Sử dụng các biện pháp phi thuế quan trong bảo hộ hàng hóa của Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC
* * *

PHẠM TÚ ANH Sö DôNG C¸C BIÖN PH¸P PHI THUÕ QUAN
TRONG B¶O Hé HµNG HãA CñA VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG HÀNG RÀO
PHI THUẾ QUAN 9

1.1

Lý luận chung về biện pháp phi thuế quan trong thương mại quốc tế 9

1.1.1 Khái niệm và phân loại hàng rào phi thuế quan 9

1.1.2 Vai trò và tác dụng của hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc
tế: 11

1.2 Qui định của wto về hàng rào phi thuế quan và các trường hợp ngoại lệ 14

1.2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng 14

1.2.2. Các biện pháp kỹ thuật 20

1.2.3 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời 22

1.2.4 Một số qui định phi thuế khác 32

1.3. Kinh nghiệm sử dụng hàng rào phi thuế quan của một số quốc gia trên thế
giới 34

1.3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 34

1.3.2 Kinh nghiệm của EU 41

1.3.3 Kinh nghiệm Trung Quốc 51


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CÁC
BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM GIA
NHẬP WTO 104

3.1. Cơ sở xây dựng giải pháp 104

3.1.1 Sử dụng các biện pháp phi thuế là để nâng cao năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế tạo tiền đề thực hiện tự do hóa thương mại 104

3.1.2 . Đảm bảo cân đối giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế trong quá
trình hội nhập 105

3.1.3 Chính sách bảo hộ phi thuế phải phù hợp với các qui định và thông lệ
của quốc tế 106

3.2 Một số định hướng cải tiến các biện pháp phi thuế quan cũ 107

3.2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng 107

3.2.2 Các biện pháp quản lý giá 109

3.2.3 Rà sóat các doanh nghiê
̣
p TM Nhà nước 110

3.2.4 Cải tiến thủ tục hành chính 112

3.3 Đề xuất một số biện pháp phi thuế quan mới Việt Nam có thể áp dụng thời
hậu WTO 112

Hiệp định xác định trị giá hải quan
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Hiệp định Thương mại Tự do Châu Á
AICO
ASEAN Industrial
Cooperation Scheme
Chương trình Hợp tác Công nghiệp
ASEAN
APEC
Asia-Pacific Economic
Cooperation (Conference)
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái
Bình Dương
ASEAN
Association of South-East
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM
Asia Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
ATC
Agreement on Textiles and
Clothing
Hiệp định về hàng dệt may
CAP
Common Agricultural Policy
Chính sách nông nghiệp chung
CAPs
Common Action Plan

MFN
Most Favored Nation
Tối huệ quốc
MOFTEC
Minsitry of Foreign Trade
and Economic Cooperation
Bộ thương mại và hợp tác kinh tế
NAFTA
North American Free Trade
Area
Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NT
National Treatment
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
OECD
Organization for Economic
Cooperation & Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế.
PECC
Pacific Economic
Cooperation Council
(Washington, DC, USA)
Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình
Dương
RoO
Rule of Origin
Nguyên tắc xuất xứ
SCM
Subsidies and Countervailing
Measures Agreement

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
USTR
United States Trade
Representative
Cơ quan đại diện Thương mại Mĩ
WCO
World Customs Organization
Tổ chức Hải Quan Thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

BẢNG
Bảng 2-1: Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, nhập khẩu từ 1996 – 2005 59

Bảng 2-2: Một số biện pháp tương đương hạn ngạch 64

Bảng 2-3: Danh mục hàng hoá quản lý theo hạn ngạch thuế quan 66

Bảng 2-4: Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ
Thương mại thời kỳ 2001 – 2005 68

