HỎI đáp CHỦ NGHĨA xã hội KHOA học (dùng cho học viên các hệ đào tạo lý luận chính trị và sinh viên cáctrường đại học, cao đẳng) - Pdf 42

HỎI VÀ ĐÁP CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HỎI & ĐÁP
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
(Dùng cho học viên các hệ đào tạo lý luận chính trị và sinh viên các trường
đại học, cao đẳng)
PGS, TS. Nguyễn Mạnh Hưởng
TS. Nguyễn Văn Quang

LỜI GIỚI THIỆU

Chủ nghĩa xã hội khoa học, một trong những học phần quan trọng cấu
thành bộ môn khoa học Mác-Lênin; được coi là môn khoa học khó đối với các
bậc học thuộc các hệ đào tạo lý luận chính trị; với học viên cao học, nghiên
cứu sinh và sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Để giúp bạn đọc tiếp cận
và giải quyết được những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu
môn học, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính tổ chức xuất bản cuốn sách
Hỏi & đáp Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Cuốn sách được viết dưới dạng Hỏi & Đáp. Giới thiệu những nội dung
cơ bản nhất, hệ thống hoá, khái quát hoá toàn bộ kiến thức trừu tượng. khó
hiểu của môn học Chủ nghĩa xã hội khoa học thành những vấn đề đơn giản,
dễ hiểu. Cuốn sách sẽ cung cấp cho các bạn sinh viên, học viên các hệ đào
tạo cử nhân, cao học, nghiên cứu sinh, các hệ đào tạo lý luận chính trị toàn
bộ những kiến thức của môn học ngay từ khi bắt đầu tiếp cận. Trong quá trình
học tập và nghiên cứu từng bài cụ thể, cuốn sách giúp bạn dễ dàng nắm bắt
được nội dung cơ bản nhất, quan trọng nhất phục vụ cho các kỳ kiểm tra kiến
thức môn học. Mặt khác, đây sẽ là cuốn cẩm nang phục vụ cho việc học tập
và ôn luyện trong suốt quá trình học tập môn học Chủ nghĩa xã hội khoa học.


Nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và học tập của sinh viên các trường
đại học, cao đẳng; học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng như đông đảo bạn

Chủ nghĩa xã hội khoa học là một bộ phận hợp thành của chủ nghĩa
Mác - Lênin (triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin, chủ nghĩa
xã hội khoa học). Tuy có sự khác nhau nhưng nhìn chung ba bộ phận ấy xuất
hiện và phát triển gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau, mỗi bộ phận có vị trí
riêng.
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu ở đây theo nghĩa hẹp, với tư
cách là một bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học trong chủ nghĩa Mác - Lênin:
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học là thành quả nhất quán về lôgíc với triết
học và kinh tế chính trị học Mác - Lênin.
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học vừa dựa trên cơ sở triết học và kinh tế
chính trị học Mác - Lênin, vừa bổ sung, làm cho các bộ phận ấy và cả chủ
nghĩa Mác - Lênin thực sự trở thành một học thuyết cách mạng triệt để, khoa
học, cân đối và hoàn bị, không chỉ nhận thức thế giới một cách đúng đắn mà
còn cải tạo thế giới theo nhưng quy luật khách quan.
+ Nếu triết học, kinh tế chính trị học luận chứng tính tất yếu và những
nguyên nhân sâu xa, khách quan về sự ra đời của chủ nghĩa xã hội thì việc
luận giải sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải được
thực hiện như thế nào, đặc biệt là do giai cấp nào đảm nhiệm vai trò chủ đạo
là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Đánh giá vai trò của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lênin chỉ ra: “điểm
chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế
giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.
Chủ nghĩa xã hội khoa học là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác Lênin, thể hiện sâu sắc tính chính trị - thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin.


