ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN KHU
VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN TRONG CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC
THỜI KỲ MỞ CỬA
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
MÃ SỐ: 60.31.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHÙNG THỊ HUỆ
Viện Nghiên cứu Trung Quốc
Hà Nội - 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
5
Chương 1. Vấn đề Đài Loan trong quan hệ giữa Đài Loan với
Trung Quốc đại lục
11
1.1. Lịch sử vấn đề Đài Loan 11
1.2. Một số vấn đề trong quan hệ hai bờ thời gian gần đây 19
1.3. Sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc và Đài
Loan
32
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2. Vấn đề Đài Loan trong chính sách đối ngoại của
Trung Quốc với một số nước châu Á - Thái Bình
Dương
43
2.1. Chính sách đối ngoại của Trung Quốc liên quan đến
vấn đề Đài Loan
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CAL China Air Lines
Hãng hàng không Trung Quốc (Đài Loan)
CHND Cộng hoà Nhân dân
ĐCS Đảng Cộng sản
EU European Union
Liên minh châu Âu
KMT Quốc Dân Đảng, Đài Loan
LQH Liên hợp quốc
SEF Quỹ trao đổi hai bờ eo biển Đài Loan
TAC The Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Đông Nam Á
TBCN Tư bản Chủ nghĩa
TBD Thái Bình Dương
TMD Theatre Missele Defense
Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường
USD Đô la Mỹ
WB World Bank
Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN Xã hội Chủ nghĩa
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Biểu đồ 1.1. Tốc độ kim ngạch xuất nhập khẩu của Đài Loan
vào Trung Quốc
25
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Đài Loan vào
Nguyên tắc trong chính sách đối ngoại liên quan đến Đài Loan của
Trung Quốc là: các nước phải công nhận nguyên tắc "một nước Trung Hoa",
không quan hệ chính thức với Đài Loan, không ủng hộ Đài Loan "độc lập"
dưới mọi hình thức. Trung Quốc đẩy mạnh phát triển quan hệ với các nước,
đặc biệt là Mỹ và các nước Đông Nam Á, nhằm cô lập Đài Loan, từng bước
thống nhất Đài Loan.
Ngược lại, do vị trí địa chiến lược quan trọng của Đài Loan nên Mỹ và
một số nước khác luôn lợi dụng Đài Loan làm con bài để kiềm chế Trung
Quốc khiến mối quan hệ của các nước này với Trung Quốc luôn diễn biến
phức tạp, tác động đến tình hình an ninh, ổn định ở khu vực và thế giới.
Trong khi đó, Đài Loan là một nền kinh tế tương đối phát triển, có quan
hệ kinh tế với nhiều nước và tổ chức trên thế giới, đặc biệt là quan hệ thương
5
mại, đầu tư. Đài Loan sử dụng ưu thế về kinh tế, quan hệ thương mại và đầu
tư để duy trì quan hệ với các nước, đôi khi đặt điều kiện trong quan hệ kinh tế
song phương vì mục đích chính trị.
Quan hệ kinh tế, văn hoá giữa Đài Loan và Việt Nam thời gian gần đây
có những bước phát triẻn mạnh mẽ, đặc biệt, Đài Loan là một trong những đối
tác thương mại, đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Quan hệ thương mại, đầu tư,
giao lưu văn hoá giữa hai bên đã và đang đem lại lợi ích cho cả Đài Loan và
Việt Nam và không vi phạm nguyên tắc “một nước Trung Hoa” mà Việt Nam
đã cam kết. Mặc dù quan hệ Việt Nam và Đài Loan chỉ mang tính kinh tế, văn
hoá thuần tuý nhưng Trung Quốc vẫn tỏ ra không hài lòng, đôi khi còn gây
sức ép với Việt Nam trong quan hệ với Đài Loan. Điều này đã và đang đặt ra
nhiều vấn đề trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến quan hệ song
phương với Trung Quốc và cả Đài Loan của Việt Nam.
Để có cách ứng xử hợp lý nhằm vừa duy trì quan hệ hữu nghị truyền
thống với Trung Quốc, vừa thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư và
văn hoá với Đài Loan, việc nghiên cứu đề tài "Vấn đề Đài Loan trong chính
sách đối ngoại của Trung Quốc thời kỳ mở cửa" có ý nghĩa khoa học và thực
Hâm (học giả Trung Quốc), xuất bản năm 2000, tác giả đã dành Phần II bàn về
vấn đề lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có vấn đề thống nhất Đài Loan. Tác
giả đã khái quát lịch sử vấn đề Đài Loan, quan hệ Mỹ - Trung liên quan đến vấn
đề Đài Loan, đặc biệt là về âm mưu, ý đồ và chủ trương của Mỹ trong sử dụng
vấn đề Đài Loan để bao vây, kiềm chế Trung Quốc. Tác giả đã đề cập đến sự
7
điều chỉnh chính sách của Trung Quốc từ "sử dụng vũ lực" để thống nhất Đài
Loan sang chính sách "thống nhất hoà bình, một nước hai chế độ". Cuốn sách
cũng đã nêu bật ý đồ "Đài Loan độc lập" của một số quan chức Chính quyền
Đài Loan, đặc biệt là nguyên Tổng thống Trần Thuỷ Biển
Trong tác phẩm "Cuộc cách mạng về học thuyết quân sự của Trung
Quốc" của Giêm Mun-ve-non và Đa-vít M.Phinh-ken-xten (quan chức Mỹ), từ
những thông tin thu thập được, hai tác giả đã phân tích chi tiết về cuộc cách
mạng về học thuyết quân sự của Trung Quốc, trong đó có nhiều mục đề cập đến
vấn đề Đài Loan, đặc biệt là về các kịch bản Trung Quốc sử dụng vũ lực gây sức
ép với Đài Loan trong tương lai.
