đại học quốc gia hà nội
Trung tâm Đào tạo, bồi d-ỡng Giảng viên Lý luận Chính trị
Đặng Văn Luận
giáo dục lý luận chính trị với việc hình thành và
phát triển nhân cách của sinh viên các tr-ờng
cao đẳng ở Phú Thọ hiện nay
luận văn thạc sĩ triết học
Hà Nội - 2009
Những chữ viết tắt trong luận văn CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
CNH - HĐH:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CSCN:
Cộng sản chủ nghĩa
KTTT:
Kinh tế thị tr-ờng
KTQT:
Kinh tế quốc tế
LLCT:
Lý luận chính trị
Nxb:
Nhà xuất bản
NSQ:
Nhân sinh quan
TGQ:
Thế giới quan
XHCN:
xã hội chủ nghĩa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
3
9
9
20
31
31 42 56 56 64
77
79
86
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng: con người vừa là sản phẩm của
lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính mình. Vì vậy, tồn tại xã hội như
thế nào sẽ tạo ra con người như thế ấy. Kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan
điểm mác-xít, ở Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng đến yếu tố con người, coi con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Hiện
nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá (CNH - HĐH) vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Lấy
việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững”. CNH - HĐH vì con người và dân tộc Việt Nam, bằng sức mạnh của con
người và dân tộc Việt Nam. Điều đó nói lên tầm quan trọng của nguồn lực con
người đối với sự phát triển đất nước. Chính bởi vậy, việc xây dựng con người Việt
Nam, đặc biệt là nguồn lực trẻ phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo
đức, thể chất… càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Trong "Di chúc", Hồ Chí Minh
cũng nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân phải luôn ghi nhớ rằng, "Bồi dưỡng thế hệ cách
mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết"
[59, tr.510]. Luận điểm
đó chứa đựng thế giới quan khoa học của một lãnh tụ cách mạng, phản ánh tầm nhìn
xa trông rộng của một nhà hiền triết, một nhà văn hóa lớn; nó đã trở thành một chân
lý của cách mạng.
Là một bộ phận đông đảo và thành phần ưu tú trong thanh niên, sinh viên có
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Họ có những phẩm chất
cũng như sự nỗ lực vươn lên không ngừng trong học tập và rèn luyện đạo đức của
mỗi cá nhân sinh viên. Trong đó, công tác tư tưởng, giảng dạy lý luận chính trị
(LLCT) ở nhà trường đại học, cao đẳng đóng vai trò rất quan trọng và cần phải
được tiến hành thường xuyên.
Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục LLCT đối với sự nghiệp giáo
dục, Đảng ta đã rất chú trọng tới vấn đề đổi mới công tác giáo dục lý luận, tư tưởng
nhằm: “Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt
là lý tưởng sống, lối sống năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người
5
Việt Nam” [20, tr.106]. Để thực hiện được điều đó, Đảng ta khẳng định cần phải kết
hợp chặt chẽ giữa giáo dục lý luận và giáo dục đạo đức cho sinh viên. Giáo dục đạo
đức bằng tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức nhân văn, lịch sử dân tộc và bản
sắc văn hoá dân tộc, ý chí vươn lên của bản thân và tiền đồ của đất nước.
Là một giảng viên trẻ trực tiếp giảng dạy bộ môn LLCT ở một trường cao
đẳng trên quê hương đất tổ Phú Thọ anh hùng, tác giả rất mong muốn được đóng
góp một số ý kiến nhỏ của mình, nhằm góp phần khôi phục sức hấp dẫn vốn có của
môn LLCT đối với tầng lớp tri thức trẻ trong các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh.
