Hợp tác văn hóa Việt Nam - ASEAN từ 1995 đến nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI
PHẠM ĐÌNH THẮNG HỢP TÁC VĂN HOÁ VIỆT NAM - ASEAN TỪ
1995 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC



Chuyên ngành : Quan hệ quốc tế
Mã số : 60.31.40
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Ngô Văn Doanh

Hà Nội - 2008
Các chữ viết tắt

AC
: ASEAN Community
Cộng đồng ASEAN

ACC
: ASEAN Socio-Cultural Community
Cộng đồng Văn hóa Xã hội


: ASEAN Standing Committee
Ủy ban Thường trực ASEAN

ASC
: ASEAN Security Community
Cộng đồng An ninh

ASEAN-COCI
: ASEAN Committee on Culture and Information
Ủy ban Văn hóa-Thông tin ASEAN
ASEAN
: Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CEPT
: Agreement On The Common Effective Preferential Tariff
Chương trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung

COC
: Code of Conduct for South China Sea
Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông

IAI
: Initiative for ASEAN Integration
Sáng kiến liên kết ASEAN

SCC

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Dư kiến đóng góp của đề tài 4
7. Cấu trúc của đề tài nghiên cứu gồm có 3 phần thuộc 3 chương 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN HOÁ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 6
1. Khái niệm văn hóa 6
2. Văn hóa bản địa Đông Nam Á 9
3. Ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ 13
3.1. Sự có mặt của Ấn Độ giáo 13
3.2. Sự có mặt của Phật giáo Tiểu thừa 15
4. Ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc 19
4.1. Sự ảnh hưởng của Nho giáo 21
4.2. Sự có mặt của Phật giáo Đại thừa 23
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ NGUYÊN TẮC HỢP TÁC VĂN HOÁ VIỆT
NAM-ASEAN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21 26
1. Những vấn đề đặt ra cho ASEAN và Việt Nam 26
2. Nguyên tắc chung trong hợp tác văn hóa Việt Nam-ASEAN 30
2.1. Thống nhất trong đa dạng 30
2.2. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc
nội bộ 32
3. Quá trình phát triển hợp tác văn hóa ASEAN 33
3.1. Lịch sử phát triển và hợp tác văn hóa-thông tin ASEAN 33
3.2. Một số lĩnh vực hợp tác văn hoá ASEAN tới đây 38
3.2.1. Hợp tác phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh văn hoá 38
3.2.2. Phát triển doanh nghiệp sản xuất sản phẩm văn hoá có quy mô
vừa và nhỏ 39
3.2.3. Tăng cường, đẩy mạnh hợp tác song phương ASEAN 40
3.2.4. Tăng cường liên kết, hợp tác văn hoá với các nước đối thoại
của ASEAN 41
4. Quá trình phát triển quan hệ văn hoá Việt Nam-ASEAN 42

viên thứ 5 (sau Singapore, Bruney, Malaysia, Lào, Campuchia) phê chuẩn
Hiến chương ASEAN. Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN chính thức có
hiệu lực sau khi được Ngoại trưởng các nước thành viên thông qua tại cuộc
họp diễn ra tại trụ sở của Ban Thư ký ASEAN (Thủ đô Jakarta, Indonesia).
Sự ra đời của Hiến chương ASEAN được xem như một bước tiến quan trọng:
Thông qua Hiến chương này, tất cả các nguyên tắc, luật lệ và hành xử của
ASEAN từ trước tới nay được cập nhật và pháp điển hoá một cách có hệ
thống trong một văn kiện pháp lý (Trước khi có Hiến chương, ASEAN hoạt

