên quy mô toàn cầu với mục đích cố hữu là thu lợi
nhuận độc quyền cao và nó được biểu hiện như sau:
16


- Làn sóng tư bản hóa lan khắp toàn cầu, đẩy chủ nghĩa tư bản chuyển nhanh sang giai
đoạn lũng đoạn quốc tế và toàn cầu.
- Kinh tế thị trường hóa lan ra toàn cầu, các nước phương Tây ra sức hoàn thiện cơ
chế KT thị trường, các nước khác đua nhau xác lập nền kinh tế thị trường. CNTB còn khả
năng PTKT - xã hội, nhất là chuyển sản xuất sang chiều sâu như hiện nay. Sở hữu tư nhân,
lợi ích tư nhân vẫn còn là động lực lâu dài của phát triển kinh tế nói chung trong CNTB.
- Trong tiến trình tự do hóa kinh tế thì tự do hóa tài chính được chú ý nhất, trở thành
đòn bẩy để tư bản lũng đoạn quốc tế khống chế kinh tế toàn cầu. CNTB tạo ra được nền kinh
tế tri thức, chuyển mạnh được sản xuất ở trình độ cơ khí sang tin học hóa và từ đây quá trình
toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển.
- Nhất thể hóa toàn cầu nhằm thống nhất toàn cầu của tư bản về thể chế kinh tế, chính
trị và văn hóa.
- CNTB thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì không đúng với
chính nó. Từ góc nhìn này, CNTB hiện đại thực sự là "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư
bản", là "chủ nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản".
Các bài học nghiên cứu về CNTB đương đại: Trong xã hội tư bản ngày nay, CNTB
ngày nay có thực sự là CNTB hay không? Quy luật giá trị thặng dư có còn là quy luật tuyệt
đối của xã hội tư bản hiện đại hay không? Cần phân tích hết sức khách quan trên cả ba mặt
của quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm.
- Khoa học ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, kinh tế hiện đại cũng
đang chuyển dần sang kinh tế tri thức. Vì vậy, vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất không còn
đóng vai trò quan trọng như đã có trong các thế kỷ trước; sở hữu trí tuệ đã thay thế vai trò
của sở hữu tư liệu sản xuất trong việc đưa loài người tiến lên; chủ thể của sự phát triển và
tiến bộ khoa học là các nhà khoa học chứ không phải các ông chủ tư sản. Quan điểm trên là
hoàn toàn không đúng bởi lẽ, chừng nào xã hội hiện đại vẫn là chế độ tư bản thì mọi quyền

trị thặng dư.
- Nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền: CNTB độc quyền xuất hiện vào cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX do những nguyên nhân sau:
+ Vào cuối thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất trong các nước TBCN có sự phát triển
mạnh mẽ, nhất là khi những phát minh khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, như:
phát minh, chế tạo các lò nấu thép hiện đại; động cơ điện; chế tạo xe hơi, máy bay…
+ Tác động của các quy luật kinh tế đối với CNTB. Dưới tác động của quy luật giá trị,
quy luật tích lũy tư bản, quy luật cạnh tranh, quá trình tích tụ sản xuất sẽ diễn ra liên tục
không ngừng do có sự phá sản của nhiều doanh nghiệp đi liền với sự phát triển của nhiều
doanh nghiệp khác trong quá trình cạnh tranh.
+ Do sự phát triển ngày càng mở rộng của hệ thống tín dụng TBCN đã trở thành đòn
bẩy mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.
+ Cuộc khủng hoảng kinh tế của CNTB năm 1873 và 1900. Cuộc khủng hoảng kinh tế làm
cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phả sản, những liên minh độc quyền ra đời.
2- Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề này:
- Ý nghĩa lý luận: Hiểu sâu sắc những luận điểm của Lênin về CNTB độc quyền: Chủ
nghĩa đế quốc về bản chất là CNTB độc quyền; sự thống trị của CNTB độc quyền sẽ càng
làm cho CNTB trở thành chế độ ăn bám, mục nát, các mâu thuẫn ngày càng gay gắt và tất
yếu đi đến diệt vong, thay thế bằng một chế độ mới tốt đẹp hơn, đồng thời xác định thái độ
chính trị của giai cấp vô sản và chiến lược, sách lược cách mạng xóa bỏ chủ nghĩa đế quốc,
đó là phải làm cách mạng vô sản lật đổ chế độ TBCN.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Nắm chắc quan điểm của Lênin về CN đế quốc, xác định rõ lập trường, không bao
giờ được mơ hồ về bản chất của CNTB, CN đế quốc.
+ Do tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học- công nghệ, CNTB có những
biểu hiện mới. Một mặt phải thấy đằng sau những biểu hiện mới đó, bản chất của CNTB độc
quyền không thay đổi; mặt khác nhà nước ta cũng cần có đường lối chính sách thích ứng, phù
hợp để khai thác những thuận lợi do điều kiện mới mang lại.
3- Vai trò:
- Phát triển lực lượng sản xuất: Quá trình phát triển của CNTB đã làm cho lực lượng