Bảng 2-5: Các mặt hàng do các cơ quan chuyên ngành cấp phép nhập khẩu 70

Bảng 2-6: Số doanh nghiệp được phép xuất nhập khẩu đến ngày 30/11/1997 . 77

Bảng 2-7: Danh mục các nhóm mặt hàng Nhà nước quản lý giá 79

tính thuế nhập khẩu 79

Mặc dù hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội và lợi ích rõ rệt thì
bên cạnh đó cũng có không ít thách thức đối với mỗi quốc gia; bởi các nước khi
tham gia vào quá trình này đều phải cam kết thực hiện tự do hóa thương mại. Theo
đó, tất cả các biện pháp nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa bao gồm thuế quan và
các biện pháp phi thuế quan đều phải dỡ bỏ nhằm tạo ra một thị trường cạnh tranh
lành mạnh và công bằng trên toàn thế giới. Nhưng trên thực tế, các nước, đặc biệt
là các nước phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm phán để mở
cửa thị trường và thúc đẩy thương mại tự do giữa các quốc gia và châu lục, mặt
khác lại vẫn “sáng tạo” ra các biện pháp tinh vi hơn và các rào cản phức tạp hơn
nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.
Đối với Việt Nam, để được tham gia vào WTO, nước ta đã phải cam kết mở
cửa thị trường, tiến hành tự do hóa nhiều hoạt động kinh tế, từng bước tự do hóa
thương mại, giảm dần mức thuế suất, xóa bỏ hàng rào phi thuế quan…Tuy nhiên,
nếu thực hiện cùng lúc tất cả các cam kết và không có chọn lọc, định hướng rõ ràng

2
sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường nội địa. Hàng hóa ngoại nhập giá rẻ từ các
nước sẽ dễ dàng thâm nhập hơn, gây sức ép cạnh tranh lên các ngành kinh tế còn
non kém của nước ta và có thể tác động tới các vấn đề xã hội khác…Vì vậy một
chính sách bảo hộ hợp lý thông qua các biện pháp phi thuế là một nhu cầu chính
đáng của Việt Nam. Điều quan trọng là làm sao định hướng đúng việc áp dụng các
biện pháp phi thuế quan (NTM) để vừa phát huy tính hữu dụng của chúng, vừa
không trái với các định chế thương mại và qui định quốc tế, đặc biệt trong bối
cảnh,Việt Nam và các nước ASEAN chuẩn bị hướng tới mục tiêu xây dựng một
Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 bằng cách dỡ bỏ các rào cản phi thuế
quan (NTBs). Đây cũng chính là lý do em chọn vấn đề: “Sử dụng các biện pháp phi
thuế quan trong bảo hộ hàng hóa của Việt Nam” là đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu:
Nghiên cứu về việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan trong bảo hộ hàng
hóa và tác động của các biện pháp này tới thương mại thế giới nói chung không

các nền kinh tế trên thế giới.
3) Đề tài “Những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ”. Đối tượng nghiên cứu của
đề tài này tập trung vào các vấn đề liên quan tới xuất khẩu hàng thủy sản của Việt
Nam và một số hàng rào phi thuế quan của Mĩ và EU đang áp dụng với mặt hàng
thủy sản của Việt Nam. Dựa vào việc phân tích các hàng rào phi thuế của Mĩ và
EU, tác giả đã đưa ra những đều xuất và giải pháp nhằm vượt ra những rào cản
này. Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề từ năm 2000-2006.
4) Bài giảng “Thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan - xu hướng bảo
hộ mới trong thương mại quốc tế” của TS. Vũ Thị Bạch Tuyết- Học viện tài chính.
Trong bài phân tích này, tác giả đã viện dẫn một số trường hợp các quốc gia phát
triển đã áp dụng các biện pháp bảo hộ ngành sản xuất nội địa thông qua việc áp
dụng mức thuế rất cao – một biện pháp bị cấm trong thương mại quốc tế nhưng
được WTO chấp thuận theo những qui tắc ngoại lệ. Chẳng hạn, vụ Hoa Kỳ áp
dụng mức thuế chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa và tôm của Việt Nam với
lý do doanh nghiệp Việt Nam đã bán phá giá vào thị trường Mĩ. Hoặc việc EU áp

