Luận văn: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay" doc - Pdf 15


Trang 1
Luận văn
Đề tài: "Một số giải pháp nhằm
hoàn thiện và phát triển các công ty
chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn
hiện nay"

Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VỚI HOẠT ĐỘNG
CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. 7
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán. 7
1.1.1. Quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán. 7
1.1.2. Hoạt động của thị trường chứng khoán. 8
1.1.3. Các thành viên của thị trường chứng khoán. 8
1.2. Công ty chứng khoán. 9
1.2.1. Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán. 9
1.2.1.1. Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán. 9
1.2.1.2. Những nét đặc trưng trong tổ chức của các công ty chứng khoán. 10
1.2.2 Hình thức pháp lý của các công ty chứng khoán. 11
1.2.3. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán. 12
1.2.3.1. Nghiệp vụ môi giới 13
1.2.3.2 Nghiệp vụ bảo lãnh. 16
1.2.3.3 Nghiệp vụ tự doanh. 19
1.2.3.4. Các nghiệp vụ phụ trợ. 20
1.2.4. Nguyên tắc đạo đức và tài chính đối với công ty chứng khoán. 22

2.5.1.2. Tình hình giá giao dịch chứng khoán. 41
2.5.1.3. Hoạt động lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán. 42
2.5.2. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của các công ty chứng
khoán. 44
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG
TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 46
3.1. Mục tiêu và phương hướng trong thời gian tới. 46
3.2. Các giải pháp hoàn thiện công ty chứng khoán. 48
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện mô hình công ty chứng khoán. 48
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện nguồn nhân lực trong các công ty chứng khoán. . 49
3.2.4. Giải pháp hoàn thiện hệ thống tin học cho các công ty chứng khoán. 51
3.3. Các giải pháp nhằm mở rộng và phát triển các công ty chứng khoán. . 54
3.3.1. Giải pháp tạo hành lang pháp lý cho các công ty chứng khoán. 54
3.3.2. Giải pháp tăng cường việc quản lý, thanh tra, giám sát các công ty
chứng khoán. 56

Trang 4
3.3.2.1. Tăng cường công tác giám sát tài chính và quản lí rủi ro đối với
công ty chứng khoán. 56
3.3.2.2. Quy định về việc trích lập quỹ dự phòng vốn điều lệ 58
3.3.2.3. Quy định về bảo vệ lợi ích các nhà đầu tư. 59
3.3.2.4. Quy định về chế độ báo cáo và công khai hoá thông tin. 60
3.3.2.5. Cần hạn chế một số hoạt động kinh doanh chứng khoán ở thị
trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian đầu hoạt động. 60
3.3.3. Giải pháp tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán. 62
KẾT LUẬN. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
MỤC LỤC 2

Trang 5

Chương II: Thực tiễn hoạt động của các công ty chứng khoán ở Việt Nam
hiện nay.
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện và phát triển các công ty chứng khoán ở
Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.s
Đặng Ngọc Đức và cán bộ, công nhân viên Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán -
UBCKNN đã giúp em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Do hạn chế về lý luận, kinh nghiệm thực tế, điều kiện nghiên cứu nên bài viết
này của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của thầy cô, cán bộ,
nhân viên Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán - UBCKNN và tất cả các bạn đọc
để các bài viết sau của em được tốt hơn.

Hà Nội, tháng 5 năm 2003
Sinh viên TH: Lê Thanh Thái

Trang 7

CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán.
1.1.1. Quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính,
hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập
trung thành những nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế và Nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án
đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán chứng khoán và
các giấy ghi nợ trung hoặc dài hạn thường từ 01 năm trở lên. Công cụ trao đổi trên
thị trường chứng khoán rất phong phú. Vậy thị trường chứng khoán là nơi mua bán
các chứng khoán đã được phát hành và đang lưu hành trên thị trường.