Đồng thời thông qua đó góp phần đào tạo được những con người trẻ tuổi vừa
“hồng” vừa “chuyên”, nhằm thực hiện lời căn dặn và mong muốn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh khi Người về thăm tỉnh là “xây dựng Phú Thọ thành tỉnh tiên tiến”. Vì
vậy, tác giả chọn đề tài: “Giáo dục lý luận chính trị với việc hình thành và phát
triển nhân cách của sinh viên các trường cao đẳng ở Phú Thọ hiện nay” làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Những vấn đề về giáo dục lý luận chính trị
Vấn đề giáo dục LLCT có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đề tài
KX 10 - 09D do PGS.TS Tô Huy Rứa nghiên cứu: “Đổi mới nội dung, chương
trình đào tạo giảng viên lý luận chính trị các trường đại học, cao đẳng”, Hà Nội
đề xuất vai trò của giáo dục LLCT trong việc tạo lập môi trường kinh tế xã hội lành
mạnh, định hướng các hoạt động xã hội khác của sinh viên theo hướng tích cực, hạn
chế tiêu cực trong công cuộc đổi mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, qua các tài liệu tham khảo chúng tôi chưa thấy có công trình nào trực
tiếp làm rõ vai trò của giáo dục LLCT trong việc hình thành và phát triển nhân cách
của sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn Phú Thọ hiện nay. Để góp phần nhỏ
vào việc nhận thức và giải quyết vấn đề này, tác giả chọn đề tài: “Giáo dục lý luận
chính trị với việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên các trường cao
đẳng ở Phú Thọ hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
7
3.1. Mục đích
Luận văn làm rõ vai trò của giáo dục LLCT trong việc hình thành và phát triển
nhân cách của sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, đề xuất một
số phương hướng và giải pháp cơ bản, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục LLCT
trong việc hình thành, phát triển nhân cách của sinh viên các trường cao đẳng trên
địa bàn tỉnh hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để có thể đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ các khái niệm nhân cách và những nhân tố tác động đến quá trình
hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ.
- Làm rõ vai trò của giáo dục LLCT trong việc hình thành và phát triển nhân
cách của sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Phân tích thực trạng nhân cách của sinh viên các trường cao đẳng trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục LLCT trong việc hình thành, phát triển nhân cách của sinh viên cao đẳng
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay.
nghiệp chính quy trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Đánh giá tình hình giáo dục LLCT với việc hình thành và phát nhân cách của
sinh viên các trường cao đẳng ở tỉnh Phọ Thọ trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục LLCT với việc hình thành và phát nhân cách sinh viên, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ nói riêng và của đất nước nói chung.
6.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- Ở mức độ nhất định kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong phú thêm tư
liệu tham khảo cho giảng dạy các môn khoa học LLCT.
9
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chương trình, nâng
cao chất lượng giảng dạy và học LLCT ở các trường cao đẳng ở tỉnh Phú Thọ nói
riêng và các trường cao đẳng nói chung trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương 6 tiết.
10
Chương 1
NHÂN CÁCH SINH VIÊN VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CỦA SINH VIÊN
1.1. Nhân cách sinh viên và quá trình hình thành và phát triển nhân cách của
sinh viên
1.1.1. Nhân cách sinh viên
1.1.1.1. Khái niệm nhân cách, nhân cách sinh viên
Triết học Mác ra đời đã đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng nhân
loại, lần đầu tiên đưa ra quan điểm: con người là một thực thể sinh học - xã hội. Mặt
chứng cho rằng: “Bản chất con người không phải một sự trừu tượng cố hữu của cá
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những
quan hệ xã hội” [47, tr.12]. Đây là luận điểm nổi tiếng của triết học Mác về bản chất
con người. Luận điểm đó đã trở thành cơ sở khoa học cho các cách tiếp cận nghiên
cứu về con người.
Như vậy, nhân cách là của con người, chỉ có con người mới có nhân cách
nhưng chúng ta cũng không thể đồng nhất con người với nhân cách. Con người là
một thực thể sinh học - xã hội. Các yếu tố sinh học ở mỗi con người chỉ được tạo
nên để hình thành nhân cách, phản ánh về mặt xã hội, phản ánh mức độ cá thể hóa,
tính độc đáo trong mỗi cá nhân con người. Nhân cách là sự thống nhất biện chứng
giữa yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân trong mỗi con người.
Khái niệm “cá nhân chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định với
tư cách một cá thể, một thành viên của xã hội ấy; do những đặc điểm riêng biệt của
mình mà phân biệt với các thành viên khác của xã hội” [30, tr.615]. Chính những
hoạt động xã hội đã quy định những phẩm chất cá nhân như biết nhìn nhận, suy
nghĩ, đánh giá thực tế cuộc sống. V.I.Lênin viết: “Chúng ta căn cứ vào giá trị để xét
đoán những tư tưởng và tình cảm thực của các cá nhân có thực? Tất nhiên, căn cứ
đó chỉ có thể là những hoạt động của các cá nhân ấy, và một khi vấn đề chỉ là tư
12
tưởng và tình cảm xã hội thì cần phải nói thêm. Những hoạt động xã hội của cá
nhân tức là những sự kiện xã hội” [38, tr.531].