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

2
động trên cơ sở văn kiện chính trị nền là Tuyên bố Băng Cốc ra đời ngày
8/8/1967). Đây là một dấu mốc thể hiện quyết tâm của các nước thành viên
ASEAN để hình thành cộng đồng ASEAN với ba trụ cột.
Trong 3 trụ cột, cộng đồng văn hoá xã hội được đánh giá đóng vai trò
quan trọng hàng đầu bởi đặc tính liên kết sâu sắc. Đặc điểm của văn hoá
Đông Nam Á là tương đồng trong đa dạng. Do nằm ở vị trí giữa hai nền văn
minh lớn-đồng thời là hai trung tâm kinh tế lớn là Ấn Độ và Trung Quốc, nên
Đông Nam Á đã sớm hình thành điểm đến và hình thành trung tâm truyền tải
các giá trị văn hoá của thế giới Phương Đông. Việt Nam là quốc gia trong khu
vực Đông Nam Á nên cũng mang những nét đặc trưng của khu vực. Có thể
khẳng định rằng, sự hợp tác trong lĩnh vực văn hoá giữa Việt Nam
và ASEAN tạo đà phát triển cho các lĩnh vực hợp tác khác, cũng như góp
phần không nhỏ trong việc hình thành cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, tác giả đã lựa chọn để tài này nhằm đánh giá
những thành tựu đạt được trong quan hệ hợp tác về văn hoá giữa Việt Nam và
ASEAN trong 10 năm trở lại đây. Từ những nghiên cứu đánh giá này, tác giả
đề xuất một số định hướng hợp tác về văn hoá nói riêng và các lĩnh vực khác
như kinh tế; an ninh, chính trị.

một số đề xuất, dự báo cho mối quan hệ này phát triển trong thời gian tới.
4, Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cở sở hình thành nét đặc trưng văn
hoá Đông Nam Á, một số hoạt động hợp tác văn hoá song phương và đa
phương giữa Việt Nam và ASEAN. Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

4

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn từ khi Việt Nam gia nhập
ASEAN (1995) tới nay. Bởi vì, trước thời điểm này, quan hệ hợp tác Việt
Nam-ASEAN hình thành dưới góc độ tự nhiên như bị ảnh hưởng qua quá
trình giao thương hoặc bị cưỡng bức văn hóa. Từ sau khi Việt Nam gia nhập
ASEAN, mối quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN chủ động và bình đẳng, tiến
tới mục đích hòa hợp và thịnh vượng chung cho khu vực.
5, Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Đề tài nghiên cứu dựa trên Chủ nghĩa Duy vật biện chứng, đồng thời
dựa trên những quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước ta.
- Sử dụng phương pháp phân tích chọn lọc, so sánh, đối chiếu và tổng
hợp vấn đề.
- Kết hợp phương pháp lịch sử lô-gích, cụ thể và khái quát.
6, Dự kiến đóng góp của đề tài:
ASEAN được ví như “sân chơi” nhỏ để Việt Nam tạo lập các mối quan
hệ ra với thế giới. Bản thân các nước ở khu vực Đông Nam Á đã chứa đựng
nhiều điểm khác biệt về văn hóa, chính trị, kinh tế… Sự “cọ xát” ở một “sân
chơi” mang tính khu vực sẽ giúp cho Việt Nam có thêm nhiều quan hệ, hơn
nữa, ASEAN là một tổ chức mở khi có ASEAN cộng (+) nên từ đây vị thế
của Việt Nam được nâng lên. Đề tài này chỉ nghiên cứu mối quan hệ văn hóa

Ở phương Tây, từ văn hoá xuất hiện khá sớm trong đời sống ngôn ngữ.
Nhà ngôn ngữ học người Đức W. Wundt cho rằng, Văn hoá là một từ có
nguồn gốcLatinh: Colere, sau thành Cultura, nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Từ
nghĩa này, sau đó phát triển rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí
tuệ. Ở Trung Quốc, từ văn hoá được cho là xuất hiện từ thời Tây Hán (206
trước công nguyên - 25 năm sau công nguyên). Theo đó, sách Thuyết Uyển
bài Chỉ Vũ có viết: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau
mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực là để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn
hoá không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt”. Theo cách hiểu này thì văn
hoá là một cách giáo hoá đối lập với vũ lực.
Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như
phương Đông nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hoá mới được sử dụng
như thuật ngữ khoa học. Năm 1774, từ này mới được xuất hiện trong thư tịch
và năm 1783 từ điển ở Đức ghi có từ này. Nhiều giả thiết cho rằng, người đầu
tiên sử dụng từ văn hoá trong khoa học là Pufendorf (Đức). Ông cho rằng, văn
hoá là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, đối lập với trạng thái
tự nhiên. Sau này, nhà triết học Herder (1744 - 1803), cho rằng: Văn hoá là sự
hình thành lần thứ hai của con người. Theo ông, lần thứ nhất, con người xuất
hiện với tư cách là một thực thể sinh vật tự nhiên; lần thứ hai hình thành như
một thực thể xã hội, tức là một nhân cách văn hoá.

