Trang 1
Luận văn
Đề tài: "Một số giải pháp nhằm
hoàn thiện và phát triển các công ty
chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn
hiện nay"
Trang 2
MỞ ĐẦU
Nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi một khối lượng vốn khổng lồ,
nhất là vốn dài hạn, mà trong giai đoạn hiện nay, thị trường tài chính mới chỉ đáp
ứng được một phần nhỏ nhu cầu về vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.
Xuất phát từ đòi hỏi ấy, thị trường chứng khoán, với tư cách là kênh huy vốn
quan trọng cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành một nhu cầu cấp thiết,
khách quan trong điều kiện hiện nay.
Tuy nhiên thị trường chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải có hàng
hoá cho nó (cổ phiếu, trái phiếu ) và đồng thời phải có các công ty chứng khoán
chuyên mua bán, giao dịch các loại hàng hoá đó.
Công ty chứng khoán sẽ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng
khoán mà một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ những nguồn lẻ tẻ trong
công chúng tập hợp lại.
Như vậy, sự ra đời của các công ty chứng khoán trong giai đoạn hiện nay là một
nhu cầu khách quan. Tuy nhiên để nó đi vào hoạt động có hiệu quả cần tiếp tục có
những điều chỉnh hợp lý.
Đề xuất: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty chứng
khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay" sẽ đưa ra những kiến nghị góp phần vào
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán.
1.1.1. Quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính,
hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập
trung thành những nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế và Nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án
đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán chứng khoán và
các giấy ghi nợ trung hoặc dài hạn thường từ 01 năm trở lên. Công cụ trao đổi trên
thị trường chứng khoán rất phong phú. Vậy thị trường chứng khoán là nơi mua bán
các chứng khoán đã được phát hành và đang lưu hành trên thị trường.
Hiện nay tồn tại hai quan điểm đối lập nhau:
Quan điểm một cho rằng: thị trường vốn và thị trường chứng khoán là khác
nhau vì công cụ của thị trường chứng khoán ngoài các chứng khoán dài hạn còn có
các giấy ghi nợ ngắn hạn (các tín phiếu kho bạc nhà nước có thời hạn 03 tháng
hoặc 06 tháng).
Quan điểm thứ hai cho rằng: thị trường vốn và thị trường chứng khoán chỉ là
các tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: thị trường tư bản.
Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thị trường chứng
khoán được quan niệm là một thị trường có tổ chức và hoạt động có điều kiện, là
nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn giữa
những người phát hành chứng khoán và mua chứng khoán hoặc kinh doanh chứng
khoán.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau, nhưng nhìn
chung một thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi các hoạt động cơ bản sau.
Trang 5
1.1.2. Hoạt động của thị trường chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán các hoạt động giao dịch chứng khoán được thực
hiện . Xét về mặt hình thức, các hoạt động trao đổi mua bán chuyển nhượng các
Ngoài các đối tượng trên ra, còn có các đối tượng tương hỗ quan trọng khác
như: Các tổ chức thanh toán bù trừ và lưu giữ chứng khoán, tổ chức dịch vụ sang
tên và đăng ký lại quyền sở hữu chứng khoán, trung tâm đào tạo người hành nghề
chứng khoán, hiệp hội các nhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
Trong các đối tượng đó thì người kinh doanh chứng khoán (trong đó có các
công ty chứng khoán) giữ vai trò quan trọng đảm bảo cho thị trường chứng khoán
hoạt động ổn định và có hiệu quả.
1.2. Công ty chứng khoán.
1.2.1. Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán.
1.2.1.1. Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Vì công ty chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề
xác định mô hình tổ chức kinh doanh của nó có nhiều điểm khác nhau ở các nước.