Như vậy, cá nhân là một khái niệm triết học dùng để chỉ một con người, với tư
cách là một thành viên của xã hội, là sản phẩm của sự phát triển của xã hội, là chủ
thể của hoạt động, chủ thể của từng quan hệ xã hội và chủ thể của nhận thức trong
một điều kiện lịch sử - xã hội nhất định.
Sự phát triển của cá nhân trong những điều kiện lịch sử xã hội xác định là sự
phát triển hài hòa giữa thể chất cường tráng và một tinh thần lành mạnh. Đứa trẻ
sinh ra chưa phải là cá nhân mà chỉ mang những tiềm năng của cá nhân, để trở
thành cá nhân đứa trẻ phải hoà mình vào trong các hoạt động xã hội. Quá trình đó là
nhân cách của mình là quá trình cá nhân thực hiện những hành vi cho mình và cho
người khác theo “yêu cầu” chung của xã hội - là quá trình hình thành và phát triển
của nhân cách.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm nhân cách sinh viên như sau:
Nhân cách sinh viên là những cá nhân sinh viên với tính cách là sản phẩm của sự
phát triển xã hội, chủ thể của lao động, của học tập, của giao tiếp, bị quy định bởi
những môi trường hoàn cảnh cụ thể của đời sống xã hội mà trong đó sinh viên
sống, học tập, quan hệ xã hội.
1.1.1.2. Đặc trưng của nhân cách sinh viên
Đặc trưng nhân cách sinh viên, theo quan niệm phổ biến hiện nay, bao gồm
nhóm thuộc tính tâm lý chủ yếu và những đặc trưng sau:
Xu hướng của nhân cách sinh viên
Xu hướng của nhân cách sinh viên là sự hướng tới mục tiêu học tập, nghề
nghiệp ổn định có việc làm, để có thể nuôi sống bản thân và gia đình họ sau này, từ
đó có thể xác lập một vị trí nhất định trong xã hội. Xu hướng nhân cách của sinh
viên được biểu hiện ở nhiều mặt như: nhu cầu, hưởng thụ, lý tưởng, thế giới quan.
Nhu cầu của sinh viên là biểu hiện của xu hướng về nguyện vọng, ước muốn,
nhu cầu đó, cần phải được thỏa mãn để sống, học tập và hoạt động. Trong đó có nhu
cầu về tự nhiên, như ăn, uống, ngủ, nghỉ ; về mặt tinh thần xã hội như học tập, giao
14
tiếp, sinh hoạt văn hóa, thẩm mỹ. Nhu cầu của sinh viên mang tính lịch sử và không
có giới hạn. Nhu cầu của sinh viên “được thực hiện thì trở thành lợi ích, nó đóng vai
trò động lực to lớn thúc đẩy cá nhân hoạt động đạt tới mục tiêu, từng bước thực hiện
hoá hoài bão lý tưởng chính trị xã hội của mình” [2, tr.62].
Hứng thú của sinh viên là thái độ của họ với sự vật hiện tượng nào đó, vừa có
ý nghĩa quan trọng trong đời sống, vừa đem lại cho họ những cảm hứng. Hứng thú
của người sinh viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động của họ. Chính
những hứng thú đó đã hướng sinh viên vào những hoạt động có tính định hướng,
làm cho hoạt động của họ tích cực, sáng tạo, có hiệu quả hơn.
quan hệ mật thiết với tính cách, nhiều khi tính cách là một yếu tố quan trọng tạo nên
năng lực. Đánh giá năng lực của một người không chỉ dựa vào kết quả công việc,
mà còn phải dựa vào nhiều yếu tố như phương thức hoàn thành công việc, tính độc
lập và độc đáo khi thực hiện công việc; tính sáng tạo của phương thức thực hiện;
hiệu suất thực hiện; điều kiện để hoàn thành công việc; thời gian hoàn thành; sự
phát triển những tình huống đột biến; mức độ kết qủa công việc
Tính cách sinh viên
Tính cách sinh viên là một tổ hợp những nét riêng của sinh viên, phản ánh mối
quan hệ của họ với hiện thực và biểu hiện ở những hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ của
sinh viên đó. Ở một cá nhân có nhiều nét tính cách, những nét tính cách tốt như
khiêm tốn, tính kỷ luật, lòng yêu thương, sự dũng cảm, đồng thời vừa có những nét
tốt vừa có những nét xấu. Rất ít khi một người chỉ thuần nhất một nét hoặc tốt, hoặc
xấu. Chúng ta thường đánh giá một người tốt hay một người xấu, dựa trên những
nét tốt hay xấu chiếm tỷ lệ nhiều hay ít, hoặc nội dung của chúng quan trọng như
thế nào đối với xã hội, đối với con người trong hoàn cảnh, tình huống nhất định.