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

7
Đến năm 1855, học giả Klemm công bố công trình Khoa học chung về
văn hoá, người ta mới coi khoa học về văn hoá hình thành và thực sự phát
triển. Năm 1871, E.B.Tylor công bố công trình Văn hoá nguyên thuỷ ở Lôn
Đôn (Anh). Từ sự kiện này, ngành khoa học về văn hoá mới chính thức được
khẳng định bởi E.B.Tylor đã xác lập được đối tượng nghiên cứu của ngành
văn hoá học. Ông đã đưa ra định nghĩa văn hóa. Theo ông, văn hóa là một

8
- Văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì
không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá. Từ đó, văn
hoá là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là
tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên. Văn hoá
xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với
tự nhiên, nên văn hoá cũng là kết quả của sự thích nghi ấy.
- Sự thích nghi này là có ý thức và chủ động nên có sáng tạo, phù hợp
với giá trị chân - thiện - mỹ.
- Văn hoá bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần.
- Văn hoá không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông thường.
Theo đó, văn học nghệ thuật là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hoá.
Đông Nam Á là một khu vực có yếu tố địa lý đặc biệt. Khu vực này
vừa có hải đảo, vừa có lục địa, nằm rải một vòng nhưng lọt giữa hai trung tâm
văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Trước khi có sự tiếp biến văn hóa với
Ấn Độ và Trung Quốc, khu vực này đã có nền văn hóa riêng, đậm nét bản địa.
Những yếu tố địa lý quan trọng ở Đông Nam Á: Ở Đông Nam Á có
những yếu tố địa lý quan trọng là đất, sông, biển, gió mùa, khí hậu nhiệt đới.
Năm yếu tố này tạo nên đặc điểm chung của văn hoá vùng.
Đất đai ở Đông Nam Á do có nhiều mưa, nắng nên thích hợp với nông
nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước. Vùng đất ở khu vực này không có đồng cỏ
nên chỉ có chăn nuôi nhỏ, ngoài ra chủ yếu là đất đai để trồng trọt.
Sông nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của cư dân
Đông Nam Á. Con nguời thường sinh sống gần sông suối vì đây là nơi có thể
trồng trọt, canh tác. Hai bên các con sông lớn thường phát hiện thấy các di chỉ
của người xưa. Sông cũng là đường giao thông quan trọng ở Đông Nam Á và
thuyền là phương tiện đi lại chủ yếu của cư dân. Lịch sử cho thấy, các cư dân
Đông Nam Á không biết tạo ra bánh xe [4, tr.33].

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

10
nền văn hóa Đồng Nai. Ở Thái Lan, từ khảo cổ, các nhà khoa học đã xác thực
được nền văn hóa trồng trọt trước lúa ở Hang Thẩm Phi, và nền văn hóa lúa
nước ở Non Nốc Tha (Đồi Gà Gô). Ở Campuchia, khảo cổ phát hiện di chỉ
Samrong Sen có nhiều khối vỏ ốc, nhiều vật dụng làm bằng tay, mảnh chén,
đĩa. Những phát hiện khảo cổ gần đây, cho thấy: Niên đại sớm của đồ gốm từ
13.000-6.800 năm trước Công nguyên; trồng lúa là: 3.500 năm trước Công
nguyên; luyện đồng là 2.700 năm trước Công nguyên; luyện sắt là 1.300 năm
trước Công nguyên [4, tr.201].
Tư liệu cổ: Trung Quốc là nước có nhiều tài liệu cổ viết về Đông Nam
Á. Theo tài liệu của Trung Quốc để lại, trong sớ của Tiết Tôn ở đời Tam
Quốc (Tam Quốc chí, quyển 53) có ghi về một tập tục của người Việt cổ: Khi
mới thuộc Hán, người Giao Chỉ ở huyện Mê Linh, Cửu Chân và Đô Lung nếu
anh chết thì em lấy chị dâu [4, tr.202]. Tài liệu của một số học giả Châu Âu
cũng nhắc tới việc, dân Văn Lang trước thế kỷ thứ II và thứ III còn sống trong
chế độ gia đình mẫu hệ
Các tập tục: Người Việt vẫn giữ tục kết chạ giữa các làng. Những làng
kết chạ không được lấy nhau. Người Miến Điện tuy thờ Phật theo Ấn Độ
nhưng vẫn giữ tục thờ Nát là những vị thần bản địa có từ trước. Người Thái
Lan, Lào tuy thờ Phật nhưng vẫn tiếp tục thờ Phi (ma nhà) [4, tr.203].
Học giả người phương Tây G.Coedès, chuyên nghiên cứu về Đông
Nam Á đã nêu những đặc trưng văn hóa bản địa khu vực này. Về văn hóa vật
chất, gồm có: Trồng lúa nước; thuần hóa gia cầm, gia súc (đặc biệt là trâu để
cày, cấy); sử dụng thô sơ về kim khí; hiểu biết đi biển. Hệ thống xã hội coi
trọng vai trò của phụ nữ (thông qua chế độ mẫu hệ); tổ chức xã hội do yêu cầu
của nền nông nghiệp tưới nước. Tôn giáo gồm: Tín ngưỡng vạn vật hữu linh;
thờ cúng tổ tiên, thổ thần, thổ địa; xây dựng nơi thờ cũng ở chỗ cao; chôn
người chết trong chum và mộ cự thạch. Về thần thoại: Một vũ trụ quan nhị