Mỗi nước đều có một mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán riêng, phù hợp với
đặc điểm của hệ thống tài chính và tuỳ thuộc vào sự cân nhắc lợi hại của những
người làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, ta có thể khái quát lên ba mô
hình cơ bản hiện nay là: mô hình công ty chứng khoán ngân hàng hay mô hình
ngân hàng đa năng (bao gồm: Ngân hàng đa năng toàn phần, Ngân hàng đa năng
một phần) và công ty chuyên doanh chứng khoán.
Trong mô hình ngân hàng đa năng toàn phần, một ngân hàng có thể tham gia tất
cả các hoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm mà không cần thông
qua những pháp nhân riêng biệt.
Khác với mô hình trên, trong mô hình ngân hàng đa năng một phần, một ngân
hàng muốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thông qua công ty
con là pháp nhân riêng biệt.
Trang 7
Với mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh chứng
khoán sẽ do công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm
nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
1.2.1.2. Những nét đặc trưng trong tổ chức của các công ty chứng khoán.
Mỹ, Nhật ). Trong khi đó, thị trường chứng khoán mới hình thành thì cơ cấu tổ
chức của công ty chứng khoán giản đơn hơn nhiều (như Đông Âu, Trung Quốc ).
1.2.2 Hình thức pháp lý của các công ty chứng khoán.
Có ba loại hình tổ chức công ty chứng khoán cơ bản: công ty hợp danh, công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
a. Công ty hợp danh.
Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên.Thành viên tham gia vào quá
trình đưa ra các quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh. Các thành
viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách nhiệm với các
khoản nợ của công ty hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngược lại thành
viên không tham gia vào quá trình điều hành quản lí công ty được gọi là thành viên
góp vốn. Họ chỉ chịu trách nhiệm đối với những khoản nợ của công ty trong giới
hạn góp vốn của mình.
Thông thường khả năng huy động vốn góp của công ty hợp danh không lớn, nó
chỉ giới hạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp.
b. Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Đây là công ty chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên đối với các khoản nợ
của công ty trong giới hạn số vốn góp của họ, do đó gây tâm lí nhẹ nhàng hơn đối
với các nhà đầu tư.
Về phương diện huy động vốn, nó đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp
danh. Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lí cũng năng động hơn, không bị bó
hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
Trang 9
Nhờ những ưu thế đó, hiện nay rất nhiều công ty chứng khoán hoạt động dưới
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
c. Công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ đông.
Đại hội cổ đông có quyền bầu ra hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ định ra các
chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để
tệ, ngân hàng, bảo hiểm.
1.2.3.1. Nghiệp vụ môi giới
Bản chất nghiệp vụ.
Công ty chứng khoán tiến hành nghiệp vụ môi giới sẽ đại diện cho khách hàng
tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc
thị trường OTC. Khách hàng sẽ phải chịu hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Các nhà môi giới thường gặp phải rủi ro khi khách hàng của mình hoặc nhà môi
giới giao dịch khác không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn.
Qui trình giao dịch.
Quá trình môi giới của công ty chứng khoán thường qua các bước chủ yếu thể
hiện ở sơ đồ sau:
Bước 1: Mở tài khoản (1).
Bước 2: Nhận lệnh (2).
Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh (3).
Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4).
Bước 5: Thanh toán và giao hàng.
Trang 11
Bước 1: Mở tài khoản.
Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài khoản
tiền mặt hoặc tài khoản kí quĩ). Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí quĩ còn tài
khoản giao dịch dùng cho các giao dịch thông thường.
Bước 2: Nhận đơn đặt hàng.
Khách hàng ra lệnh mua, bán cho công ty chứng khoán dưới nhiều hình thức:
Điện thoại, telex, phiếu lệnh
Nếu là lệnh bán, công ty chứng khoán sẽ yêu cầu khách hàng xuất trình số
chứng khoán muốn bán trước khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải kí quĩ một
phần số chứng khoán cần bán theo một tỉ lệ do uỷ ban chứng khoán qui định.
Nếu là lệnh mua, công ty sẽ đề nghị khách hàng mức tiền kí quĩ nhất định trên
Hoạt động này bao gồm việc đối chiếu giao dịch và bù trừ các kết quả giao dịch.