4
dụng biện pháp tự vệ thương mại đối với hàng dệt may của Trung Quốc với lý do
mặt hàng dệt may của các quốc gia trong Liên minh Châu Âu (EU) không thể
đứng vững trước sự “lộng hành” của hàng dệt may giá rẻ của Trung Quốc…. Dựa
vào việc phân tích những ví dụ trên, tác giả đã đưa ra những lưu ý và cảnh tỉnh cho
các doanh nghiệp Việt Nam về các biện pháp mà nước tiên tiến thường hay áp
dụng và lý do các nước này đưa ra khi áp dụng các biện pháp bảo hộ hàng hóa nội
địa. Bài phân tích giúp các doanh nghiệp trẻ của Việt Nam có được những nhận
thức rõ ràng về tầm quan trọng trong việc tìm hiểu về luật chơi khi tham gia thị
trường thương mại tự do để có thể chủ động bảo vệ doanh nghiệp mình khi có sự
cố xảy ra.
5) Sách “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế” của
TS. Nguyễn Hữu Khải (2005). Cuốn sách đã tổng hợp và hệ thống hóa những vấn

để bảo hộ hàng nông sản Việt Nam. Từ đó, đề xuất định hướng xây dựng và hoàn
thiện các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ một số nông sản chủ yếu của Việt Nam
cho phù hợp với qui định của WTO. Đề tài tập trung chủ yếu vào các biện pháp phi
thuế quan trong thương mại để bảo hộ hàng nông sản và có giới hạn thời gian trong
giai đoạn từ 1996 -2008.
Tóm lại, qua việc phân tích những đề tài đã từng đề cập tới vấn đề hàng rào
phi thuế quan của những người đi trước, cá nhân em thấy rằng : Hầu hết các công
trình nghiên cứu, các bài phân tích về “đối tượng” này đều nêu bật được tính tất
yếu của việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan và lợi ích Việt Nam có được khi
biết tận dụng lợi thế mà các biện pháp bảo hộ này mang lại khi tham gia vào
thương mại thế giới. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu, các bài bình luận mới
chỉ dừng lại ở việc liệt kê, đối chiếu, so sánh những rào cản phi thuế quan phù hợp
hoặc không phù hợp với qui định quốc tế từ đó có biện pháp cắt giảm nhằm đẩy
nhanh quá trình ra nhập WTO (thời điểm trước khi Việt Nam chính thức trở thành
thành viên WTO). Do vậy, các đề xuất giải pháp đưa ra đều nhằm mục đích làm sao
đẩy nhanh và tạo thuận lợi cho các vòng đàm phán để Việt Nam sớm được công
nhận là thành viên chính thức của tổ chức này.

6
Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện nay(2010), Việt Nam đã gia nhâp WTO
được hơn 3 năm và cũng đã thực hiện cắt giảm khá nhiều biện pháp phi thuế quan
không phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhưng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và
khu vực có nhiều biến động, suy thoái kinh tế lan rộng đã khiến các nước có xu
hướng co lại để bảo vệ các ngành kinh tế nội địa bằng cách nghĩ ra nhiều rào cản
phi thuế quan tinh vi và nhạy cảm hơn. Từ thực tiễn đó, em đã quyết định tiếp tục
nghiên cứu về đề tài này nhưng có sự bổ sung, so sánh thời điểm trước và sau khi
Việt Nam gia nhập WTO.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là việc sử dụng hàng rào phi thuế

