1
hội nhập quốc tế ở n-ớc ta chuyên ngành : quan hệ quốc tế học
mã số: 60.31.40
luận văn thạc sĩ ngành quốc tế học
Ngi hng dn khoa hc
Pgs.TS. lê thanh bình
hà nội- 2008 2
MỤC LỤC
1- Lý luận chung về báo chí và hội nhập
12
1.1 - Báo chí gắn liền với sự phát triển lịch sử xã hội
12
1.2- Hội nhập và hội nhập kinh tế quốc tế
13
2- Báo chí và báo chí chuyên về kinh tế với hội nhập
21
2.1- Vai trò của báo chí thế giới với công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế
21
2.2- Báo chí Mỹ và Nhật Bản
23
2.3-Báo chí Châu Âu
25
2.4- Báo chí ở Châu Mỹ La tinh
26
2.5- Báo chí ở Châu Á và ASEAN
26
3- Báo chí Việt Nam trong thời hội nhập
27
3.1- Chính sách hội nhập qua nghị quyết các kỳ đại hội Đảng
27
3.2- Quan niệm về thông tin hội nhập kinh tế quốc tế
32
3.3- Vai trò của thông tin hội nhập kinh tế trên báo chí Việt Nam
35
Chƣơng 2
VAI TRÒ CỦA THỜI BÁO KINH TẾ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
KINH TẾ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI 76
I- Hoàn cảnh mới và yêu cầu mới
76
II- Thời báo Kinh tế Việt Nam - những ƣu điểm
77
III- Nhận xét về hạn chế và giải pháp bƣớc đầu
82
1- Những mặt hạn chế
83
2- Những giải pháp bước đầu
85
KẾT LUẬN
92
PHỤ LỤC 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
110
4
PHẦN MỞ ĐẦU
vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng
phó đƣợc với những tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện có hiệu
quả các cam kết hội nhập quốc tế. Trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả, không
ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm dần hàng rào bảo hộ. Nâng cao
hiệu quả hợp tác với bên ngoài; tăng cƣờng vai trò và ảnh hƣởng của nƣớc ta
đối với nền kinh tế khu vực và thế giới. Đại hội IX cũng đề ra những định
hƣớng và nhiệm vụ rõ ràng về: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
dân tộc, an ninh quốc gia giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi
trường. Chính phủ cùng các bộ ngành và các doanh nghiệp khẩn trương xây
dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình hợp lý và
chương trình hành động cụ thể phát huy tính chủ động của các cấp, các
ngành và các doanh nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế xã hội, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế”. Trong quá trình
toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ hiện nay nhất là khi Việt Nam chính thức trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) thì
nhiệm vụ phải đẩy nhanh quá trình chủ động hội nhập và phát triển nền kinh
tế đất nƣớc đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đòi hỏi chúng ta phải
huy động sức mạnh tổng lực của cả dân tộc, trên mọi lĩnh vực. Trong Nghị
quyết số 07/NQ-TW về một số nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế thì nội dung đầu tiên trong 9 nhiệm vụ Đảng ta nhấn mạnh đó
6
là: “Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các
tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng
lớp nhân dân để đạt được nhận thức và hành động thống nhất, nhất quán về
hội nhập kinh tế quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu
có thêm tài liệu mới bên cạnh những gì họ đã có. Và hơn hết, việc trực tiếp
đi sâu vào khảo sát một tờ báo kinh tế cụ thể sẽ giúp chúng tôi rút ra đƣợc
những kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tờ báo
chuyên về kinh tế và bản thân đối tƣợng đƣợc nghiên cứu là Thời báo Kinh
tế Việt Nam.
II - Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về vai trò của lĩnh vực thông tin, truyền thông nói chung;
báo chí nói riêng đối với công cuộc hội nhập quốc tế đã trở thành đề tài hấp
dẫn trong nhiều công trình của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, cán bộ
giảng dạy, nhà báo tại những trƣờng đào tạo báo chí, những cơ quan quản lý
thông tấn và các tòa soạn. Những công trình ấy không chỉ có ích đối với sinh
viên ngành báo chí, các phóng viên, biên tập viên, ngƣời làm công tác quản
lý báo chí mà còn là tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho công tác giảng dạy
chuyên ngành báo và những ai quan tâm đến báo chí trong thời đại ngày nay.