CNTB ngày nay có thực sự là “CNTB xã hội” hay không? Quy luật giá trị thặng dư có còn là
quy luật tuyệt đối của XH tư bản hiện đại hay không? Cần phân tích hết sức khách quan trên
cả ba mặt của quan hệ SX: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm.
- Khoa học ngày nay đã trở thành LLSX trực tiếp, KT hiện đại cũng đang chuyển dần
sang KT tri thức. Vì vậy, vấn đề sở hữu tư liệu SX không còn đóng vai trò quan trọng như đã
có trong các thế kỷ trước; sở hữu trí tuệ đã thay thế vai trò của sở hữu tư liệu SX trong việc
đưa loài người tiến lên; chủ thể của sự phát triển và tiến bộ khoa học là các nhà khoa học
chứ không phải các ông chủ tư sản. Quan điểm trên là hoàn toàn không đúng bởi lẽ, chừng
nào xã hội hiện đại vẫn là chế độ tư bản thì mọi quyền lực chi phối vẫn thuộc về giai cấp nào
nắm giữ tư bản, đó là giai cấp tư sản chứ không có gì thay đổi. Giai cấp tư sản vẫn là giai
cấp thống trị và người công nhân vẫn chỉ là người làm thuê cho ông chủ tư sản mà thôi.
- Ngày nay, CTy CP đã trở thành phổ biến, không chỉ ở các CTy lớn, mà cả ở các CTy
vừa và nhỏ. Trong các CTy CP không chỉ các nhà tư bản có cổ phần, mà những người công
nhân cũng có cổ phần. Trên thực tế, giai cấp tư sản vẫn là giai cấp bóc lột, vẫn sống nhờ vào
lao động làm thuê. Chỉ có khác là trong một CTy hiện đại, người ta không thể biết được
chính xác giá trị thặng dư do người công nhân nào SX và nộp cho ông chủ tư bản cụ thể nào.
- Ngày nay, với sự xuất hiện những nhà máy tự động hóa cao. Tuy nhiên, vẫn là quá
trình lao động đó, nhưng với tính chất lao động trừu tượng, người công nhân đã sáng tạo ra
một giá trị mới, trong đó có giá trị thặng dư. Như vậy, dù cho máy móc và các tư liệu lao
động có hiện đại, những nếu quá trình sản xuất không diễn ra thì giá trị thặng dư vẫn chỉ do
lao động sống của công nhân sản xuất chứ không phải do máy móc tạo ra.
Từ những ptích trên chúng ta có thể kluận về hthức QHSX TBCN ngày nay đã có
những biến đổi nhất định. Song về bản chất, QHSX trong XHTB vẫn không có gì thay đổi,
vẫn là chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất mà thôi. Điều đó cũng có
nghĩa quy luật giá trị thặng dư vẫn là quy luật tuyệt đối của xã hội tư bản hiện đại./
19


Câu 9. Quan hệ sở hữu dưới góc độ Mác-Lênin? Liên hệ và nghiên cứu về quan
hệ sở hữu hiện nay trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam?