các trung tâm nghiên cứu kinh tế, và cổng thông tin thương mại….
6. Những đóng góp mới của luận văn:
Trên tinh thần kế thừa thành quả các công trình nghiên cứu trước đã đạt
được, đề tài khóa luận tốt nghiệp “Sử dụng các biện pháp phi thuế quan trong bảo
hộ hàng hóa của Việt Nam” có bổ sung và đưa ra một số đóng góp mới cho các
ngành kinh tế Việt Nam trong giai đoạn sau hội nhập và tương lai xa hơn nữa là
hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015
Những đóng góp mới của đề tài này bao gồm :
- Phân tích kinh nghiệm áp dụng các rào cản phi thuế quan của một số quốc
gia trên thế giới.
- Phân tích và đánh giá thực trạng việc sử dụng hàng rào phi thuế quan của
Việt Nam giai đoạn hậu WTO.
- Các đề xuất và giải pháp mới trong việc bảo hộ một số ngành hàng xuất khẩu
của Việt Nam.
7. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng hàng rào phi thuế quan.
Chương này đưa ra các khái niệm về biện pháp phi thuế quan và hàng rào phi thuế
quan. Liệt kê các qui định của WTO về các biện pháp phi thuế quan và những

8
trường hợp ngoại lệ. Đồng thời đánh giá phân tích tính tất yếu, ý nghĩa mục đích
của việc sử dụng rào cản phi thuế quan và kinh nghiệm của một số nước trên thế
giới.
Chương 2: Hàng rào phi thuế quan của Việt Nam trước và sau khi gia nhập
WTO. Các biện pháp phi thuế quan Việt Nam đã sử dụng để bảo vệ hàng hóa xuất
khẩu trước khi gia nhập WTO. Những điểm chưa phù hợp của những biện pháp này
thời hậu WTO
Chương 3: Một số gợi ý đối với Việt Nam trong việc áp dụng các biện pháp
bảo hộ phi thuế quan thời hậu WTO

pháp thuế quan với mục đích bảo vệ hàng sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh
của hàng ngoại nhập và thúc đẩy phát triển sản xuất một số ngành kinh tế trọng
điểm và kích thích xuất nhập khẩu hoặc vì các mục tiêu kinh tế xã hội
khác”[9,19,21]
Năm 1995, theo nghiên cứu của Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương
(PECC) đã nhận xét: “Hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can
thiệp vào thương mại, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước”[10,tr-11]

10
Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế thường sử dụng
khái niệm hàng rào phi thuế quan của Bộ Thương Mại: “Ngoài thuế quan ra, tất cả
các biện pháp khác, dù theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng
đến mức độ và phương pháp nhập khẩu được gọi là các hàng rào phi thuế
quan”[3,tr 29]
Tóm lại, khái niệm hàng rào phi thuế quan rất phong phú, tùy thuộc vào góc
độ nghiên cứu hay mục đích áp dụng mà người ta sử dụng khái niệm cho phù hợp.
Theo ý kiến cá nhân em: Hàng rào phi thuế quan là những rào cản không
dùng thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành chính để phân biệt đối xử chống lại
sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài nhằm bảo vệ hàng hoá trong nước. Kinh
nghiệm từ các quốc gia khác cho thấy, hầu hết, các nước tiên tiến trên thế giới
thường đưa ra lý do: bảo vệ sự an toàn và lợi ích của người tiêu dùng, bảo vệ môi
trường trong nước đã áp dụng các biện pháp phi thuế quan để giảm thiểu lượng
hàng hoá nhập khẩu.
b. Phân loại các hàng rào phi thuế quan
Có nhiều cách phân loại hàng rào phi thuế quan. Chẳng hạn, trong cuốn
“Cạnh tranh trong thương mại quốc tế” của nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, toàn
bộ hệ thống hàng rào phi thuế quan trên thế giới nhìn chung có thể chia làm 5 nhóm
sau:
- Nhóm 1: Những việc Chính phủ thường tham gia để hạn chế thương mại
- Nhóm 2: Các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải

đảm bảo thanh toán, yêu cầu kết nối, thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, mua sắm
chính phủ, quy tắc xuất xứ)
1.1.2 Vai trò và tác dụng của hàng rào phi thuế quan trong thương mại
quốc tế:
a. Vai trò của hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế làm một hệ thống các quan điểm, biện pháp
và các cung cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động ngoại
thương phù hợp với các lợi thế quốc gia nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho nước