trao đổi mua bán quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn, tiền mặt. Các hoạt động
này được thực hiện thông qua các thành viên trên thị trường chứng khoán.
1.1.3. Các thành viên của thị trường chứng khoán.
- Người đầu tư chứng khoán: Là những người mua bán chứng khoán gồm có:
các doanh nghiệp, các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí và lực lượng rộng rãi nhất
là tầng lớp dân chúng đầu tư vào.
- Người kinh doanh chứng khoán: Là người được pháp luật cho phép thực hiện
các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, bao gồm môi giới chứng khoán (nhận mua
hộ và bán hộ để hưởng hoa hồng), bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư
chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, mua và bán chứng khoán cho chính
mình để hưởng chênh lệch giá.
- Người tổ chức thị trường: Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để phục vụ
cho việc mua bán chứng khoán hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán.
- Người quản lý và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán: Tức là
Nhà nước, người bảo đảm cho thị trường hoạt động theo đúng các quy định của

Trang 9
pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư, bảo đảm việc mua bán chứng
khoán được công bằng, công khai, tránh những tình trạng tiêu cực có thể xảy ra.
Ngoài các đối tượng trên ra, còn có các đối tượng tương hỗ quan trọng khác
như: Các tổ chức thanh toán bù trừ và lưu giữ chứng khoán, tổ chức dịch vụ sang
tên và đăng ký lại quyền sở hữu chứng khoán, trung tâm đào tạo người hành nghề
chứng khoán, hiệp hội các nhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
Trong các đối tượng đó thì người kinh doanh chứng khoán (trong đó có các
công ty chứng khoán) giữ vai trò quan trọng đảm bảo cho thị trường chứng khoán
hoạt động ổn định và có hiệu quả.
1.2. Công ty chứng khoán.
1.2.1. Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán.
1.2.1.1. Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Vì công ty chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề

phận môi giới và tự doanh hay bảo lãnh phát hành )
b. Nhân tố con người.
Trong công ty chứng khoán, quan hệ với khác hàng giữ vai trò rất quan trọng,
đòi hỏi nhân tố con người phải luôn được quan tâm, chú trọng.
Khác với các công ty sản xuất, ở công ty chứng khoán việc thăng tiến cất nhắc
lên vị trí cao hơn nhiều khi không quan trọng. Các chức vụ quản lí hay giám đốc
của công ty nhiều khi có thể nhận được ít thù lao hơn so với một số nhân viên cấp
dưới.
c. Ảnh hưởng của thị trường tài chính.
Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh
hưởng lớn tới sản phẩm, dịch vụ, khả năng thu lợi nhuận của công ty chứng khoán.
Thị trường chứng khoán càng phát triển thì công cụ tài chính càng đa dạng, hàng

Trang 11
hoá dịch vụ phong phú, qua đó công ty chứng khoán có thể mở rộng hoạt động thu
nhiều lợi nhuận.
Với các trình độ phát triển khác nhau của thị trường, các công ty chứng khoán
phải có cơ cấu tổ chức đặc thù để đáp ứng những nhu cầu riêng. Thị trường càng
phát triển thì cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán càng phức tạp (chẳng hạn
Mỹ, Nhật ). Trong khi đó, thị trường chứng khoán mới hình thành thì cơ cấu tổ
chức của công ty chứng khoán giản đơn hơn nhiều (như Đông Âu, Trung Quốc ).
1.2.2 Hình thức pháp lý của các công ty chứng khoán.
Có ba loại hình tổ chức công ty chứng khoán cơ bản: công ty hợp danh, công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
a. Công ty hợp danh.
Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên.Thành viên tham gia vào quá
trình đưa ra các quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh. Các thành
viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách nhiệm với các
khoản nợ của công ty hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngược lại thành
viên không tham gia vào quá trình điều hành quản lí công ty được gọi là thành viên

+ Hình thức tổ chức quản lí, chế độ báo cáo và thông tin tốt hơn hai loại hình
hợp danh và trách nhiệm hữu hạn.
Do những ưu điểm này, ngày nay chủ yếu các công ty chứng khoán tồn tại dưới
hình thức công ty cổ phần thậm chí một số nước (như Hàn Quốc) còn bắt buộc các
công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần.
1.2.3. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán có thể là những công ty chuyên kinh doanh một dịch
vụ như công ty chỉ chuyên môi giới, công ty chỉ chuyên thực hiện bảo lãnh phát
hành hoặc là những công ty đa dịch vụ, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh
chứng khoán. Nhìn chung có ba nghiệp vụ kinh doanh chính là:

Trang 13
- Nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
- Nghiệp vụ tự doanh.
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
Ngày nay, do thị trường ngày càng phát triển và do nhu cầu của bản thân công
ty chứng khoán ngày càng mở rộng nên đã phát sinh nhiều nghiệp vụ như: cho vay
kí quĩ, tư vấn đầu tư, quản lí danh mục đầu tư, quản lí thu nhập chứng khoán.
Đồng thời các công ty chứng khoán ngày nay còn hoạt động trên cả lĩnh vực tiền
tệ, ngân hàng, bảo hiểm.
1.2.3.1. Nghiệp vụ môi giới
Bản chất nghiệp vụ.
Công ty chứng khoán tiến hành nghiệp vụ môi giới sẽ đại diện cho khách hàng
tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc
thị trường OTC. Khách hàng sẽ phải chịu hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Các nhà môi giới thường gặp phải rủi ro khi khách hàng của mình hoặc nhà môi
giới giao dịch khác không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn.
Qui trình giao dịch.
Quá trình môi giới của công ty chứng khoán thường qua các bước chủ yếu thể
hiện ở sơ đồ sau:

Công ty chứng khoán

(4)

(1)

(2)

(3)
(5)Trang 15
phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán mà không cần chuyển qua phòng
thực hiện lệnh.
Bước 4: Xác nhận cho khách hàng.
Sau khi thực hiện lệnh xong, công ty chứng khoán sẽ gửi cho khách hàng một
phiếu xác nhận đã thi hành xong lệnh.
Bước 5: Thanh toán bù trừ giao dịch.
Hoạt động này bao gồm việc đối chiếu giao dịch và bù trừ các kết quả giao dịch.
Hiện nay các nước áp dụng việc đối chiếu cố định: Sở giao dịch chứng khoán sẽ
tiến hành bù trừ trên cơ sở nội dung lệnh của các công ty chứng khoán chuyển vào
hệ thống. Những sai sót của công ty chứng khoán sẽ do công ty chứng khoán tự
sửa chữa.
Việc bù trừ các kết quả giao dịch kết thúc bằng việc in ra các chứng từ thanh
toán. Chứng từ này được gửi cho công ty chứng khoán. Nó là cơ sở để thực hiện
thanh toán và giao chứng khoán.
Bước 6: Thanh toán và giao hàng.
Đến ngày thanh toán, người mua sẽ giao tiền thông qua ngân hàng chỉ định
thanh toán; người bán sẽ giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản tại

Một là, bảo lãnh chắc chắn: công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ số
chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành và sau đó sẽ bán ra công
chúng. Giá mua của công ty bảo lãnh là giá đã được ấn định, thường là thấp hơn
giá thị trường. Giá bán của công ty bảo lãnh là giá thị trường. Đây là hình thức
công ty bảo lãnh hoạt động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
Hai là, bảo lãnh cố gắng tối đa: là hình thức mà công ty bảo lãnh phát hành hứa
sẽ cố gắng tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công ty phát hành.
Nếu không bán hết, công ty bảo lãnh sẽ trả lại số chứng khoán không bán được cho
công ty phát hành. Người bảo lãnh được hưởng số hoa hồng trên số chứng khoán
bán được.

Trang 17
Ba là, bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: trường hợp này được áp dụng khi
công ty phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định. Nếu huy động được đủ
số vốn đó thì thực hiện phát hành, còn không huy động đủ thì sẽ bị huỷ bỏ. Ví dụ,
một công ty cố gắng bán toàn bộ 100.000.000$ cổ phiếu nó yêu cầu công ty chứng
khoán phải bán tối thiểu 60% giá trị của đợt phát hành, tức là công ty phải nhận
được lượng tiền bán tối thiểu là 60.000.000 $ nếu không toàn bộ đợt phát hành sẽ
bị loại bỏ.
Một số khâu quan trọng trong quy trình bảo lãnh .
+ Lập nghiệp đoàn bảo lãnh.
Khi số số chứng khoán phát hành vượt quá khả năng bảo lãnh của một công ty
chứng khoán thì một nghiệp đoàn bao gồm một số công ty chứng khoán và các tổ
chức tài chính sẽ được thành lập.
Nghiệp đoàn này có ý nghĩa phân tán rủi ro trong hình thức bảo lãnh chắc chắn.
Trong nghiệp đoàn có một công ty bảo lãnh chính, thường là người khởi đầu cho
cuộc giao dịch này, đứng ra ký kết và giải quyết các giấy tờ với công ty phát hành.
Nó quyết định công ty chứng khoán nào được mời tham gia nghiệp đoàn và sẽ trả
chi phí bảo lãnh cho các công ty khác trong nghiệp đoàn.
Nhóm bán:

kí của công ty phát hành, công ty luật, công ty bảo lãnh. Bản cáo bạch của công ty
phát hành trình bày tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và kế hoạch sử dụng
tiền thu được từ việc phát hành nhằm giúp công chúng đánh giá và đưa ra quyết
định mua chứng khoán.
+ Phân phối chứng khoán trên cơ sở phiếu đăng kí.
Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết như phân phát bản cáo bạch và phiếu
đăng kí mua chứng khoán và đợi khi đăng kí phát hành chứng khoán có hiệu lực,
công ty chứng khoán hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh sẽ tiến hành phân phối chứng
khoán.
Phân phối chứng khoán ra công chúng có thể được thực hiện dưới các hình
thức:

Trang 19
Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể (như các quĩ đầu tư, quĩ bảo hiểm, quĩ
hưu trí ).
Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với tổ
chức phát hành.
Bán ra công chúng.
+ Thanh toán
Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán
chứng khoán cho công ty phát hành. Số tiền thanh toán là giá trị chứng khoán phát
hành trừ đi thù lao cho công ty bảo lãnh.
Thù lao cho công ty bảo lãnh có thể là khoản phí (đối với hình thức bảo lãnh
chắc chắn) hoặc hoa hồng (đối với các hình thức bảo lãnh khác).
Mức phí bảo lãnh tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành, tình hình thị trường
và do hai bên thoả thuận. Nếu là phát hành lần đầu thì phí bảo lãnh cao hơn lần
phát hành bổ sung. Đối với trái phiếu phí và hoa hồng còn tuỳ thuộc vào lãi suất
trái phiếu (lãi suất cao sẽ dễ bán, chi phi sẽ thấp và ngược lại).
Hoa hồng: là tỉ lệ (%) cố định đối với từng loại chứng khoán nhất định. Việc
tính toán và phân bổ hoa hồng do các thành viên trong nghiệp đoàn thương lượng

hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế
chấp cho khoản vay.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải dàn xếp với ngân hàng
và phải chịu trách nhiệm về khoản vay đó.
Trong tài khoản kí quỹ, tài sản thực của khách hàng chỉ chiếm một tỉ lệ nhất
định (50%-60% tuỳ từng nước), số còn lại là tiền vay của công ty chứng khoán.
Đến hạn, khách hàng phải trả vốn vay và lãi cho công ty chứng khoán. Nếu không
trả được nợ, công ty chứng khoán sẽ bán chứng khoán trên tài sản kí quỹ để thu
hồi khoản vay.

Trang 21
Rủi ro đối với công ty chứng khoán xảy ra khi chứng khoán thế chấp giảm giá
và giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản vay kí quỹ. Vì vậy, công ty chứng
khoán không nên tập trung quá mức vào một khách hàng hay một loại chứng
khoán.
b. Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty.
Đây là việc cung cấp các thông tin về đối tượng chứng khoán, thời hạn, các vấn
đề mang tính quy luật của hoạt động đầu tư chứng khoán Nó đòi hỏi nhiều kiến
thức, chuyên môn kỹ năng và yêu cầu vốn không cao. Tính trung thực của cá nhân
hay công ty tư vấn có ý nghĩa quan trọng.
c. Nghiệp vụ quản lí danh mục đầu tư.
Đây là một dạng tư vấn đầu tư nhưng ở mức độ cao hơn vì khách hàng uỷ thác
cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo những nguyên tắc
mà khách hàng yêu cầu. Thông thường nghiệp vụ này tuân thủ theo bốn bước cơ
bản:
Bước 1: Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc tìm hiểu khả năng của
nhau.
Bước 2: Công ty và khách hàng tiến hành kí hợp đồng quản lí.
Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lí. Khi có phát sinh ngoài hợp đồng, công ty
chứng khoán phải xin ý kiến của khách hàng rồi mới được phép quyết định. Công

+ Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài
chính để kinh doanh.
+ Công ty chứng khoán phải tách biệt tài sản của mình với tài sản của khách
hàng và tài sản của khách hàng với nhau; không được dùng tài sản của khách hàng
làm vật thế chấp, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản.
+ Công ty chứng khoán khi thực hiện tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin cho
khách hàng, đảm bảo thông tin chính xác, tin cậy.
+ Công ty chứng khoán không được nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các
khoản thù lao thông thường cho hoạt động dịch vụ của mình.

Trang 23
+ Ở nhiều nước, công ty chứng khoán phải đóng tiền vào quĩ bảo vệ nhà đầu tư
chứng khoán để bảo vệ lợi ích cho khách hàng trong trường hợp công ty chứng
khoán bị mất khả năng thanh toán.
+ Ngoài ra, các nước còn có qui định chặt chẽ nhằm chống thao túng thị trường;
cấm mua bán khớp lệnh giả tạo với mục đích tạo ra trạng thái "tích cực bề ngoài";
cấm đưa ra lời đồn đại, xúi dục hoặc lừa đảo trong giao dịch chứng khoán; cấm
giao dịch nội gián sử dụng thông tin nội bộ mua bán chứng khoán cho chính mình
làm thiệt hại tới khách hàng.
1.2.4.2. Nguyên tắc tài chính.
a. Vốn.
Vốn của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ. Nhìn chung,
số vốn cần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằng việc cân
đối giữa vốn pháp định và nhu cầu vốn kinh doanh của công ty.
b. Cơ cấu vốn: Nợ và Có.
Cơ cấu vốn là tỉ lệ các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc vốn góp của các thành
viên mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Việc huy
động vốn được tiến hành thông qua việc góp vốn của các cổ đông, thông qua hệ
thống ngân hàng, thị trường vốn.
Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của công ty chứng khoán có các đặc điểm

tương đương) và một tổ chức tự quản làm cơ quan kiểm tra các báo cáo tài chính
thường niên đã được kiểm toán. Báo cáo tài chính được kiểm toán bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo lỗ lãi.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Ngoài báo cáo thường niên, công ty chứng khoán phải gửi một báo cáo quản lý
toàn diện về tình hình tài chính theo quý như quy định của Uỷ ban chứng khoán.

Trang 25
Ngoài ra công ty phải gửi báo cáo hàng tháng cho tổ chức tự quản có thẩm
quyền để kiểm tra tình hình tài chính và việc tuân thủ các trách nhiệm tài chính.
Nếu công ty chứng khoán không đáp ứng được một số tiêu chuẩn kinh doanh và
tài chính thì có thể phải gửi nhiều báo cáo hơn (báo cáo tuần).
1.2.5. Điều kiện thành lập công ty chứng khoán.
Hoạt động của công ty chứng khoán có ảnh hưởng nhiều tới lợi ích của công
chúng nên nó phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Nhìn chung, qui định về
điều kiện thành lập, cấp phép hoạt động cho công ty chứng khoán được thể hiện ở
hai khía cạnh sau:
Điều kiện về vốn: Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn
pháp định. Vốn pháp định được qui định cụ thể cho từng loại nghiệp vụ. Một công
ty càng tham gia vào nhiều loại hoạt động nghiệp vụ thì yêu cầu về vốn càng
nhiều. Mức vốn qui định cho hoạt động môi giới, tư vấn thường không nhiều.
Trong khi đó, nghiệp vụ tự doanh hay bảo lãnh phát hành đòi hỏi mức vốn pháp
định tương đối cao.
Điều kiện nhân sự: Những người quản lí hay nhân viên của công ty chứng
khoán phải có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và độ tín nhiệm. Thông thường, các
nhân viên của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề. Muốn có giấy
phép hành nghề, ngoài việc đáp ứng một số qui định như tuổi tác, trình độ học vấn,
lí lịch tốt phải trải qua những kì thi kiến thức chuyên môn chứng khoán. Những
người nắm giữ các chức năng quản lí trong công ty chứng khoán phải có giấy phép


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status