Tính cách phản ánh mối quan hệ giữa con người với hiện thực. Tính cách là
thái độ của con người với thế giới xung quanh, đối với những người khác nhau. Nó
được biểu hiện chủ yếu ở sự tác động qua lại giữa người này với người khác và với
xã hội, đó chính là sự cư xử của cá nhân với mọi người trong xã hội. Vì thế, tính
cách nói lên bộ mặt đạo đức của con người trong xã hội, tính cách hình thành trong
hoạt động giao lưu cá nhân, nó phụ thuộc vào hoạt động giao lưu, đồng thời thể
16
hiện ở những qúa trình đó. Tính cách phụ thuộc vào sự giáo dục của xã hội và sự
rèn luyện của bản thân cá nhân. Tính cách là hệ thống thái độ của cá nhân đối với
hiện thực.
Tính cách của sinh viên có ảnh hưởng quan trọng góp phần thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển của xã hội và tập thể. Nó có tác dụng phát triển hoặc kìm hãm
phát triển nhân cách. Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến các thuộc tính tâm lý khác của
nhân cách như xu hướng, năng lực và khí chất. Nhưng xét cho đến cùng, xu hướng
Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con
người cũ, xây dựng con người mới. Người nói:
“ Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu,
Phần lớn đều do giáo dục mà nên” [53, tr.383].
Vai trò của giáo dục đối với việc hình thành và phát triển nhân cách được thể
hiện qua nội dung và hình thức giáo dục. Một là, giáo dục vạch ra phương hướng,
tạo dựng lên những hình mẫu nhân cách cho phù hợp với yêu cầu bản chất của chế
độ xã hội đương thời, thông qua nội dung giáo dục giá trị nhân cách, qua mục tiêu
giáo dục mẫu hình nhân cách của nhà trường và xã hội. Hai là, giáo dục truyền thụ
vốn văn hoá truyền thống của dân tộc, kế thừa bảo tồn và phát triển những giá trị
truyền thống tốt đẹp. Giá trị truyền thống là cơ sở nền tảng để hình thành giá trị
nhân cách của con người. Ba là, thông qua giáo dục và bằng giáo dục hướng thế hệ
trẻ đến một tương lai tốt đẹp. Giáo dục có khả năng uốn nắn những hành vi lệch lạc
trong sự phát triển nhân cách, tạo dựng những hình mẫu nhân cách mới đáp ứng đòi
hỏi xã hội.
Những phẩm chất giáo dục của nhân cách được hình thành chủ yếu là quá trình
giáo dục và tự giáo dục. Từ cách nhìn đó, nhân cách chính là sự kết tinh các giá trị
văn hoá tinh thần mà cá nhân có được thông qua sự học hỏi để vươn lên cái hay, cái
đẹp, cái thiện của chính mình.
Thực tiễn xã hội cho thấy, để tồn tại và phát triển, con người phải sản xuất và
chính trong quá trình sản xuất, con người tạo ra các mối quan hệ xã hội và ngược
lại, các mối quan hệ xã hội này lại quy định toàn bộ đời sống xã hội và bản chất mỗi
18
người. Như C.Mác đã nói: “Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là
con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế” [50, tr.169].
1.1.2.2. Sự hình thành và phát triển nhân cách là quá trình thống nhất giữa cá nhân
và xã hội, giữa mặt sinh học và mặt xã hội
Những yếu tố bẩm sinh, di truyền là tiền đề vật chất, là điều kiện cho sự phát
triển nhân cách. Nhân cách phải dựa vào tiền đề sinh học, một tư chất di truyền học,
người. Như vậy, điều kiện xã hội đã tạo ra con người - nghĩa là “giai đoạn lịch sử
nào thì sẽ có những chủ thể - tức nhân cách mang những đặc trưng riêng của giai
đoạn đó” [79, tr.57].