Hiện nay các nước áp dụng việc đối chiếu cố định: Sở giao dịch chứng khoán sẽ
tiến hành bù trừ trên cơ sở nội dung lệnh của các công ty chứng khoán chuyển vào
hệ thống. Những sai sót của công ty chứng khoán sẽ do công ty chứng khoán tự
sửa chữa.
Việc bù trừ các kết quả giao dịch kết thúc bằng việc in ra các chứng từ thanh
toán. Chứng từ này được gửi cho công ty chứng khoán. Nó là cơ sở để thực hiện
thanh toán và giao chứng khoán.
Bước 6: Thanh toán và giao hàng.
Đến ngày thanh toán, người mua sẽ giao tiền thông qua ngân hàng chỉ định
thanh toán; người bán sẽ giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản tại
trung tâm lưu kí chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục tại Sở, công ty sẽ thanh
toán tiền và chứng khoán cho khách hàng thông qua hệ thống tài khoản khách hàng
mở tại công ty chứng khoán.
Phí môi giới.
Hoạt động với tư cách là nhà đại lí nên công ty chứng khoán được hưởng hoa
hồng môi giới. Số tiền hoa hồng thường được tính phần trăm trên tổng giá trị một
giao dịch. Số tiền mua bán càng nhỏ thì số phần trăm hoa hồng càng lớn.
Một số nước hiện nay duy trì tỉ lệ hoa hồng cố định như Thái Lan, Inđônêxia,
Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan. Theo đó mức hoa hồng cao, thấp tuỳ thuộc vào giá
trị hợp đồng.
Trang 13
Thông thường, các công ty chứng khoán đều có chế độ hoa hồng của mình và
thỉnh thoảng lại điều chỉnh cho thích hợp. Các công ty nhỏ thường phải chờ xem
các hãng lớn cho biết tỉ suất hoa hồng rồi mới công bố tỉ suất của mình.
Thuế giao dịch chứng khoán.
Các công ty chứng khoán phải nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh của mình.
Doanh thu chịu thuế tuỳ thuộc vào các nghiệp vụ mà công ty tiến hành.
Đối với hoạt động môi giới, bảo lãnh, thuế được tính trên mức hoa hồng hay
Một số khâu quan trọng trong quy trình bảo lãnh .
+ Lập nghiệp đoàn bảo lãnh.
Khi số số chứng khoán phát hành vượt quá khả năng bảo lãnh của một công ty
chứng khoán thì một nghiệp đoàn bao gồm một số công ty chứng khoán và các tổ
chức tài chính sẽ được thành lập.
Nghiệp đoàn này có ý nghĩa phân tán rủi ro trong hình thức bảo lãnh chắc chắn.
Trong nghiệp đoàn có một công ty bảo lãnh chính, thường là người khởi đầu cho
cuộc giao dịch này, đứng ra ký kết và giải quyết các giấy tờ với công ty phát hành.
Nó quyết định công ty chứng khoán nào được mời tham gia nghiệp đoàn và sẽ trả
chi phí bảo lãnh cho các công ty khác trong nghiệp đoàn.
Nhóm bán:
Để việc bán nhanh hơn, nghiệp đoàn bảo lãnh có thể tổ chức thêm một "nhóm
bán". Nhóm này bao gồm một số công ty không nằm trong nghiệp đoàn bảo lãnh,
họ chỉ giúp bán chứng khoán mà không phải chịu trách nhiệm về số chứng khoán
không bán được. Do vậy, thù lao cho họ ít hơn các thành viên trong nghiệp đoàn
bảo lãnh.
+ Phân tích, định giá chứng khoán.
