1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ NGUYỆT
GIA §×NH VíI VIÖC H×NH THµNH Vµ PH¸T TRIÓN
NH¢N C¸CH CHO TRÎ EM ë NGO¹I THµNH Hµ NéI HIÖN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 03 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. ĐỖ THỊ THẠCH
HÀ NỘI - 2014 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Đỗ Thị Thạch.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn
2.2. Thực trạng vai trò của gia đình trong việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội
49
2.3. Những vấn đề đặt ra đối với vai trò của gia đình ở ngoại
thành Hà Nội trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em
65
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN NHÂN CÁCH CHO TRẺ EM Ở NGOẠI THÀNH HÀ
NỘI HIỆN NAY
78
3.1. Những quan điểm cơ bản nhằm phát huy vai trò của gia
đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở
ngoại thành Hà Nội hiện nay
78
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia
đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ ở ngoại
thành Hà Nội hiện nay
90
KẾT LUẬN
103
5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
52
Bảng 2.3. Nhận thức của cha mẹ trong việc hình thành năng lực (tài)
cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội
54
Bảng 2.4. Lối sống của ông bà ảnh hưởng tới con cháu của gia đình
các huyện ngoại thành Hà Nội theo vùng điều tra
59
Bảng 2.5. Bảng điều tra trình độ học vấn của cha mẹ 4 huyện ngoại thành
68
Bảng 2.6. Kết quả điều tra về khó khăn của cha mẹ trong việc hình thành
và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội
69
Bảng 2.7. Kết quả điều tra nhận thức của cha mẹ về chủ thể giáo dục
trẻ em ở ngoại thành Hà Nội
74 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân cách là toàn bộ năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý - tâm lý tạo
thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và
tự điều chỉnh mọi hoạt động của cá nhân. Đó cũng là sự tổng hợp của các yếu
góp phần chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu
nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động
giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính. Trong ý thức hệ
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia đình bao giờ cũng được coi là tổ ấm, là
môi trường đầu tiên làm phát sinh, nuôi dưỡng thể lực, trí lực và những tình cảm
trong sáng, tốt đẹp, hình thành nên nhân cách con người Việt Nam [69].
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, địa
bàn ngoại thành Hà Nội đang có những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc. Kinh tế,
chính trị, văn hóa phát triển khá mạnh, đời sống nhân dân đã được cải thiện
đáng kể. Nhưng bên cạnh đó, trong sâu thẳm của đời sống xã hội, địa bàn
ngoại thành Hà Nội đang phải đối mặt trước những vấn đề mang tính báo
động, đó là sự tha hóa về nhân cách đạo đức, lối sống của một bộ phận không
nhỏ dân cư, nhất là trẻ em. Tỷ lệ trẻ em hư ngày càng gia tăng, tỷ lệ bạo lực,
bỏ học, nghiện hút, bất hiếu trong bộ phận trẻ em đang len lỏi phá hoại nếp
sống văn minh, đạo lý truyền thống tốt đẹp ngàn đời của Thủ đô nói riêng,
dân tộc nói chung. “Nỗi đau” này không của riêng ai, song gia đình có trách
nhiệm lớn hơn cả. Không ít gia đình nhận thức chưa đúng về vai trò của mình
trong việc hình thành và phát triển nhân cách, coi đó là nhiệm vụ của nhà
trường, xã hội, do vậy đã xem nhẹ trách nhiệm này.
Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao vị trí, vai trò của
gia đình trong việc giáo dục nhân cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện
nay, tác giả chọn đề tài: “Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân
cách cho trẻ em ở ngoại thành Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ
triết học, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học.
9
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về gia đình và
vai trò giáo dục của gia đình, giáo dục nhân cách dưới những góc độ khác
của con người, mà đúng hơn mâu thuẫn là vốn có trong tất cả các hệ thống và
sự tương tác, kể cả trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Nếu các chuẩn mực
và mục tiêu trong hôn nhân và gia đình thường nảy sinh mâu thuẫn, vấn đề là
không phải lảng tránh những mâu thuẫn đó mà giải quyết nó. Khi mâu thuẫn
được giải quyết, nó không còn là yếu tố phá vỡ quan hệ hoặc chỉ mang lại
những hậu quả tiêu cực, mà trái lại nó củng cố các quan hệ, tạo ra sự thay đổi
và kết quả là quan hệ trở nên có ý nghĩa.