Câu 2: Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học là gì?
Mỗi môn khoa học đều có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, chủ
nghĩa xã hội khoa học cũng có đối tượng nghiên cứu riêng.
- Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học (tổng quát): Chủ

và giai cấp khỏi chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công.
Nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu sự chuyển biến tất
yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản dưới góc độ chính trị-xã hội.
- Phân biệt giữa đối tượng nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học với
đối tượng nghiên cứu của triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác Lênin:
+ Giống nhau: đều là bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin.
+ Khác nhau: mỗi môn học có đối tượng, phạm vi, nội dung, nhiệm vụ
nghiên cứu riêng.
Triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự
phát triển xã hội. Kinh tế chính trị học Mác - Lênin luận chứng tính tất yếu và
những nguyên nhân sâu xa, khách quan về kinh tế dẫn đến ra đời của chủ
nghĩa xã hội. Việc luận giải sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội dưới góc độ chính trị - xã hội là nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu của
chủ nghĩa xã hội khoa học.

Câu 3: Chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của chủ nghĩa xã hội
khoa học như thế nào?
Chủ nghĩa xã hội khoa học là môn học có chức năng nhiệm vụ và
phương pháp riêng.
- Chức năng của chủ nghĩa xã hội khoa học là:


Chủ nghĩa xã hội khoa học là học thuyết hướng dẫn giai cấp công nhân
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong ba thời kỳ: đấu tranh lật đổ ách
thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền; thiết lập chuyên chính vô
sản, triển khai sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã
hội; phát triển chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Thể hiện ở các chức năng cơ bản:
+ Chức năng nhận thức: Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị những tri

chống chủ nghĩa xã hội, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
Chủ nghĩa xã hội khoa học và những thành quả cách mạng.
Tóm lại, "thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, đó là sứ mệnh lịch
sử của giai cấp vô sản hiện đại. Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó,
nghiên cứa chính ngay bản chất của sự biến đổi ấy và bằng cách ấy làm cho
giai cấp hiện nay đang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy
hiểu rõ được những điều kiện và bản chất của sự nghiệp của chính họ - đó là
nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học, sự thể hiện về mặt lý luận của
phong trào vô sản".
- Phương pháp của Chủ nghĩa xã hội khoa học là:
+ Dựa vào phương pháp luận chung của triết học mác xít là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để luận giải quá trình hình
thành, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, những quy
luật chính trị - xã hội của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội;
Đồng thời, sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác như:
+ Phương pháp kết hợp lịch sử - lôgíc là phương pháp có tính chất điển
hình;
+ Kế thừa một cách đúng đắn những giá trị của quá khứ, tiếp thu có
chọn lọc những giá trị thời đại là phương pháp quan trọng của chủ nghĩa xã
hội khoa học;


+ Kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể để nghiên cứu xã hội, đặc
biệt là phát hiện và tổng kết những vấn đề chính trị - thực tiễn, góp phần phát
triển lý luận.
Các phương pháp được kết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình
nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Câu 4: Ý nghĩa của việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học?
Nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to

+ Là cơ sở lý luận trực tiếp giúp cho Đảng xác định mục tiêu, đường lối
chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới;
+ Nghiên cứu tạo cơ sở bản lĩnh vững vàng để tránh những sai lầm
trong xây dựng đường lối, chính sách và chỉ đạo thực tiễn sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
+ Tạo cơ sở khoa học để đấu tranh phê phán và chống các quan điểm
sai trái, thù địch; củng cố trận địa tư tưởng vô sản.
- Ý nghĩa về mặt lý luận, tư tưởng và thực tiễn quan hệ chặt chẽ với
nhau trong quá trình nghiên cứu, học tập chủ nghĩa xã hội khoa học.

Câu 5: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là gì?
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một khái niệm dùng chỉ trào lưu tư
tưởng - văn hoá xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa xã hội tồn tại dưới nhiều dạng, tiêu biểu là chủ nghĩa xã hội
không tưởng và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thường phản ánh các nội dung cơ bản sau
đây:
+ Phản ánh sự phản kháng của nhân dân lao động, những người bị áp
bức, bóc lột chống lại giai cấp thống trị bóc lột nhằm xoá bỏ triệt để tình trạng
áp bức, bóc lột, bất công và sự phân hoá giàu nghèo;


+ Phản ánh những ước mơ, nguyện vọng của chính nhân dân lao động,
cùng những dự báo về một xã hội tốt đẹp hơn, công bằng và bình đẳng, về
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc được thực hiện bằng những cuộc cải
cách, đấu tranh giai cấp hay những cuộc cách mạng xã hội;
+ Phản ánh những mô hình về xã hội tốt đẹp, công bằng, bình đẳng,
văn minh trong tương lai, cùng những con đường, cách thức và bước đi để
thực hiện chúng.
- Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là một trào lưu tư tưởng tiến bộ của tư