Định giá cho cổ phiếu rất phức tạp. Ở đây bắt gặp vấn đề nan giải: một mặt,
người phát hành cổ phiếu muốn nhận được càng nhiều tiền càng tốt từ đợt phát
hành này; mặt khác người quản lý muốn định giá sao cho có thể bán được và bán
càng nhanh càng tốt. Nếu giá cao quá công chúng sẽ không mua, nếu giá thấp quá
thì giá chứng khoán sẽ mau chóng chuyển lên cao hơn ở thị trường thứ cấp và
Trang 15
người phát hành sẽ chịu thiệt. Thông thường, việc định giá cổ phiếu căn cứ vào
nhiều yếu tố: lợi nhuận của công ty, dự kiến lợi tức cổ phần, số lượng cổ phiếu
chào bán, tỉ lệ giá cả - lợi tức so với những công ty tương tự, tình hình thị trường
lúc chào bán
Đối với trái phiếu, việc định giá đơn giản hơn vì trên thị trường đã có sẵn lãi
suất chuẩn và yết giá của những người mua, bán chứng khoán cho những loại trái
Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán
chứng khoán cho công ty phát hành. Số tiền thanh toán là giá trị chứng khoán phát
hành trừ đi thù lao cho công ty bảo lãnh.
Thù lao cho công ty bảo lãnh có thể là khoản phí (đối với hình thức bảo lãnh
chắc chắn) hoặc hoa hồng (đối với các hình thức bảo lãnh khác).
Mức phí bảo lãnh tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành, tình hình thị trường
và do hai bên thoả thuận. Nếu là phát hành lần đầu thì phí bảo lãnh cao hơn lần
phát hành bổ sung. Đối với trái phiếu phí và hoa hồng còn tuỳ thuộc vào lãi suất
trái phiếu (lãi suất cao sẽ dễ bán, chi phi sẽ thấp và ngược lại).
Hoa hồng: là tỉ lệ (%) cố định đối với từng loại chứng khoán nhất định. Việc
tính toán và phân bổ hoa hồng do các thành viên trong nghiệp đoàn thương lượng
với nhau.
Phí bảo lãnh: là chênh lệch giữa giá bán chứng khoán trên thị trường và số tiền
công ty phát hành nhận được.
1.2.3.3 Nghiệp vụ tự doanh.
Đây là nghiệp vụ kinh doanh trong đó công ty chứng khoán dùng kinh phí của
mình để mua và bán chứng khoán, họ tự chịu mọi rủi ro và có thể làm thêm nhiệm
vụ tạo thị trường cho một loại chứng khoán nào đó.
Nhà giao dịch chịu lãi hay lỗ tuỳ thuộc vào chênh lệch giá mua và bán chứng
khoán. Hoạt động buôn bán chứng khoán có thể là:
Trang 17
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt lệnh mua và bán của mình trên
Sở giao dịch, lệnh của họ được xác định đối với bất kì khách hàng nào không xác
định trước.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch giữa hai công ty chứng khoán hay giữa công
ty chứng khoán với khách hàng thông qua thương lượng. Đối tượng của giao dịch
trực tiếp thường là các trái phiếu và cổ phiếu giao dịch ở thị trường OTC.
Thông thường các công ty chứng khoán phải dành một tỉ lệ % nhất định cho
hoạt động bình ổn thị trường (ở Mỹ luật qui định là 60%). Các công ty có nghĩa vụ
hay công ty tư vấn có ý nghĩa quan trọng.
c. Nghiệp vụ quản lí danh mục đầu tư.
Đây là một dạng tư vấn đầu tư nhưng ở mức độ cao hơn vì khách hàng uỷ thác
cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo những nguyên tắc
mà khách hàng yêu cầu. Thông thường nghiệp vụ này tuân thủ theo bốn bước cơ
bản:
Bước 1: Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc tìm hiểu khả năng của
nhau.
Bước 2: Công ty và khách hàng tiến hành kí hợp đồng quản lí.
Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lí. Khi có phát sinh ngoài hợp đồng, công ty
chứng khoán phải xin ý kiến của khách hàng rồi mới được phép quyết định. Công
ty chứng khoán phải tách rời hoạt động này với hoạt động môi giới và tự doanh để
tránh mâu thuẫn lợi ích.