12
mình. Khi tham gia vào thương mại quốc tế, mỗi nước vừa phát huy được thế mạnh
của mình vừa tận dụng những lợi ích mà hoạt động ngoại thương đem lại. Nhưng
mặc khác cũng sẽ bộc lộ những yếu kém của nền kinh tế quốc gia đó. Do vậy, các
quốc gia phải phải sử dụng một hệ thống các công cụ để điều chỉnh hoạt động
ngoại thương. Trong đó phải kể đến việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan đặc
biệt là hàng rào phi thuế quan- một công cụ được cọi là linh hoạt có tác động
nhanh, mạnh trước những tình thế khẩn cấp. Sử dụng hàng rào phi thuế quan sao
cho hợp lý và hiệu quả sẽ bảo vệ thị trường nội địa trước tác động tiêu cực của
hàng hóa ngoại nhập. Chính vì lý do này, không nên hiểu các biện pháp phi thuế
như là một rào cản trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương
mại. Các biện pháp phi thuế quan (NTM) có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy
xuất khẩu như các biện pháp tài trợ hoặc trợ giá hoặc các biện pháp hạn chế nhập
khẩu được quốc tế công nhận như sử dụng các quy định về kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ.
Với mục đích bảo hộ là để thúc đẩy phát triển sản xuất do đó khi tiến hành bảo hộ
không thể bảo hộ tràn lan mà phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Chỉ bảo hộ những mặt hàng mà sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng kinh tế, có tiềm năng phát triển trong tương lai, tạo được nguồn thu ngân
sách và giải quyết lao động.
- Việc bảo hộ đó được thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, kể cả các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

khẩu vừa đảm bảo an toàn sức khỏe con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo
hộ sản xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp. Hay cấp phép không tự
động đối với dược phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dược nội địa, dành đặc
quyền cho một số đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt
hàng quan trọng đối với sức khỏe con người.
Ba là, việc bảo hộ sản xuất trong nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế bằng hàng rào phi thuế quan tương đối thuận lợi vì nhiều biện pháp phi thuế
quan chưa bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ.
Hiện nay, các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số
biện pháp phi thuế nhất định. Trong đó, tất cả các biện pháp phi thuế hạn chế định

14
lượng đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ. Một số biện pháp phi
thuế khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong
nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những qui
định cụ thể khách quan. Chẳng han, như tiêu chuẩn kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch
động thực vật, tự vệ, thuế chống bán phá giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối
kháng…
1.2 Qui định của wto về hàng rào phi thuế quan và các trƣờng hợp ngoại lệ
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một thể chế pháp lý của hệ thống
thương mại đa phương, nó đưa ra những nghĩa vụ có tính nguyên tắc để chính phủ
các nước thiết lập khuôn khổ và các luật lệ và qui định thương mại trong nước phù
hợp với thương mại thế giới. Ảnh hưởng của WTO tới thương mại toàn cầu là tích
cực, tạo ra một qui tắc chung về cơ bản là thông thoáng để các nước có thể điều
chỉnh quan hệ thương mại với nhau. Tuy nhiên, các qui tắc này tương đối khắt khe
và không phải quốc gia nào cũng áp dụng được dễ dàng. Để đạt được mục tiêu gia
nhập tổ chức này, Việt Nam phải tiến hành xóa bỏ các biện pháp bảo hộ không còn
phù hợp và thay vào đó là sử dụng các biện pháp khác phù hợp với qui định và
chuẩn mực của WTO.Vấn đề này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ về những bất cập trong
mối quan hệ giữa bảo hộ và hội nhập; kinh nghiệm xử lý của các quốc gia; cũng