Theo nhƣ những tài liệu mà chúng tôi có thì nội dung của các công trình
nghiên cứu khá phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều vấn đề nhƣ: Những
thao tác nghiệp vụ trong quá trình xây dựng tác phẩm báo chí hiện đại; Tiếp
cận công chúng báo chí từ góc nhìn xã hội học và kinh tế học; Nghệ thuật sử
dụng ngôn ngữ chuyên ngành trên báo chí; Những đóng góp của các tờ báo
trƣớc đây vào sự phát triển của truyền thông đại chúng Việt Nam hiện nay;
Trách nhiệm xã hội và trách nhiệm đạo đức của nhà báo; Vai trò của nhà báo
trong thời kỳ hội nhập; Sự phát triển của các loại hình báo chí - truyền thông
8
và xu hƣớng mới của chúng; Thời cơ và thách thức của báo chí hiện nay
Một số tác giả cụ thể nhƣ PGS.TS Lê Thanh Bình trong cuốn “Quản lý và
phát triển báo chí - xuất bản” (NXB Chính trị Quốc gia, H, 2004) đã đề cập
đến các vấn đề lý luận chung về báo chí - xuất bản, nêu lên thực trạng tình
hình báo chí - xuất bản Việt Nam và thế giới những năm gần đây, từ đó đề
xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
vĩ mô nhƣ một tác nhân quan trọng để thúc đẩy phát triển cả kinh tế và văn
hóa, xã hội. Ông cũng là một trong số ít những tác giả đề cập đến vai trò của
thông tin kinh tế trên báo chí, cũng nhƣ việc định hƣớng thông tin ấy theo
chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc nhất là trong giai đoạn đất
nƣớc đang bƣớc vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. PGS.TS Tạ
Ngọc Tấn trong cuốn sách “Truyền thông đại chúng” (NXB Chính trị Quốc
gia, H, 2004) đã cung cấp cho ngƣời đọc những hiểu biết cơ bản, có hệ
thống về các phƣơng tiện truyền thông đại chúng hiện đại, các nguyên tắc,
phƣơng pháp chính nhằm quản lý, điều hành, phát huy tốt vai trò, sức mạnh
của các loại hình phƣơng tiện truyền thông đại chúng đặc biệt là báo chí
trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Cuốn sách cũng cung cấp
một cách khá đầy đủ về những thông tin liên quan đến hoạt động của hệ
thống báo chí trong sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội đất nƣớc. Bên
cạnh những công trình, những cuốn sách mà chúng tôi đã nêu, còn có nhiều
bài viết, công trình, ấn phẩm của các tác giả nhƣ PGS.TS Nguyễn Văn Dững
(Học viện Báo chí Tuyên truyền), PGS.TS Đinh Hƣờng, PGS.TS Dƣơng
Xuân Sơn, ThS. Bùi Tiến Dũng (Trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN) cũng
nghiên cứu về lý luận báo chí nói chung và các nguyên tắc báo chí nói riêng.
Tuy nhiên ở tất cả các công trình này thì yếu tố lý thuyết, lý luận chung về
báo chí vẫn đóng vai trò “nhạc trƣởng” và chƣa có hẳn sự đào sâu, đầu tƣ
10
cho một đối tƣợng là một tờ báo cụ thể. Những nội dung liên quan đến thông
tin kinh tế trên báo chí dù có đƣợc nhắc tới nhƣng cũng chỉ dƣới hình thức là
dẫn chứng hay ví dụ minh họa cho những vấn đề lý thuyết, lý luận báo chí.
Thông qua việc khảo sát các công trình của nhiều tác giả đi trƣớc, chúng tôi
nghĩ rằng việc lựa chọn đề tài “Thời báo kinh tế Việt Nam và công cuộc hội
nhập quốc tế ở nước ta” là hoàn toàn mới và hy vọng sẽ có đƣợc những
khám phá, tìm tòi mới.
III - Đối tượng nghiên cứu:
lợi và cả những hạn chế, khó khăn nảy sinh trong quá trình tờ báo hoạt động,
phát triển.