Bước 4: Khi đến hạn kết thúc hợp đồng công ty phải cùng khách hàng bàn bạc,
quyết định xem gia hạn hay thanh lí hợp đồng. Khi công ty bị phá sản, tài sản uỷ
thác của khách hàng phải được tách riêng và không được dùng để trả nghĩa vụ nợ
cho công ty chứng khoán.
Khoản phí mà công ty chứng khoán nhận được dựa trên số lợi nhuận thu về cho
khách hàng.
d. Nghiệp vụ quản lí thu nhập chứng khoán (quản lí cổ tức).
Trang 19
Nghiệp vụ này xuất phát từ nghiệp vụ lưu kí chứng khoán. Công ty phải thực
hiện hoạt động theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi gửi
báo cáo cho khách hàng. Trên thực tế, các công ty chứng khoán không trực tiếp
quản lí mà sẽ lưu kí tại trung tâm lưu giữ chứng khoán.
Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có thể tiến hành một số hoạt
đông khác như: cho vay chứng khoán, quản lí quỹ đầu tư, quản lí vốn, kinh doanh
bảo hiểm
Vì là một định chế tài chính đặc biệt nên công ty chứng khoán phải tuân thủ một
1.2.4.2. Nguyên tắc tài chính.
a. Vốn.
Vốn của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ. Nhìn chung,
số vốn cần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằng việc cân
đối giữa vốn pháp định và nhu cầu vốn kinh doanh của công ty.
b. Cơ cấu vốn: Nợ và Có.
Cơ cấu vốn là tỉ lệ các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc vốn góp của các thành
viên mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Việc huy
động vốn được tiến hành thông qua việc góp vốn của các cổ đông, thông qua hệ
thống ngân hàng, thị trường vốn.
Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của công ty chứng khoán có các đặc điểm
chung:
Các công ty phụ thuộc khá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn.
Các chứng khoán đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường chiếm phần lớn
tổng giá trị tài sản của công ty chứng khoán (40%-60%).
Ở các nước đang phát triển, thông thường các công ty chứng khoán không
được vay vốn của nước ngoài trong khi ở những nước phát triển điều này được
phép thực hiện.
Tỉ lệ nợ tuỳ thuộc vào công ty chứng khoán nhưng phải tuân theo qui định
của các cấp quản lí.
Trang 21
c. Quản lí vốn và hạn mức kinh doanh.
* Quản lí vốn khả dụng: các công ty chứng khoán thường phải duy trì một mức
vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán.
* Quản lí quĩ bù đắp rủi ro: Các công ty chứng khoán thực hiện hoạt động tự
doanh thường phải duy trì một tỉ lệ dự trữ trên mức lợi nhuận ròng, còn các công
ty môi giới duy trì tỉ lệ dự trữ tính trên tổng doanh thu với mục đích bù đắp các
khoản lỗ kinh doanh trong năm đó.
* Quản lí quĩ bổ sung vốn điều lệ: công ty chứng khoán phải trích tỉ lệ phần
pháp định. Vốn pháp định được qui định cụ thể cho từng loại nghiệp vụ. Một công
ty càng tham gia vào nhiều loại hoạt động nghiệp vụ thì yêu cầu về vốn càng
nhiều. Mức vốn qui định cho hoạt động môi giới, tư vấn thường không nhiều.
Trong khi đó, nghiệp vụ tự doanh hay bảo lãnh phát hành đòi hỏi mức vốn pháp
định tương đối cao.
Điều kiện nhân sự: Những người quản lí hay nhân viên của công ty chứng
khoán phải có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và độ tín nhiệm. Thông thường, các
nhân viên của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề. Muốn có giấy
phép hành nghề, ngoài việc đáp ứng một số qui định như tuổi tác, trình độ học vấn,
lí lịch tốt phải trải qua những kì thi kiến thức chuyên môn chứng khoán. Những
người nắm giữ các chức năng quản lí trong công ty chứng khoán phải có giấy phép
đại diện. Yêu cầu để được cấp giấy phép đại diện cao hơn so với giấy phép hành
nghề về các mặt học vấn kinh nghiệm công tác.