Gia đình học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, xuất bản năm
2007, nhà xuất bản Lý luận chính trị. Trong cuốn sách các tác giả đề cập
nhiều vấn đề về gia đình giúp cho người học tập và nghiên cứu về gia đình
nhận thức được những vấn đề cơ bản nhất trong nghiên cứu và học tập về gia
đình. Trên cơ sở đó nêu lên những định hướng cơ bản cho việc xây dựng mô
hình gia đình mới kế thừa được các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Đồng thời các
tác giả còn nêu một hệ thống giải pháp giải quyết vấn đề gia đình ở nước ta
trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Ngoài những công trình lớn nêu trên, về chủ đề gia đình còn có nhiều
tác giả quan tâm ở mức độ hạn hẹp như:
Trách nhiệm của gia đình và vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ vị thành niên, GS. Lê Thi, Tạp chí tâm lý học, số 5
(2002). Trong bài viết tác giả nói lên rằng, ngoài việc gia đình có trách nhiệm
trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục vị thành niên, nhà nước cũng phải thể
hiện vai trò thông qua việc đưa ra một số luật, chính sách. Nhưng trong việc
bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ vị thành niên, gia đình vẫn là đơn vị cơ sở có
trách nhiệm nặng nề nhất và có khả năng nhất. Đồng thời với sự phối hợp
chặt chẽ giữa gia đình với nhà nước và cộng đồng sẽ làm tăng sức mạnh của
gia đình và tận dụng được hiệu quả tích cực của các tổ chức xã hội.
11
Tác động của toàn cầu hóa với việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt
quốc gia Hà Nội. Đây là tập hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học
có liên quan đến lĩnh vực chiến lược phát triển giáo dục nước ta giai đoạn
hiện nay. Ngoài ra các tác giả còn đề cập đến việc rèn luyện phương pháp tư
duy khoa học, trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan nhân sinh quan, bồi dưỡng
ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh.
Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay do Đào Thị Oanh (chủ
biên) (2007) Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. Cuốn sách tổng hợp và khái
quát lý luận tâm lý học về nhân cách, đề xuất các giải pháp về hình thành,
phát triển nhân cách trong công tác giáo dục thế hệ trẻ.
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân cách, giáo dục nhân
cách, vai trò của gia đình, giáo dục đạo đức, nhưng đến nay vẫn chưa có
công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách trực tiếp có hệ thống về
“Gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em ở ngoại
thành Hà Nội hiện nay”. Vì vậy đề tài luận văn không trùng lặp với các
công trình đã được công bố. Những tài liệu trên giúp ích cho tác giả trong
việc tham khảo để nghiên cứu đề tài viết luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ thực trạng vai trò của gia đình trong việc hình thành
và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành Hà Nội, luận văn nêu ra
những quan điểm và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia
đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành
Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau đây:
+ Làm rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ em.
13
+ Phân tích thực trạng vai trò của gia đình và những vấn đề đặt ra trong
hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em, có tham khảo thêm các tài liệu
liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài
liệu, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp,
thống kê xã hội học.
6. Những đóng góp của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn tầm quan trọng
của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em từ
hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình trong
việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở ngoại thành Hà Nội.
7. Ý nghĩa của luận văn:
Đề tài tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm những luận điểm, các
vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, vai trò của gia đình.
Luận văn góp thêm một tiếng nói, một kinh nghiệm để các bậc cha mẹ
tham khảo nhằm phát huy vai trò của gia đình, đồng thời cung cấp thêm tư
liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa
học và môn Giáo dục công dân ở các trường phổ thông.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết.
15
Chương 1
NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
từ vượn thành người là nhờ có lao động. Quá trình con người lao động cải tạo
giới tự nhiên cũng là quá trình con người tạo ra chính mình. Lao động sáng tạo ra
con người là theo nghĩa ấy.