Phần III: Sau khi phân tích cụ thể từ những nguyên tắc lý luận chung
đến việc nghiên cứu chuyên khảo tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam, rút ra đƣợc
những nhận xét về thế mạnh và hạn chế của tờ báo này chúng tôi sẽ đồng
thời đƣa ra một số giải pháp cụ thể kiến nghị tới các cơ quan có thẩm quyền
và trực tiếp tới lãnh đạo tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam với mong muốn tờ
báo sẽ ngày càng phát triển, phát huy tốt hơn nữa vai trò là một tờ báo
chuyên về kinh tế hàng đầu đối với công cuộc hội nhập và phát triển của
nƣớc ta.
12
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VỚI CHIẾN
LƢỢC PHÁT TRIỂN QUỐC GIA
1- Lý luận chung về báo chí và hội nhập
1.1 - Báo chí gắn liền với sự phát triển lịch sử xã hội
Các nhà khoa học đã chứng minh đƣợc rằng, chính lao động và ngôn
ngữ đã giúp cho tổ tiên của loài ngƣời hoàn thiện và hình thành nên con
ngƣời có ý thức. Cùng với sự hình thành, ổn định và phát triển của xã hội
loài ngƣời, nhu cầu trao đổi thông tin giữa các cộng đồng và các cá nhân
ngày càng trở nên cấp thiết. Từ những hình thức trao đổi thông tin đơn giản,
khi mà các quan hệ sản xuất, các phƣơng thức kinh tế của loài ngƣời càng
phát triển thì xã hội càng phát triển và khi ấy các hình thức thông tin cùng
giả với thế giới, phá vỡ nỗi cô quạnh của con ngƣời, đôi khi còn giải tỏa tâm
lý cho ngƣời đọc khi tạo ra đƣợc những giấc mơ nào đó, để quên đi những
giới hạn câu thúc và căng thẳng của đời thƣờng. Nhƣ vậy, dù là của tƣ nhân,
báo chí cũng vô hình chung làm chức năng dịch vụ công cộng.
Báo chí luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội của dân tộc. Do sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội nói
chung và các media (bao gồm báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình )
nói riêng của các nƣớc, các khu vực trên thế giới, lĩnh vực truyền thông đại
chúng đã hình thành nên một trật tự không bình đẳng. Nhiều nƣớc phát triển
có nền công nghiệp truyền thông mạnh đã mang tham vọng độc quyền thông
tin, chiếm lĩnh thị trƣờng văn hóa - thông tin nƣớc khác, nhất là các nƣớc
kém phát triển. Vì vậy, khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế, các nƣớc này phải có chính sách bảo vệ, củng cố bản sắc văn
14
hóa dân tộc nhằm loại bỏ các yếu tố độc hại, không phù hợp với truyền
thông của quốc gia, dân tộc mình. Cuộc đấu tranh của từng nƣớc để bảo vệ,
củng cố bản sắc văn hóa dân tộc trở thành cấp bách trƣớc sự xâm nhập ồ ạt
của các sản phẩm báo chí và truyền thông ngoại lai.
Trong từng nƣớc phƣơng Tây và trong từng doanh nghiệp báo chí in,
vấn đề trƣớc mắt sẽ là làm sao xử lý đƣợc khối lƣợng thông tin đồ sộ từng
ngày, từng phút đổ dồn đến, nhất là thông tin kinh tế. Vấn đề khác nữa là
mối đe doạ của các ngành truyền hình đang làm cho ngƣời ta ngày càng ngại
đọc báo in, nghĩa là “lƣời” động não. Cuối cùng và cũng là vấn đề muôn
thuở đó là về chất lƣợng của các tờ báo lớn, nơi thƣờng phát hiện và quy tụ
những tài năng đa dạng.