được gần nữ thần lúa. Họ chỉ làm các công việc cày bừa, chuẩn bị đất…, còn
các công việc gieo hạt, nhổ mạ, cấy lúa, chăm bón chỉ phụ nữ mới được làm.

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

12
Người Malaysia, theo truyền thống; xem cây, đá, sông, lúa đều có hồn như
một sức mạnh bảo hộ hoặc xem hồn như là sự sống đích thực của chính sự vật
đó. Người Khơ-me xem mẹ lúa là một người đàn bà cưỡi trên mình cá, tay
cầm bông lúa. Nhiều dân tộc thiểu số miền núi ở Việt Nam có tập quán thờ
ông bà lúa. Dân tộc Katu ở Trường Sơn (Thừa Thiên-Huế) dành chỗ đẹp nhất
trong bếp và làm rọ đựng lúa để thờ; người Dao quan niệm rằng mỗi một
bông lúa và mỗi hạt thóc đều là sự sống và đều có hồn [4, tr.227].
Đời sống của cư dân bản địa gắn liền với việc cày cấy nên trông chờ
vào thời tiết. Từ đây, các nghi lễ nông nghiệp là điều không thể thiếu trong
đời sống. Người Chăm trước đây, từ khi mở luống cày đầu tiên cho đến khi
gánh lúa về nhà phải làm nhiều nghi lễ: Lễ Padang Paday Tuan (Lễ dựng chòi
cày); lễ Êu Po Bhum (Lễ cúng thần ruộng lúc lúa phát triển); lễ Dôk Tian (Lễ
cúng lúa trổ đòng); lễ Trun Yuak (Lễ xuống gặt); lễ Tagok Di Lan (Lễ cúng
sân); lễ Khoa Paday Da-a (Lễ mừng lúa về nhà); lễ mừng Cơm mới [4,
tr.230]… Ở Indonesia, nghi lễ về nữ thần lúa được tiến hành trên cánh đồng
vào thời gian đập lúa. Người Malaysia hình dung hồn lúa như một con người
bé nhỏ, thanh mảnh, hay giận dỗi và dễ bị tổn thương. Cây lúa được gọi âu
yếm, trìu mến khi vào vụ gặt đầu tiên: “Cậu bé chín tháng”, “công chúa mặt
trời”, hoặc “công chúa pha lê” [4, tr.230] Từ quan niệm về hồn lúa như vậy,
người Malaysia có những nghi lễ phức tạp diễn ra trong chu trình trồng lúa. Ở
Thái Lan, khi lúa ngậm đòng, nông dân ở tỉnh Ayutthay tổ chức lễ cầu chúc
cho Nữ thần lúa Cư dân nông nghiệp cũng mong muốn cho cấy trồng, vật
nuôi và bản thân con người sinh sôi nảy nở nhanh chóng đông đúc nên đã
hình những nghi lễ phồn thực để thúc đẩy sự sinh sôi nảy nở của vạn vật.