các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại(clacssificataion), phân cấp(grading) hay
tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế.
- Áp dụng hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu đối với mọi sản phẩm nông, ngư
nghiệp. Trong trường hợp này, nước thành viên phải công bố tổng khối lượng hay
tổng trị giá của sản phẩm được phép nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định trong
tương lai và mọi thay đổi về số lượng hay trị giá nói trên.
- Các nước thành viên WTO có thể áp dụng biện pháp hạn ngạch để hạn chế
số lượng hay giá trị hàng hoá nhập khẩu nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại
và cán cân thanh toán của nước mình. Các hạn chế nhập khẩu được định ra, duy trì
hay mở rộng không được vượt quá mức cần thiết là để ngăn ngừa sự đe doạ sắp xảy
ra hay để chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ, hoặc trong một nước
thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp, để nâng dự trữ tiền tệ lên một mức hợp lý” [6,

16
tr 97]. Điều đó có nghĩa là, các nước thành viên có thể hạn chế số lượng hay giá trị
hàng hoá nhập khẩu, nhưng mức độ hạn chế không được quá mức cần thiết để đề
phòng hoặc ngăn chặn nguy cơ dự trữ tiền tệ giảm mạnh. Đối với những nước có
dự trự tiền tệ quá mỏng thì mức độ hạn chế không được vượt quá mức cần thiết để
tăng dự trữ một cách hợp lý. Đồng thời, WTO cũng yêu cầu các quốc gia thành
viên khi thi hành chính sách trong nước phải có nghĩa vụ cân đối thu chi quốc tế lâu
dài, tránh sử dụng tài nguyên một cách phi kinh tế, phải tận dụng mọi khả năng để
mở rộng thương mại quốc tế.
- Các nước đang phát triển có thể áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng
trong chương trình trợ giúp của Chính phủ để thúc đẩy kinh tế phát triển, hạn chế
để bảo vệ thị trường và một số ngành công nghiệp cụ thể. Sự hỗ trợ của chính phủ
đặc biệt là chính phủ các nước có mức sống thấp, mức tăng trưởng thấp sẽ giúp ích
cho việc thực hiện các tôn chỉ của WTO. Vì vậy, WTO cho phép các nước này được
áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu để kiểm soát
mức nhập khẩu, nhằm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế của nước mình.
- Ngoài ra, WTO còn quy định các ngoại tệ chung được áp dụng cho việc hạn

một hình thức hạn ngạch đặc biệt gọi là Hạn ngạch thuế quan ( Tariff Rate Quota-
TTQ).
1.2.1.2 Cấm xuất khẩu, nhập khẩu
Cấm xuất nhập khẩu là biện pháp mang tính bảo hộ cao, gây ra hạn chế lớn
nhất đối với thương mại quốc tế. Nói chung, WTO không cho phép các nước thành
viên được sử dụng biện pháp này.Tuy nhiên, trình độ phát triển giữa các thành viên
không đồng đều(hiện nay có khoảng ¾ các nước thành viên WTO là các nước đang
phát triển). Do vậy, các quốc gia thành viên vẫn có thể thi hành các biện pháp cấm
xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp
quy định tại điều XXI – GATT/1994. Cụ thể:
-Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia;
-Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội;
-Cần thiết để bảo vệ con người, động vật và thực vật;

18
-Liên quan tới nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc
-Cần thiết để bảo vệ các tài sản quốc gia về nghệ thuật,lịch sử hay khảo cổ;
-Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm.
Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp này cần phải thực hiện kèm theo
việc hạn chế sản xuất hay tiêu dung nội địa liên quan tới chúng. Ngoài ra tại Điều
XX- GATT/1994 còn quy định các trường hợp sau được phép áp dụng biện pháp
cấm xuất khẩu, nhâp khẩu:
- Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt khan hiếm
lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác;
- Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng
hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế.
1.2.1.3. Giấy phép nhập khẩu
a) Những quy định chung của WTO về việc cấp giấy phép nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu là văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về quản
lý xuất nhập khẩu cấp cho nhà nhập khẩu để họ có quyền nhập khẩu hàng hoá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status