Báo chí đang ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế,
văn hoá - xã hội của mỗi đất nƣớc và cộng đồng quốc tế. Sự ra đời báo chí là
do nhiều nhân tố thúc đẩy nhƣ nhu cầu đòi hỏi thông tin trong xã hội, trình
độ văn minh của xã hội, sự phát triển tiến bộ khoa học - kỹ thuật, các yếu tố
nhật nâng lên, đa dạng hoá báo định kỳ. Khuynh hƣớng khu vực hoá, địa
phƣơng hoá báo chí thể hiện rất rõ, do sự phi tập trung hoá của các ngành
kinh tế và sự phồn vinh của các khu vực. Có thể dẫn chứng nƣớc Pháp, quốc
gia châu Âu có nền báo chí lâu đời, nhiều khi báo địa phƣơng có vai trò
quan trọng hơn cả báo “toàn quốc” với những tin tức khu vực về mọi mặt và
các “tiểu thời sự”. Ngoài báo hàng ngày mang tính chất thông tin chung còn
có các báo hàng ngày chuyên trách về kinh tế nhƣ ở Mỹ có tờ Wall Street
Journal, ở Anh có tờ Financial Times, ở Pháp có tờ Les Echos, La Vie
Économique, hay chuyên về thể thao nhƣ tờ L’ Equipe (ở Pháp) với số phát
hành 25 vạn bản/ngày cũng rất đƣợc giới doanh nghiệp và quần chúng quan
tâm
16
1.2- Hội nhập và hội nhập kinh tế quốc tế
a/ Khái niệm hội nhập: Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ
học, Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản KHXH - Trung tâm Từ điển học,
1994, không có mục từ “Hội nhập”. Xem bộ Từ điển Tiếng Việt Tƣờng giải
và Liên tƣởng, Nguyễn Văn Đạm biên soạn, Nhà xuất bản VHTT, ấn hành
năm 1993, cũng không thấy có khái niệm này. Đến Từ điển tiếng Việt, ấn
phẩm của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm Từ
điển học, 2000, từ “Hội nhập” đã đƣợc cập nhật với định nghĩa: Hội nhập là
“hòa mình vào một cộng đồng lớn (nói về quan hệ giữa các dân tộc, các
quốc gia)”. Ví dụ: Hội nhập vào cộng đồng quốc tế là một yêu cầu của thời
đại. Lần xuất bản năm 2003, mục từ “Hội nhập” vẫn đƣợc giữ nguyên nghĩa
nhƣ trên.
Trong tiếng Anh, “Hội nhập” (Integrational) với tiếp đầu ngữ, có
nghĩa: từ cái này đến cái kia. Ví dụ: international: quốc tế; interplane: giữa
các hành tinh với mặt trời. Integration, tức hội nhập, tham gia vào một cộng
đồng lớn (Từ điển Anh - Việt, Lê Khả Kế chủ biên, Nhà xuất bản TP.HCM,
2004).
b/ Những nội dung cơ bản của khái niệm hội nhập:
- Mọi hiện tƣợng đƣợc gọi là hội nhập đều là quá trình kết hợp các phần tử,
đơn vị vào trong một chỉnh thể nào đó. Sự kết hợp này chính là sự vận động
chủ yếu trong quá trình hội nhập. Đây là nội dung cơ bản nhất.
- Trong quan hệ quốc tế, các đơn vị cơ bản ở đây chính là quốc gia. Vì thế,
hội nhập quốc tế có thể đƣợc hiểu là quá trình kết hợp các quốc gia riêng rẽ
vào một chỉnh thể mới. Chỉnh thể ở đây là một hệ thống với cơ cấu riêng,
luật lệ riêng và những tƣơng tác liên quốc gia mới. Trong chỉnh thể này, các
quốc gia là những thành tố có sự tƣơng tác với nhau chặt chẽ, sự thay đổi
18
của quốc gia này có thể dẫn đến sự thay đổi của quốc gia kia cũng nhƣ cả hệ
thống và ngƣợc lại.
- Ở cấp độ hội nhập phổ biến hiện nay là khu vực thƣơng mại tự do, ít nhất
các quốc gia tham gia đều mất đi một phần chủ quyền là cần thiết để cơ cấu
chung có hiệu lực và đem lại những đặc tính mới cho hệ thống, có lợi cho
các nƣớc thành viên. Điều này cũng làm cho tƣơng tác liên quốc gia thay
đổi, sự phụ thuộc lẫn nhau trở nên mạnh mẽ hơn và qua đó cũng dễ đạt đƣợc
hơn. Đây là điểm thay đổi đáng chú ý nhất của các quốc gia khi tham gia hội
nhập.