Theo nghiên cứu của các học giả Phương Tây, sự có mặt của Ấn Độ
giáo ở Đông Nam Á là từ những năm đầu Công nguyên. Vào giai đoạn này,
các nước trong khu vực đã có các vị thần riêng. Trong dân gian, tục thờ cúng
tổ tiên cũng đã rất phổ biến.
Thương nghiệp trên biển đã mang theo các thầy tu Bà La Môn để cúng
tế, cầu an cho những chuyến vượt biển. Sự có mặt của các thầy tu dần dần đã
trở nên quen thuộc với các cư dân nơi các thương thuyền cập bến. Từ quen

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

14
thuộc, những cư dân trong khu vực Đông Nam Á bắt đầu tiếp nhận bằng cách
nhờ các thầy tu thực hiện các nghi lễ tôn giáo để cầu an hoặc chữa bệnh.
Trong quá trình thông thương, các cuộc hôn nhân giữa những người Bà La
Môn với người có địa vị trong xã hội, dân thường bản địa tạo điều kiện cho
tôn giáo này “cắm rễ” [13, tr.54]. Uy tín của tôn giáo này ngày một lan toả
khi giới quý tộc của nơi thương thuyền tới buôn bán sùng bái. Hơn nữa, Ấn
Độ giáo không mâu thuẫn với tín ngưỡng bản địa. Điều này được chứng minh
về sự tồn tại của nó trong nhiều giai đoạn lịch sử. Nhiều nhà nước cổ đại ở
Đông Nam Á, như Phù Nam, Chămpa, Chân Lạp đã thực sự chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của Ấn Độ giáo.
Sự hiện diện của các vị thần Shiva, Vishnu và Brahma có ở hầu hết các
đền thờ của cư dân ở Đông Nam Á. Thần Shiva là hiện thân của sức mạnh tàn
phá và là đấng sáng tạo thế giới. Thần Shiva thể hiện ở hai hình tượng: Người
đàn ông tóc xoăn được búi lên cao, có con mắt thứ ba trên trán và một trong
bốn cánh tay cầm đinh ba, cưỡi trên lưng bò Nan Đin (Bên cạnh thần Shiva
thường có người vợ là nữ thần Parvati). Thần Shiva cũng được thờ phụng
dưới biểu tượng Linga-Sinh thực khí nam luôn đi kèm với Yoni-sinh thực khí
nữ). Các cư dân Đông Nam Á thờ phụng Linga và Yoni để cầu mong phồn
thịnh và sự sinh sôi nảy nở như quyền năng của vị thần ban cho. Các nhà

giáo trong dân chúng, đặc biệt là qua hệ thống giáo dục. Ngôi chùa không chỉ
là nơi thờ cúng mà còn là một trung tâm văn hoá, là hình tượng về chân -
thiện – mỹ đối với mọi người dân, trở thành nơi lưu giữ và phổ biến văn hoá,
tri thức cho dân chúng.
Đông Nam Á cơ bản tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa và căn cứ vào địa
bàn ảnh hưởng người ta thường gọi Phật giáo Đông Nam Á là Phật giáo Nam
Tông. Còn các nước Bắc Á như Trung Quốc, Triều Tiên và Hàn Quốc, Nhật
Bản (cả Việt Nam) tiếp thu Phật giáo Đại thừa, nên thường được gọi là Phật
giáo Bắc tông.

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

16
Phật giáo sở dĩ vào Đông Nam Á “cắm rễ” sâu chắc trong xã hội, lại có
ảnh hưởng to lớn vào đời sống tinh thần của người dân trong vùng bởi nó đã
phải bản địa hoá, đã biết hoà đồng với các tín ngưỡng dân gian bản địa, dung
nạp các yếu tố của các tôn giáo ngoại lai khác. Nói cách khác, Phật giáo vào
từng nước Đông Nam Á đã bị khúc xạ bởi các ý thức hệ ở các quốc gia đó.
Phật giáo vào Đông Nam Á đã được dân gian hoá, bản địa hoá sâu sắc.
Có thể nói, những học thuyết có tính chất tư biện, các tín điều khô khan, các
suy tư huyền bí đã phần nào bị biến đổi, giản lược đi để hoà quyện vào các tín
ngưỡng dân gian bản địa chất phác và đơn giản. Một trong những đặc điểm
nổi bật của Phật giáo ở Đông Nam Á là tính chất đơn giản tượng trưng của
nghi lễ. Khác với nghi lễ trong chùa chiền Bắc tông thường linh thiêng, ồn ào,
trọng tâm của người xuất gia đến chùa chiền ở Nam tông là sự hoà quyện giữa
Đạo và Đời, sự nỗ lực của con người không phải là lễ bái mà là toạ thiền, suy
tư về nguyên lý của Phật.
Đến thế kỷ XIV, Phật giáo Tiểu thừa xuất hiện thay thế Phật giáo Đại
thừa. Thái Lan hiện là nước xem Phật giáo là quốc đạo, đồng thời được xem
như quốc gia Phật giáo lớn nhất khu vực, Phật giáo Tiểu thừa có mặt quãng thế