+ Thời trung đại:
Thông qua phong trào đấu tranh của nông dân và nông nô, chống các
thế lực phong kiến, quý tộc và tôn giáo, tư tưởng xã hội chủ nghĩa xuất hiện
trong các phong trào dị giáo. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa nương tựa dưới sắc
cờ tôn giáo, thần học, mang tính chất cách mạng rõ hơn, nhưng vẫn chưa thể
đi đến thắng lợi.
+ Thời cận đại:
Những tiền đề vật chất về một nền công nghiệp cơ khí mà khởi đầu là
công trường thủ công, cùng sự phân hoá lợi ích, phân hoá xã hội đã đẩy tới
những cuộc đấu tranh giữa tầng lớp tư sản với các tầng lớp tiền thân của giai
cấp vô sản, tạo cơ sở cho những tư tưởng xã hội chủ nghĩa mang quan điểm
duy lý, không tưởng. Những tư tưởng đó được thể hiện dưới dạng văn học
(của T.Morơ, Cămpnenla), dưới dạng lý luận (Cương lĩnh hành động của
G.Ba bớp) với những mô hình rõ ràng về một xã hội cộng sản lý tưởng trong
tương lai;
Cuối thế kỷ thứ XVIII đến những thập niên đầu thế kỷ XIX, ở nước
Pháp và nước Anh liên tiếp diễn ra những biến động về chính trị, đấu tranh
giai cấp gay gắt giữa các thế lực phong kiến, tư sản, tự do, dân chủ cách
mạng. Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chiến thắng nhưng chưa hoàn toàn
thắng lợi về mặt chính trị; là thời kỳ các lực lượng tiền thân của giai cấp vô
sản bắt đầu thức tỉnh về sứ mệnh lịch sử của mình, tự tách ra từ khối quần
chúng nghèo khổ; là thời kỳ giai cấp tư sản và giai cấp vô sản hiện đại ra đời


gắn liền với đại công nghiệp đã tạo điều kiện cho những học thuyết xã hội chủ
nghĩa không tưởng có tính chất phê phán ra đời. Các đại biểu tiêu biểu cho
hệ tư tưởng đó thời này như: Xanh Xi mông, Phuriê (Pháp) và ôoen (Anh);
Giữa thế kỷ thứ XIX, với tiền đề tư tưởng lý luận của chủ nghĩa xã hội
không tưởng phê phán Pháp, triết học Đức và kinh tế chính trị Anh, cùng các
tiền đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khác đã chín muồi tạo điều kiện cho

vì nhân dân lao động;
+ Với những mức độ khác nhau, các nhà không tưởng đều mang tinh
thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ
nghĩa đương thời;
+ Nhiều nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã thể hiện tinh thần "xả
thân" vì chính nghĩa, chân lý và tiến bộ xã hội, đã cổ vũ tinh thần đấu tranh
của nhân dân lao động, khẳng định tính chất cách mạng của những tư tưởng
tiến bộ của con người, dù còn manh nha dưới dạng văn học, tư tưởng, lý
thuyết hay học thuyết thiếu cơ sở thực tiễn;
+ Làm tiền đề lý luận trực tiếp cho C.Mác phát triển những tư tưởng
của chủ nghĩa xã hội không tưởng thành khoa học.
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ thứ XIX đã để lại
nhiều quan điểm tư tưởng đặc sắc về quá trình phát triển của lịch sử, những
dự báo thiên tài về tương lai, làm tiền đề lý luận trực tiếp cho C.Mác phát triển
những tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng thành khoa học.
- Những hạn chế:
+ Những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng chưa thoát khỏi những
quan niệm duy tâm về lịch sử. Đối với họ, chủ nghĩa xã hội được quan niệm
như là biểu hiện của lý tính, của chân lý, chính nghĩa tuyệt đối có sẵn ở đâu
đó chỉ cần những thiên tài phát hiện và dựa vào đó thuyết phục mọi người
thực hiện là có thể thành công.