Hợp tác và hội nhập không là cách biệt, cả hai đều phản ánh quá trình
tƣơng tác giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế nhằm cùng nhau tìm kiếm
lợi ích chung, trong đó tăng cƣờng hợp tác là cách thức duy nhất để tiến tới
hội nhập và hội nhập là hình thức cao nhất của hợp tác.
c/ Điều kiện và nguyên tắc hội nhập:
Không phải cứ kết hợp các quốc gia vào cùng một chỉnh thể nào đó
thì gọi là hội nhập. Hội nhập là một quá trình lâu dài, phức tạp và phụ thuộc
vào nhiều yếu tố. Sự kết hợp đó phải đƣợc diễn ra trong những điều kiện phù
hợp và theo những nguyên tắc nhất định. Đây là yếu tố không thể thiếu trong
quá trình hội nhập và chúng là một phần nội dung khái niệm hội nhập. Các
Trong cuộc hội thảo “Doanh nghiệp Việt Nam với các yêu cầu của
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” do Uỷ ban quốc gia về hội nhập kinh tế
quốc tế tổ chức, ông Trịnh Minh Anh - Phó chánh văn phòng Ủy ban quốc
gia về hội nhập kinh tế quốc tế cho rằng: Bản chất và yêu cầu của hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay (khi chúng ta đang thực hiện lộ trình
của AFTA. Hiệp định thƣơng mại Việt - Mỹ và đang đàm phán gia nhập
20
WTO) là gắn kết nền kinh tế Việt Nam với các tổ chức kinh tế quốc tế, là
việc Việt Nam thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh
tế, tài chính quốc tế, thực hiện tự do hóa và thuận lợi hóa thƣơng mại, đầu tƣ
(gồm cắt giảm thuế quan, giảm và bỏ hàng rào phi thuế quan - tức là các
chính sách bảo hộ trong nƣớc, giảm các hạn chế đối với thƣơng mại, dịch
vụ, đầu tƣ ). Việc tuân thủ các yêu cầu về lộ trình mở cửa thị trƣờng hàng
hóa, dịch vụ, đầu tƣ và thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà Việt Nam
đã cam kết với các tổ chức kinh tế quốc tế lại đặt trong một yêu cầu nội tại
của Việt Nam là hội nhập chủ động nhƣng phát huy nội lực, bảo đảm độc
lập tự chủ, giữ gìn bản sắc dân tộc, tăng cƣờng sức mạnh quốc gia đặt ra
những khó khăn, thách thức vô cùng lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Các ảnh hƣởng nhìn thấy trƣớc mắt là ảnh hƣởng tới nguồn thu ngân sách
nhà nƣớc, làm mất đi sự ƣu đãi với các sản phẩm kinh doanh có điều kiện.
Sản phẩm có đặc quyền đƣợc bảo hộ hiện nay (nhƣ điện, bƣu chính viễn
thông, xăng dầu ) không thực hiện đƣợc việc thu thuế theo tỉ lệ nội địa hóa
một số sản phẩm cơ khí hiện nay. Và vì thế, đƣơng nhiên đặt các doanh
nghiệp Việt Nam vào cuộc chơi cạnh tranh cực kỳ gay gắt. (Theo bài
“Doanh nghiệp Việt Nam trong lộ trình hội nhập: Bán được hàng khó hơn
vạn lần sản xuất hàng hóa!”, Tiền phong, số 73, ngày 11/4/2002).
Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế vừa mới lạ vừa phức tạp.
Việt Nam tiến hành hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và
thế giới dƣới tác động đồng thời của những điều kiện khách quan và chủ
nhật khắp nơi và có thể chủ động góp phần tác động nhanh chóng đến những
sự kiện đó.
Trong tiến trình hội nhập, báo chí đã góp phần quảng bá, chia sẻ trên
quy mô, phạm vi rộng lớn những thông tin về những thành quả mới, những
22
phát minh sáng tạo về khoa học - công nghệ, về quản lý, sản xuất, kinh
doanh - dịch vụ , đƣa kiến thức, kinh nghiệm đến với các dân tộc, thậm chí
đến từng gia đình, từng ngƣời dân, nhà khoa học, nhà quản lý tạo điều kiện
mở rộng cho nhiều ngƣời tham gia cách mạng khoa học kỹ thuật, dọn đƣờng
cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bƣớc sang giai đoạn mới của quá trình
hội nhập, nhu cầu về thông tin trong xã hội đòi hỏi mạnh mẽ và kịp thời hơn,
tức là một thế giới nơi sẽ xảy ra thông tin liên tục đƣợc phổ biến rộng rãi
trên toàn cầu. Internet, báo điện tử ngày nay chính là hình ảnh báo trƣớc về
các xa lộ thông tin trong tƣơng lai. Đó là những mạng có dung lƣợng lớn mà
mọi ngƣời có thể truy cập và mạng có khả năng truyền tải từ một vị trí đến
bất kỳ nơi nào nối mạng trên thế giới, đồng thời mọi mạng thông tin đƣợc số
hoá (giọng nói, âm thanh, văn bản, hình ảnh ). Theo ƣớc tính, lƣợng thông
tin trao đổi mỗi ngày qua các nhóm hội thoại trên Internet tƣơng đƣơng với
hàng ngàn trang báo khổ lớn.