Trong điều kiện thành lập công ty chứng khoán cần chú ý tới tính điều kiện và
tính đương nhiên. Tính điều kiện có nghĩa là giấy phép thực hiện hoạt động này có
thể lại chính là điều kiện xin cấp giấy phép hoạt động kia. Chẳng hạn muốn thực
hiện hoạt động bảo lãnh thì bắt buộc phải có giấy phép hoạt động tự doanh. Tính
đương nhiên có nghĩa là được thực hiện hoạt động này thì đương nhiên thực hiện
Trang 23
hoạt động kia. Ví dụ: nếu đã có giấy phép quản lí quĩ đầu tư thì đương nhiên được
thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư.
Riêng đối với quản lí quĩ đầu tư ở một số nước trên thế giới có những điểm khác
biệt. Chẳng hạn một số nước như Thái Lan, Hàn Quốc cho phép công ty chứng
khoán thành lập và quả lí quĩ đầu tư trong khi điều này không được Inđônêxia chấp
nhận.
Như vậy, điều kiện thành lập công ty chứng khoán có sự khác nhau ở các nước
trên thế giới. Tùy theo đặc thù mỗi quốc gia, các công ty chứng khoán cũng được
tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau.
1.3. Công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới.
khác.
Các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán tại Mỹ bao gồm các
ngân hàng đầu tư và các công ty môi giới. Việc thành lập các công ty chứng khoán
được thực hiện theo chế độ đăng kí. Các công ty môi giới và tự doanh muốn tham
gia kinh doanh chứng khoán chỉ cần đăng kí với SEC (Uỷ ban Giao dịch chứng
khoán Hoa Kỳ) và phải tham gia một tổ chức tự quản phù hợp (như NASD) hoặc
xin trở thành một thành viên của Sở giao dịch.
Một tiêu chuẩn quan trọng mà công ty chứng khoán ở Mỹ phải tuân thủ là tiêu
chuẩn về vốn. Mức vốn yêu cầu cho hoạt động kinh doanh được xác định bằng sự
kết hợp giữa yêu cầu về vốn của pháp luật và mức vốn cần thiết của công ty. Ở Mỹ
không có sự phân biệt trong qui định giữa công ty chứng khoán trong nước và các
tổ chức nước ngoài tham gia khinh doanh chứng khoán tại Mỹ.
1.3.2. Mô hình Nhật.
Trước đây, mô hình kinh doanh chứng khoán của Nhật là mô hình chuyên
doanh, ngân hàng không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng
khoán. Theo Luật cải cách các định chế ban hành 4/1993, các tổ chức ngân hàng
được phép tham gia vào thị trường chứng khoán thông qua các công ty chứng
Trang 25
khoán con. Đồng thời các công ty chứng khoán lại được phép thành lập công ty
con làm dịch vụ ngân hàng.
Kinh doanh chứng khoán Nhật Bản được chia thành 4 loại hình và mỗi loại hình
lại có giấy phép kinh doanh riêng biệt, đó là nghiệp vụ: môi giới, tự doanh, bảo
lãnh phát hành, chào bán chứng khoán ( hay tham gia vào hệ thống bán lẻ các
chứng khoán phát hành ra công chúng). Ngoài ra, các công ty chứng khoán chuyên
doanh được phép cung cấp các dịch vụ khác liên quan tới chứng khoán như tư vấn
đầu tư, làm đại lí thu tiền mua các trái phiếu phát hành ra công chúng, thanh toán
gốc và lãi trái phiếu, đại lí trả lợi nhuận, mua lại hoặc huỷ từng phần tiền mua
chứng chỉ quĩ đầu tư, lưu kí chứng khoán
Công ty xin tham gia kinh doanh chứng khoán phải đáp ứng được các tiêu