+ Hầu hết những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng có khuynh hướng
ôn hoà để cải tạo xã hội bằng các thuyết giáo, cải cách pháp luật, thực
nghiệm xã hội, thậm chí bằng nêu gương hay kêu gọi lòng "từ tâm" của
những kẻ giàu có về vật chất, chấp chính về quyền lực. Một số lại thể hiện
nhiệt tình cách mạng quá mức trong những điều kiện lịch sử chưa chín muồi,
bằng hành động khởi nghĩa, mà thiếu sự chuẩn bị đầy đủ một cách tự giác về
tư tưởng và lực lượng cho quần chúng cách mạng, nên những tư tưởng cách

tiền đề văn hoá và tư tưởng nhất định.
Giữa những năm 40 thế kỷ XIX, ở châu âu đã xuất hiện những tiền đề
khách quan cho C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập nên chủ nghĩa xã hội khoa
học.
- Về điều kiện kinh tế xã hội.
+ Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở nước Anh đã hoàn
thành về cơ bản, thúc đẩy phương thức sản xuất và trao đổi tư bản chủ nghĩa
phát triển mạnh lan rộng sang nhiều nước ở châu âu. Từ đó mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội và quan hệ sản xuất dựa trên chế
độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đã trở nên gay
gắt.
+ Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản tăng nhanh về số lượng trở thành
hai giai cấp cơ bản, vừa nương tựa cùng tồn tại, vừa mâu thuẫn đối kháng,
đấu tranh quyết liệt với nhau về mặt lợi ích.
+ Giai cấp công nhân đã có sự trưởng thành về chất lượng, do đã trải
qua nhiều bước phát triển, từ đấu tranh tự phát, thiếu ý thức chính trị đã dần
chuyển sang tự giác có tổ chức và xác định mục đích đánh đổ giai cấp tư sản,
giành chính quyền, lãnh đạo, tổ thức xây dựng chủ nghĩa cộng sản;
Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của công nhân:
Cuộc đấu tranh của công nhân ở Lyông (Pháp. 1831).
Cuộc đấu tranh của công nhân Xilêdi (Đức, 1844).


Phong trào Hiến chương (Anh, 1835-1848).
Đó là những cơ sở kinh tế, xã hội khách quan dẫn đến sự ra đời của
chủ nghĩa xã hội khoa học, thay thế cho các trào lưu lỗi thời khác không có
khả năng đáp ứng những yêu cầu chính trị cấp bách của cuộc đấu tranh giai
cấp của giai cấp công nhân.
- Những tiền đề văn hoá và tư tưởng.
Đầu thế kỷ thứ XIX, loài người đã đạt được nhiều thành tựu khoa học

những quy luật vận động của lịch sử, quy luật về sự chuyển biến của các hình
thái kinh tế - xã hội để sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Tiếp tục vận dụng những quan điểm duy vật về lịch sử, kết hợp
những yếu tố hợp lý của học thuyết kinh tế cổ điển Anh vào nghiên cứu
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa một cách toàn diện và mang tính phê
phán triệt để, hai ông đã sáng lập ra học thuyết về giá trị thặng dư.
Đó là hai phát kiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen: Nhờ hai phát kiến
đó, chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học. Phát hiện và làm
sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phát kiến vĩ đại thứ ba của
C.Mác và Ph.Ăngghen.
- Trong thời gian 1842 đến 1848. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đầu tư
nhiều công sức vào nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản một ích toàn diện, từ
kinh tế, chính trị, xã hội đến đạo đức, văn hoá....
Cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng, vạch ra những phạm trù, những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tiêu biểu là tác phẩm "
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sảnh" đã đánh dấu mốc lịch sử, sự hình thành về
cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học. Nó được thừa nhận là cương lĩnh
chính trị đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
- Từ năm 1848 về sau, C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục bổ sung, phát
triển lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học đồng thời vận dụng vào phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân.


C Mác và Ph.Ăngghen là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội
khoa học; làm sáng tỏ vai trò lịch sử của giai cấp công nhân; vạch ra mục
tiêu, con đường, giải pháp cho giai cấp công nhân đấu tranh thực hiện sứ
mệnh lịch sử thế giới của mình.