Ở những quốc gia xem Phật giáo là quốc giáo, mỗi người dân từ nhỏ
cho đến lớn, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, niềm tin tâm linh được gửi ở các
ngôi chùa. Mới sinh ra vào chùa đặt tên, đến tuổi trưởng thành vào chùa tu
một thời gian, khi lập gia đình vào chùa làm lễ buộc chỉ cổ tay và đến khi về
cõi Niết bàn, hoả táng rước linh hồn vào chùa. Phật giáo còn tác động tới đời
sống các giai tầng trong xã hội. Chính vì thế ở Việt Nam, nhà vua khi từ bỏ
quyền lực thì khoác áo tu hành hoặc thái tử vào chùa học chữ để làm vua. Về
mặt tổ chức, Phật giáo ở Đông Nam Á (với những nước xem là quốc giáo), hệ
thống chùa chiền và tổ chức sư sãi có từ thôn xóm đến cấp trung ương tương
ứng với các cấp chính quyền của triều đình. Các nhà sư Thái Lan, Campuchia,
Lào, Miến Điện là người có vai trò đặc biệt lớn lao trong đời sống xã hội. Nhà

Luận văn thạc sỹ Quan hệ Quốc tế Phạm Đình Thắng

18
sư trở thành tấm gương đạo đức, nhân vật trung tâm, chỗ dựa tinh thần, là
người bảo vệ những giá trị truyền thống của đạo Phật. Ở Thái Lan, nhiều triều
đại phong kiến đã dựa vào uy tín và sức mạnh của Phật giáo để củng cố địa vị
của mình. Ở Lào, trải qua nhiều triều đại, vua - sư gắn bó mật thiết với nhau
trong việc giải quyết nhiều vấn đề triều chính.
Một điều kỳ thú là, hoạt động tôn giáo hầu như quanh năm suốt tháng
từ cộng đồng nhỏ bé ở cấp làng bản đến cộng đồng rộng lớn của cả nước luôn
bị cuốn hút vào các lễ hội vừa mang tính tôn giáo của đạo Phật, vừa có tính
thế tục đậm đà của phong tục xứ sở các nước Đông Nam Á. Ngôi chùa với
các cư dân Đông Nam Á còn như một nơi tụ họp để cố kết cộng đồng. Các
Phật tử có thể đến đó để thoả mãn nhu cầu đời sống tình cảm tâm linh, hướng
về đức Phật từ bi. Đây cũng là nơi được ví như trung tâm văn hoá xã hội.
Chùa đồng thời là trường học dạy chữ, đạo nghĩa cho người dân; các nhà sư
có giai đoạn còn là người sáng tác văn chương. Ở Lào, Campuchia một số nhà
thơ lớn trưởng thành từ trong chùa như Xôm xỉ Đê xa (Lào), Bôtum Mătthê

Ngược lại, Phật giáo cũng không bảo thủ, cứng nhắc bởi nó ảnh hưởng những
yếu tố của tín ngưỡng bản địa- tàn dư văn hoá của các tôn giáo vào trước nó.
Sự đan xen hoà hợp giữa yếu tố văn hoá và tôn giáo trên đây đã tạo nên một
nét đặc thù cho Phật giáo ở Đông Nam Á. Từ đây, Phật giáo tồn tại và phát
triển, trở thành tôn giáo chính và đóng vai trò hết sức to lớn trong đời sống
văn hoá, xã hội ở khu vực Đông Nam Á.
4, Ảnh hƣởng văn hoá Trung Quốc
Cùng với sự ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ vào phía Nam khu vực, văn
hóa Trung Quốc cũng có sự “đổ bộ” vào Đông Nam Á từ phía Bắc, bằng sự
giao thoa tự nhiên, lẫn cưỡng bức (thông qua các cuộc chiến tranh).
Việt Nam, Singapore là hai quốc gia có mức độ ảnh hưởng văn hóa
Trung Quốc hơn các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Nhiều học giả đánh giá
rằng, Việt Nam là một quốc gia vừa mang những thuộc tính của Đông Nam Á
nhưng cũng có thuộc tính Đông Á (mà điển hình là văn hóa Trung Quốc).

Trích đoạn Sự ảnh hưởng của Nho giáo Nguyên tắc chung trong hợp tác văn hóa Việt Nam-ASEAN Hợp tác trong lĩnh vực thông tin Hợp tác song phương với các nước ASEAN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status