16
Chủ nghĩa Mác thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với
việc hình thành bản chất con người nhưng cũng không phải vì vậy mà coi
nhẹ mặt tự nhiên, phủ nhận yếu tố sinh vật trong con người. Theo Mác, giới
tự nhiên là thân thể của con người. Mỗi người sinh ra trước hết là một thực
thể tự nhiên, một sản phẩm của tự nhiên, một bộ phận của vũ trụ và chịu sự
chi phối của các quy luật tự nhiên phức tạp.
Sự khác nhau giữa con người và con vật, theo Mác con vật hoạt động
theo bản năng còn con người hoạt động theo ý thức. Con người hoạt động
không phải theo những bản năng di truyền, có sẵn như những loại động vật
thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hóa, của tiến bộ lịch sử -
xã hội. Khi xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng có sự thay đổi tương ứng.
Sự phát triển của mỗi con người là tiền đề cho sự phát triển của xã hội vì mỗi
người đều sống trong một xã hội nhất định, là sản phẩm của lịch sử - xã hội,
sản phẩm của nền văn minh nhân loại.
Từ con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải
trải qua hàng loạt những tác động, chi phối những yếu tố chủ quan và khách
quan, theo cả quy luật tự nhiên và xã hội. Sự phát triển của con người là sự
trưởng thành cả về thể chất lẫn tinh thần. Sự phát triển về thể chất là sự trưởng
thành sinh học, cơ bắp, thần kinh và các cơ quan chức năng khác theo quy luật
tự nhiên. Sự phát triển về tinh thần là sự trưởng thành về tâm lý, ý thức trên cơ
sở sự vận động và phát triển vốn có của nó, đồng thời tiếp thu có chọn lọc
những tinh hoa văn hóa nhân loại theo quy luật tâm lý và quy luật xã hội.
Sự phát triển thể chất gắn liền với sự phát triển tinh thần theo quy luật
phát triển tâm sinh lý lứa tuổi. Đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và
sự chuyển hóa chúng cho nhau, là bước phát triển nhảy vọt của từng cá nhân
với xã hội, cá nhân biểu hiện ra với tư cách là phương thức tồn tại của giống
loài "người". Không có con người nói chung, loài người nói chung tồn tại cảm
tính. Cá nhân là cá thể người riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội,
là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách. Cá nhân được hình thành và phát
triển chỉ trong quan hệ xã hội. Nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử cá
18
nhân là một hiện tượng có tính lịch sử. Mỗi thời kỳ lịch sử có một "kiểu xã
hội của cá nhân" mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận
cho hoạt động của con người trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó. Cá nhân người là
một thành viên của xã hội, là khách thể mang “tổng hòa các quan hệ xã hội”,
Nó không những chịu ảnh hưởng mà còn tạo ra những quan hệ xã hội.
Nếu cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với giống
loài, sự khác biệt đó được thể hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân
khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa những yếu tố bên
trong riêng biệt của các cá nhân.
Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của một xã hội
nhất định, là chủ thể các mối quan hệ con người, của hoạt động có ý thức và
giao tiếp thì chúng ta nói đến nhân cách của họ. Chúng ta chỉ có thể nói đến
con người như là một nhân cách bắt đầu từ một thời kỳ nào đó trong quá trình
phát triển của nó. Nói cách khác, không phải mọi cá thể người, với cá tính của
mình đều là nhân cách.
Đứng trên quan điểm mác - xít, xuất phát từ nguyên tắc thừa nhận bản
chất của con người để nghiên cứu đã có rất nhiều lý thuyết khoa học về nhân
cách. Quan niệm sinh vật hóa nhân cách, coi bản chất nhân cách nằm trong các
đặc điểm hình thể (Krest Chmev), góc mặt (C. Lombrozo), thể trạng (Sheldon)
bản năng vô thức (S. Freud). Còn quan điểm xã hội học hóa nhân cách thì
lấy quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm ) để thay thế một cách đơn
giản, máy móc các thuộc tính của cá nhân đó.