Quyền định đoạt (thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng…)
+ Nội dung kinh tế của sở hữu: là lợi ích kinh tế, quyền lợi kinh tế mà đối tượng sở
hữu mang lại cho chủ sở hữu.
Nội dung kinh tế và nội dung pháp lý có mối quan hệ thống nhất với nhau. Người nào
nắm quyền năng pháp lý thì được hưởng lợi ích kinh tế từ quyền đó.
Căn cứ vào mức độ thực hiện 2 nội dung mà trình độ sở hữu từ thấp đến cao, gồm:
Trên công bố
Sở hữu pháp lý: là sở hữu đã được pháp luật thừa nhận, có đủ các quyền năng nhưng
việc có được hưởng lợi ích từ các quyền đó không còn phụ thuộc vào chủ thể sở hữu.
Sở hữu kinh tế: Chủ sở hữu đã thực hiện được các nội dung kinh tế của chủ thể sở hữu
Sở hữu đích thực: Chủ thể SH đã thực hiện đủ quyền năng pháp lý và nội dung k.tế.
2- Quan hệ sở hữu hiện nay trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: Ở thời
kỳ quá độ lên CNXH tồn tại 02 loại hình sở hữu là công hữu và tư hữu.
20


Hiến pháp nước ta xác định trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta tồn tại 3 hình
thức sở hữu chủ yếu: Nhà nước, tập thể và tư nhân.
- Sở hữu NN: là hình thức sở hữu mà Nhà nước là chủ thể hoặc đại diện cho ND sở
hữu. Đối tượng sở hữu gồm: đất đai, rừng biển, vùng trời, tài nguyên trong lòng đất, các
công trình cộng cộng, nguồn vốn nhà nước đầu tư…
Xét về bản chất sở hữu NN và sở hữu toàn dân khác nhau: sở hữu toàn dân có chủ thể
sở hữu là toàn dân, đối tượng sở hữu là tất cả tài sản thuộc sở hữu của 1 đất nước. Nhà nước
đại diện cho 1 g/cấp, 1 XH chứ Nhà nước và ND không phải là 1. Phân biệt này, sẽ phân
định được quyền quản lý, sử dụng của NN với quyền sở hữu toàn dân và nếu không thấy
được sự thống nhất giữa sở hữu toàn dân và NN sẽ không phát huy được vai trò của NN
trong việc quản lý, sử dụng đối tượng thuộc 2 loại sở hữu này.
- Sở hữu tập thể: là sở hữu của 1 tập thể người lao động. Đối tượng là phần tài sản do
quá trình tích lũy chung tạo nên, hoặc phần tài sản được cho, biếu, tặng. Loại sở hữu này
được hình thành trong mọi tập thể lao động: Hợp tác xã, DN của các tổ chức kinh tế, tổ chức

Đại hội 11 của Đảng đã xác định nền kinh tế nước ta có 4 thành phần:
- Kinh tế nhà nước: là TPKT dựa trên hình thức sở hữu NN về TLSX bao gồm các
Doanh nghiệp NN và các tài sản thuộc sở hữu NN như đất dai, ngân sách NN, dự trữ NN….
- Kinh tế tập thể: Là TPKT dựa trên sở hữu tập thể và sự đóng góp về vố, sức lao động
của những người lao động để kinh doanh và quản lý theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng,
hợp tác cùng có lợi bao gồm các HTX và các nghiệp đoàn, hiệp hội.
- Kinh tế tư nhân: Là TPKT dựa trên hình thức sở hữu tư nhân bao gồm các hộ SX kinh
doanh cá thể tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Bao gồm phần vốn đầu tư nước ngoài vào các cơ
sở SXKD ở nước ta.
Trong thời kỳ quá độ, nền KT nước ta tồn tại nhiều thành phần là tất yếu xét cả trên
phương diện lý luận và thực tiễn. Vì vậy, từ ĐHĐB toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta
luôn khẳng định quan điểm thực hiện nhất quán chính sách KT nhiều thành phần, các TPKT
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh- Đó là đường lối chiến lược lâu dài
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
Mối liên hệ giữa các thành phần kinh tế: Các TPKT không tồn tại biệt lập mà có
mối liên hệ phụ thuộc, tác động lẫn nhau, đan xen vào nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn
nhau, cụ thể: Nằm trong hệ thống phân công LĐXH, là bộ phần hữu cơ của cơ cấu KT - XH
của nền KT; chịu sự quản lý thống nhất của NN; sự chi phối bởi vai trò chủ đạo của KT NN.
Tuy nhiên, các thành phần kinh tế có 2 mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa công hữu và tư
hữu, giữa các hình thức sở hữu và mâu thuẫn giữa xu hướng phát triển TBCN và XHCN.
Vì vậy:
- Các thành phần kinh cùng tồn tại trong nền KT quốc dân, vừa hợp tác và cạnh tranh
để cùng nhau phát triển, không cô lập, vì vậy cần chú trọng các loại hình kinh doanh đan
xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu trong nhiều thành phần KT, giữa trong nước và nước
ngoài, đặc biệt là hình thức cổ phần, hợp tác liên kết công – nông, DNNN và kinh tế hộ.
- Nhà nước cần có những chính sách phù hợp với từng thành phần kinh tế để thức đẩy
lực lượng sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, đặc biệt là bảo đảm sự
công bằng giữa các thành phần kinh tế.
- Nhà nước cần thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh

mở rộng quy mô KT để phù hợp với trình độ PT của LLSX.
- Có cơ chế, chính sách hợp lý trợ giúp các tổ chức KT hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ hiện đại, những phương pháp SX tiên tiến và
tiếp cận nguồn vốn ngày càng thuận lợi, tạo điều kiện cho hoạt động SXKD của các HTX.
- Khẩn trương hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện
cho việc ra đời, phát triển các HTX, các tổ hợp tác kiểu mới và các mô hình KT tập thể khác
theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, có chức năng KT và xã hội.
* Thứ ba, thành phần kinh tế tư nhân: Dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, phát triển rộng khắp trên lãnh thổ. Vì vậy nhà nước cần
- Xóa mặc cảm với KTTN, đặt long tin và gây chữ tín giữa NN với các chủ thể của KT
TBTN. Bảo vệ quyền sở hữu và hợp pháp của chủ sở hữu tư nhân.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách để p.triển mạnh KTTN trở thành một trong những động
lực của ngành KT.
- Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn KTTN và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn
KT NN theo hướng đa dạng hóa sở hữu.
- Hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo điều kiện để hình thành các doanh
nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường.
- Phát triển doanh nhân về số lượng và năng lực quản lý, đề cao dạo dức kinh doanh và
trách nhiệm xã hội.
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để tăng cường sự gắn bó giữa người sử dụng lao
động và người lao động.
* Thứ tư, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
23


- Thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại nhưng phải thân thiện môi trường,
đảm bảo tránh ô nhiễm môi trường, tránh thu hút những dự án có công nghệ lạc hậu, hao
mòn vô hình.
- Tăng cường sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước trên cơ sở tự nguyện, bình
đẳng và cùng có lợi theo pháp luật của NN.

đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến, CNH chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở vật chất
đó cho nền kinh tế quốc dân XHCN. Mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước
tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật cho CNXH, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và
góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN. Vậy nước ta tiến hành CNH, HĐH là một tất
yếu khách quan phù hợp với xu hướng phát triển chung của kinh tế thế giới.
Qúa trình CNH, HĐH ở nước ta trong thời kỳ quá độ có những đặc điểm khác với quá
trình CNH, HĐH ở các nước đi trước, vì nước ta có xuất phát điểm thấp, cơ sở vật chất
nghèo nàn, khoa học công nghệ lạc hậu, lực lượng lao động ít tiếp xúc với máy móc hiện
đại, ngoài ra do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất nước
hiện nay, CNH có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, CNH phải gắn liền với HĐH vì thế giới đăng diễn ra cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại đăng chuyển sang kinh tế tri thức, nước ta là nước đi sau cần
tranh thủ ứng dụng những thành tựu KHCN để hiện đại hóa mọi mặt.
Thứ hai, CNH nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
Thứ ba, CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước,
đòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan, trước hết là các quy luật thị trường.
Thứ tư, CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vì thế
mở cửa và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu.
Tác dụng của CNH ở nước ta:
- Là quá trình thực hiện chiến lược phát triển KT-XH nhằm cải tiến từ nông nghiệp
sang xã hội công nghiệp.
- Tạo ra cơ sở vật chất, nâng cao vai trò người lao động; tạo điều kiện vật chất cho
việc XD và phát triển nền văn hóa việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status