1.1.2.3. Đặc điểm tâm lý sinh viên với sự hình thành, phát triển nhân cách ở họ
Sinh viên cùng với đặc điểm chung của tuổi trẻ còn có những đặc điểm riêng
khác như: lứa tuổi tuyệt đại bộ phận từ 18 đến 22 là lứa tuổi dễ thay đổi, chưa định
hình rõ rệt về nhân cách, có nhiều ước mơ và năng lực sáng tạo đầy cảm quan lãng
mạn, thích tiếp xúc, thích các hoạt động tập thể, hay tìm tòi, hồn nhiên cởi mở Có
một số hiểu biết tương đối rộng, nhưng do thiếu khiêm tốn nên đôi khi thích “ba
hoa”, phê phán mọi điều, muốn chiếm vị trí độc đáo. Một số tính tình thiếu nhất
quán, một mặt tỏ ra bình tĩnh, có nguyên tắc, có trách nhiệm, đồng thời có cả hoài
bão, lãng mạn lẫn thiếu tự tin; lạc quan quá mức lẫn hoang mang dao động. Tất cả
những đặc điểm đó làm cho tâm lý sinh viên đặc biệt phức tạp ảnh hưởng lớn đến
quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở họ. Do đó, trong giai đoạn này, sự
định hướng giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội, đặc biệt là giáo dục LLCT
là hết sức cần thiết đối với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên. Bác
Hồ từng dạy: “Óc những người trẻ tuổi trong sạch như tấm lụa, nhuộm xanh thì nó
xanh, nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ” [51, tr.56].
Như vậy, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài và
phức tạp. Trong quá trình đó, có mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố bên trong
và yếu tố bên ngoài, giữa cái sinh học và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau
và vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người.
Trong quá trình sống, con người có được những kinh nghiệm sống, niềm tin, thói
quen và ngược lại, khi tiếp nhận bất cứ việc gì, nhân cách cũng dựa trên chuẩn
20
mực xã hội để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. Không chỉ thế, họ còn dựa
vào những cái bên trong, những kinh nghiệm của mình để đánh giá, tiếp nhận hay
gạt bỏ cái bên ngoài. Quá trình này luôn gắn với năng lực tự đánh giá, tự ý thức của
mỗi người và do vậy, gắn với quá trình tự giáo dục, quá trình thường xuyên tự hoàn
trường, nhân cách của sinh viên không chỉ chịu tác động môi trường gia đình, nhà
trường mà còn bị ảnh hưởng môi trường kinh tế - xã hội nữa. Môi trường kinh tế xã
hội lành mạnh, sẽ có tác động đến tích cực đến quá trình hình thành và phát triển
nhân cách ở sinh viên. Ngược lại môi trường kinh tế xã hội thiếu lành mạnh, sẽ có
tác động đến tiêu cực đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên.
Sự hình thành nhân cách trước hết, bị quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, sự hình thành và phát triển nhân cách như
một quá trình vận động.
Như vậy, nhân cách không phải là một cái gì đó đã hoàn tất, mà là quá trình
luôn đòi hỏi sự trau dồi thường xuyên trong những môi trường, hoàn cảnh kinh tế -
xã hội cụ thể.
1.2. Vai trò của giáo dục lý luận chính trị trong việc hình thành và phát triển
nhân cách của sinh viên các trường cao đẳng
1.2.1. Giáo dục lý luận chính trị và một số khái niệm liên quan
1.2.1.1. Khái niệm giáo dục lý luận chính trị
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục LLCT, chúng tôi đã
tổng hợp thành mấy loại ý kiến sau:
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, giáo dục LLCT là sự giáo dục, truyền thụ chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước nhằm hình thành thế giới quan (TGQ) khoa học, nhân sinh quan
(NSQ) cộng sản cho sinh viên.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng, giáo dục LLCT là quá trình đào tạo, bồi dưỡng
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước nhằm hình thành cho sinh viên TGQ khoa học, NSQ cộng
sản chủ nghĩa (CSCN).
22
Loại ý kiến thứ ba cho rằng, giáo dục LLCT là sự giáo dục, tuyên truyền chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước nhằm hình thành TGQ khoa học, NSQ cộng sản và phương pháp