Trong những quan niệm trên, có những quan niệm chỉ chú ý đến cái chung
hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với
thang giá trị và thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội, độ phù hợp càng cao
thì mức độ càng lớn [65, tr.138].
Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm: “Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc
độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi
20
cá nhân, nhân cách là bản chất con người”. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã tiếp cận
nhân cách như một quá trình mở rộng và đi sâu từ con người hiện thực, từ bản
chất xã hội, quan hệ sản xuất đến hệ thống các giá trị và chức năng xã hội của
con người. Theo quan điểm đó, nhân cách chính là tổng hợp các yếu tố phản
ánh bản chất xã hội của con người, nhưng được hình thành trên cơ sở, điều
kiện, tiền đề sinh học của con người, chứ không đối lập, cũng không tách
rời khỏi tiền đề sinh học của nó. Nhân cách của một con người không phải
là sản phẩm tự
nhiên do bẩm sinh và di truyền, mà được hình thành dần
dần trong
hoạt động và giao tiếp của con người.
Trong quá trình sống, con người đã làm biến đổi các phẩm chất tự
nhiên của mình, nhưng những biến đổi đó không tạo ra nhân cách. Nhân cách
được hình thành và phát triển như những quan hệ xã hội mà trong đó cá nhân
đang lớn lên và đang biến đổi, bắt đầu quá trình hoạt động sống của mình.
Chính trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, các
đặc điểm của họ với tư cách là cá tính được biến đổi và trở thành những đặc
điểm mang tính người đích thực, tính xã hội- đạo đức.
Đi sâu tìm hiểu về nhân cách ta thấy rằng, nhân cách là nội dung là trạng
thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân do sự tác động
tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Mỗi cá nhân “dấn
thân” vào cuộc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hóa của xã hội vào
bên trong mình, thực hiện quá trình so sánh lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế
thuộc tính của thể chất cũng như tài năng, phong cách, ý thức, đạo đức, vai trò
xã hội của chủ thể để tạo thành một hệ thống - cấu trúc xác định với một bản
sắc riêng và có cá tính rõ nét sẽ góp phần hình thành được một cấu tạo đặc
biệt là nhân cách. Ở con người, cái sinh lý cũng như cái xã hội và cái tâm lý
sẽ luôn luôn có sự tác động biện chứng với nhau trong mọi thời gian - không
gian sống để tạo ra những nét đặc trưng của nhân cách. Tất cả ba yếu tố này
đều có sự ảnh hưởng, tác động qua lại và quy định lẫn nhau trong việc hình
thành nhân cách. Vì vậy, cần thiết phải có cách tiếp cận cụ thể, toàn diện và
đặc thù khi phân tích quá trình phát triển nhân cách của trẻ, để từ đó, biết cách
xác định được nội dung các tác động giáo dục cho phù hợp, giúp trẻ hình
thành những phẩm chất nhân cách tốt.
22
1.1.1.2. Cấu trúc nhân cách
Nhân cách của con người theo quan điểm của các nước phương
Đông chịu sự tác động của 3 tôn giáo lớn: Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo
và cho rằng nhân cách bao gồm 2 thành phần: Đức và Tài. Đức và Tài có
mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau tạo nên nhân cách của một
người [15].
Theo H.J.Eysenck, nhân cách có 3 bình diện: hướng ngoại, nhiễu tâm
(ổn định hay không ổn định) và loạn tâm (tư duy thực tiễn hay không thực
tiễn). Sự khác biệt nhân cách dựa trên 3 bình diện này là do sự khác biệt về
gen sinh học của mỗi người. Còn với S.Freud thì tảng băng tâm trí của con
người gồm 3 cấp bậc: ý thức, tiền ý thức và vô thức. Trong 3 cấp độ ấy, 3
thành phần cơ bản của nhân cách là: cái Ấy (Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu Tôi
(Super Ego) tồn tại, đấu tranh và chế ước lẫn nhau. Nhân cách của một người
tùy thuộc vào yếu tố nào thắng thế trong cuộc đấu tranh giữa 3 yếu tố trên.