Tuy nhiên, quá trình hội nhập cũng gây ra những tác động tiêu cực và
truyền thông đại chúng cũng góp phần vào những tác động đó, cụ thể là: Hội
nhập sẽ làm trầm trọng thêm sự bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu
nghèo trong từng nƣớc và giữa các nƣớc. Riêng truyền thông đại chúng cũng
có sự phân bố không đều, bất hợp lý giữa các khu vực, các nƣớc: trong khi
rất nhiều nƣớc bị lệ thuộc thì quyền thu, phát, chi phối thông tin lại nằm
trong tay một số nƣớc lớn. Quá trình hội nhập có thể gây ảnh hƣởng, làm thu
hẹp quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của các Nhà nƣớc, các dân tộc.
Chỉ cần đƣờng lối, chính sách của một quốc gia mắc sai lầm thì tác hại của
sự tranh chấp và xung đột quyền lực sẽ thêm nặng nề, nghiêm trọng. Trong
những lĩnh vực nhƣ điện ảnh, quảng cáo, các phƣơng tiện nghe nhìn khác,
internet cùng những tập đoàn truyền thông khổng lồ với quy mô, phạm vi
24
hoạt động rộng rãi thì chỉ riêng vị trí đầu bảng thế giới của một số tờ báo,
tạp chí cũng đủ thấy vị trí quan trọng của báo chí trong đời sống kinh tế -
văn hóa - xã hội của quốc gia này. Những tập đoàn báo chí lớn nhƣ News
York Time hay Wasington Post là ví dụ với hàng nghìn phóng viên tinh
nhuệ đƣợc đặt ở khắp nơi, số lƣợng báo phát hành hàng ngày lên tới hàng
trăm nghìn bản, nắm trong tay hàng chục ấn bản, tạp chí, phụ san, quảng
cáo Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, nhờ có hệ thống cơ sở
hạ tầng phát triển, tiềm lực kinh tế mạnh, việc số hóa sâu rộng, báo chí Mỹ
đã thực hiện chính sách mở rộng, chiếm lĩnh thị trƣờng rất quyết liệt. Bám
sát thị trƣờng, không ngừng cải tiến để thu hút sự quan tâm của độc giả, một
số tập đoàn báo chí lớn của Mỹ đã và đang lan rộng dần tầm ảnh hƣởng
khiến cho không ít đối thủ phải lo ngại. Ở một số quốc gia đã có hiện tƣợng
báo chí, quảng cáo, phim ảnh, âm nhạc, lối sống, phƣơng thức kinh doanh
bị chi phối, ảnh hƣởng bởi văn hóa Mỹ.
Ngoài Mỹ ra, Nhật Bản cũng đƣợc xếp là một trong những cƣờng
quốc về truyền thông đại chúng nói chung, báo chí nói riêng. Từ năm 1995
trở đi, bên cạnh báo in, Nhật đã đặc biệt chú ý đầu tƣ cho lĩnh vực Multi
Media, thành lập một loạt các đài truyền hình cáp (CATV), phát triển truyền
hình vệ tinh bằng tín hiệu số, phổ cập Internet và mở rộng các dịch vụ thông
tin. Bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhật Bản đã
đƣợc các phƣơng tiện truyền thông đại chúng trong đó có báo chí đƣa ra
“khoe” với bạn bè quốc tế bằng những hình thức khác nhau, phong phú, đa
dạng. Bên cạnh những tờ báo bằng tiếng Nhật, số lƣợng các tờ báo in bằng
tiếng Anh trong những năm gần đây tăng nhanh khiến cho ảnh hƣởng của
Nhật Bản với nƣớc ngoài ngày càng lớn. Nhiều tờ báo lớn nhƣ Ashahi
Shimbun, Tokyo Time đã không chỉ nổi tiếng ở trong nƣớc mà còn “vƣợt