Câu 10: Chủ nghĩa xã hội khoa học đã phát triển qua các giai đoạn
nào? Nội dung cơ bản trong các giai đoạn đó là gì?

nguy cơ chiến tranh; nêu lên những vấn để cấp thiết xây dựng cơ sở vật chất,
xây dựng mức sản xuất cao trên nếu kỹ thuật tiên tiến...
+ Những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX do tác
động tiêu cực, phức tạp từ bên trong và bên ngoài, những mô hình chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông âu lần lượt sụp đổ. Chủ nghĩa Mác Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng đứng trước nhiều thử
thách nghiêm trọng. Song, với sức sống của một học thuyết khoa học và cách
mạng, chủ nghĩa xã hội khoa học không ngừng được bổ sung, phát triển, thể
hiện sức sống mới trên những mảnh đất hiện thực ở nhiều nước xã hội chủ
nghĩa, nhất là ở Việt Nam.
Sau 20 năm đổi mới (1986-2006), Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng ta đã nhận định: "Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về
công cuộc đổi mới, về xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã hình thành trên những
nét cơ bản".
- Vấn đề rút ra:
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học là học thuyết cách mạng và khoa học của
giai cấp công nhân, nó luôn song hành cùng với sự vận động và phát triển
của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân.


+ Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào
điều kiện lịch sử cụ thể là nguyên tắc, yêu cầu tất yếu bảo đảm sự thắng lợi
của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong tất cả các giai đoạn, đòi hỏi các Đảng
Cộng sản phải nhận thức và thực hiện đúng đắn, sáng tạo.

Câu 11: Giai cấp công nhân là gì, có những thuộc tính cơ bản nào?
Những biểu hiện mới của giai cấp công nhân ở các nước tư
bản hiện nay là gì?
- Giai cấp công nhân
+ C.Mác và Ph.Ăngghen dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai

cùng với giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa có sứ mệnh lãnh
đạo và tổ chức nhân dân lao động tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Câu 12: Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì?
Điểm chủ yếu trong học thuyết của C.Mác là làm sáng rõ vai trò lịch sử
thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp
công nhân là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, quyết định
sự thay đổi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cùng với giai cấp công nhân ở các
nước xã hội chủ nghĩa có sứ mệnh lãnh đạo và tổ chức nhân dân lao động
tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản.
- Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thể hiện trên hai nội dung cụ
thể sau:
+ Xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người.
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, không có áp bức,
bóc lột.


- Hai nội dung trên quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện.
Nó thể hiện sự nghiệp vĩ đại của giai cấp công nhân là giải phóng giai cấp dân
tộc, giải phóng con người và giải phóng nhân loại.
- Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước
khác nhau có sự khác nhau.
Ở Các nước như nước ta giai cấp công nhân phải:
+ Trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; phải
lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiền phong của mình, giành chính
quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân.
+ Lãnh đạo nhân dân lao động làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội không có người bóc lột

giai tầng trong xã hội, luôn được tôi luyện trong lao động công nghiệp hiện đại
và đấu tranh cách mạng;
+ Là giai cấp có tinh thần cách mạng nhất;
+ Là giai cấp có bản chất quốc tế vô sản sâu sắc.
- Do những mâu thuẫn khách quan sẵn có trong lòng chủ nghĩa tư bản:
+ Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hoá cao với chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
+ Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.
- Vấn đề rút ra:
+ Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan, không
phải là ý muốn chủ quan của bất kỳ ai;
+ Xây dựng, củng cố niềm tin cộng sản chủ nghĩa, tin tưởng vào việc
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân;
+ Tin tưởng và quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân Việt Nam; tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam;


+ Dù chủ nghĩa tư bản có khả năng thích ứng, phát triển đến đâu: các
thế lực phản động, thù địch có xuyên tạc, bóp méo như thế nào thì những
điều kiện khách quan đó vẫn tồn tại và nó mặc nhiên quy định sứ mệnh lịch
sử thế giới của giai cấp công nhân. Sứ mệnh đó không hề thay đổi.

Câu 14: Những nhân tố chủ quan cơ bản nào để giai cấp công
nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình?
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan. Song,
cũng như những quy luật xã hội khác nó chỉ diễn ra khi có những tác động
chủ quan của con người.
Cụ thể ở đây là sự tác động biện chứng của cả 3 nhân tố:
- Bản thân giai cấp công nhân phải có tư trưởng thành, đủ mạnh. Giai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status