C.G.Jung và E. Kretschmer thì quan niệm nhân cách con người có mối liên hệ
mật thiết với các đặc điểm sinh học, thể tạng và đặc điểm của hệ thần kinh. E.
Kretschmer cho rằng, các thành phần cấu tạo nên cơ thể có mối quan hệ và
phê phán hoài nghi khoa học
3. Năng lực hành động: Khả năng
hành động có mục đích, có điều
khiển, Chủ động tích cực
4. Cung cách ứng xử gồm: Tác phong,
tính khí, lễ tiết
4. Năng lực giao lưu: Khả năng thiết lập
và duy trì mối quan hệ với người khác
1.1.2. Các yếu tố hình thành nhân cách
Thứ nhất: Yếu tố sinh học
Không thể có nhân cách trừu tượng ở bên ngoài một con người bằng
xương bằng thịt mà là nhân cách của một con người cụ thể sống trong một xã
hội cụ thể. Ngay từ lúc đứa trẻ sinh ra đã có những đặc điểm hình thái sinh lý
của con người bao gồm các đặc điểm bẩm sinh và di truyền.
Di truyền không quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển
nhân cách của cá nhân. Di truyền đóng vai trò là tiền đề vật chất, là cơ sở sinh
học cho sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Thừa hưởng
những đặc tính di truyền tốt từ thế hệ trước là điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển toàn diện của một nhân cách. Mỗi trẻ em sinh ra đã kế thừa những phẩm
chất sinh vật của các thế hệ cha ông mình, mang dấu ấn đặc trưng của nòi
giống, đó gọi là hiện tượng di truyền. Di truyền học đã chứng minh rằng, các
thế hệ con người có thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể
24
về các loại thần kinh, về chức năng hoạt động của chúng tạo thành sức sống
tự nhiên của con người. Sức sống tự nhiên là những tiền đề vật chất có vai trò
quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Tư chất thông minh,
gen di truyền có vai trò là “nhân tố gốc” tạo nên năng lực nhận thức, tư duy
của trẻ nhỏ. Nhờ yếu tố bẩm sinh, di truyền dưới sự tác động của các môi
một thành viên của xã
hội cũng như một công dân, người lao động, một nhà
hoạt động xã hội có ý thức sẽ làm thành nhân cách.
Hoạt động và giao tiếp là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống con
người. Tính đa dạng của hoạt động tạo nên tính đa dạng của giao tiếp. Phương
thức mục đích của giao tiếp giúp cá nhân chiếm lĩnh được những giá trị đích
thực của cuộc sống. Qua giao tiếp trẻ sẽ tìm ra được những lẽ phải, chân lý, rút
ra được kinh nghiệm sống, hình thành nên những nét tính cách điển hình.
Thứ ba: Yếu tố giáo dục
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách của cá nhân. Thông qua hoạt động giáo dục, cá nhân được tác động
có mục đích, có phương pháp và có kế hoạch để thay đổi theo những chuẩn
mực, giá trị xã hội quy định. Ba lực lượng giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến sự
hình thành và phát triển nhân cách của trẻ là gia đình, nhà trường và xã hội.
Ba lực lượng trên phải phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục nhân cách lành
mạnh cho trẻ. Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hóa và hiện đại hóa như
hiện nay thì giáo dục gia đình lại ngày càng có xu hướng bị xem nhẹ. Hầu hết
các bậc cha mẹ thường khoán trắng cho nhà trường trong việc giáo dục trẻ
trong khi giáo dục gia đình là lực lượng quan trọng. Ngoài ra, tự giáo dục
cũng là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về nhân
cách của cá nhân.
Giáo dục là điều kiện quan trọng để tạo ra sự biến đổi về chất của cá
nhân. Giáo dục trang bị cho con người những điều căn bản nhất, giúp con
người phát huy hết tiềm năng của bản thân mà di truyền, giao tiếp… không
thể có được. Tuy nhiên, giáo dục không phải là chiếc chìa khóa vạn năng có
thể mở mọi cánh cửa đã bị khóa chặt.