Ở trong nước, có rất ít tài liệu và đề tài nghiên cứu cụ thể về chính sách
đối ngoại của Trung Quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan mà chủ yếu là các bài
viết hoặc các đề tài nghiên cứu về Trung Quốc trong đó có vấn đề Đài Loan.
Ngoài ra, các nhà xuất bản trong nước cũng xuất bản nhiều tài liệu biên dịch từ
các cuốn sách do nước ngoài ấn hành có liên quan đến Trung Quốc và Đài Loan,
đặc biệt là những cuốn sách do các học giả Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ và
phương Tây phát hành.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề Đài Loan và chính sách đối ngoại của
Trung Quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Chính sách đối ngoại của Trung Quốc liên quan đến vấn đề Đài
Loan trong thời kỳ cải cách, mở cửa (từ năm 1978 đến nay).
+ Chính sách đối ngoại của Mỹ, Nhật Bản, ASEAN đối với Trung
liệu, tạp chí trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề Đài Loan và quan hệ
Đài Loan - Đại Lục, quan hệ Đài Loan các nước, quan hệ Trung Quốc - các
nước. Phần phụ lục gồm các tài liệu quan trọng mà Trung Quốc đã công bố có
liên quan đến vấn đề Đài Loan như: Sách trắng: Nguyên tắc một nước Trung
Hoa và vấn đề Đài Loan; Luật chống chia cắt đất nước
10
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ ĐÀI LOAN TRONG QUAN HỆ GIỮA ĐÀI LOAN
VÀ TRUNG QUỐC ĐẠI LỤC
1.1. Lịch sử vấn đề Đài Loan
1.1.1. Vấn đề Đài Loan từ 1949 đến 1979
Đài Loan nằm ở phía Đông Trung Quốc, đối diện tỉnh Phúc Kiến, gồm
hơn 80 đảo lớn nhỏ, trong đó Đài Loan là đảo lớn nhất, có diện tích 36.180
km
2
, chiều dài từ Bắc xuống Nam là 394 km, chiều rộng từ Đông sang Tây là
144 km. Dân số Đài Loan năm 2008 khoảng trên 23 triệu người.
Ngày 25 tháng 10 năm 1945, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc thu hồi
lại Đài Loan và các khu vực đảo Bành Hồ từ Nhật Bản theo “Tuyên ngôn
Cai-rô” và “Thông cáo Pốt-xđam”. Sau khi bị thua trong cuộc nội chiến
1946 - 1949, lực lượng Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo đã
chạy ra đảo Đài Loan, duy trì thể chế Trung Hoa Dân quốc đối lập với Chính
phủ Trung ương. Đài Loan đẩy mạnh phát triển kinh tế và quân sự, mở rộng
quan hệ quốc tế và có xu hướng độc lập. “Vấn đề Đài Loan” từ đó trở thành
vấn đề gai góc trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đặc biệt là trong
quan hệ Trung Quốc - Mỹ và Trung Quốc - Nhật Bản. Trong khi Trung Quốc
quyết tâm thống nhất Đài Loan vào Đại lục thì Đài Loan luôn có xu hướng
đòi độc lập.
Trong suốt những năm 1950 và đầu những năm 1960, Trung Quốc đã
lên kế hoạch sử dụng vũ lực để "giải phóng" Đài Loan, tập trung lực lượng
tấn công vào các cảng của Trung Quốc đối diện Đài Loan. Cuộc khủng hoảng
12
lần thứ nhất lắng dịu khi Trung Quốc tổ chức Quốc khánh lần thứ 5 vào ngày
1 tháng 10 năm 1954. Tuy nhiên, căng thẳng ở eo biển Đài Loan tiếp tục kéo
dài do Trung Quốc tuyên bố sẽ "giải phóng" Đài Loan bằng mọi giá, đẩy
mạnh tập trung lực lượng đối diện Đài Loan (hình thành các trận địa pháo).
Ngày 18 tháng 1 năm 1955, tàu đổ bộ của Trung Quốc chiếm đảo Nhất Giang
Sơn, tiếp tục tấn công vào Kim Môn, Mã Tổ. Máy bay quân sự của hai bên
tiếp tục bắn phá vào các khu vực của nhau [24].
Leo thang quân sự giữa hai bên đã buộc Mỹ phải can thiệp. Ngày 29
tháng 1 năm 1955, Quốc hội đã cho phép Tổng thống Mỹ tiến hành các hành
động quân sự cần thiết để bảo vệ đảo Đài Loan và Bành Hồ. Mỹ đã ngay lập
tức điều Hạm đội 7 tới khu vực Đài Loan, điều đơn vị không quân tới các căn
cứ quân sự của Đài Loan. Ngày 9 tháng 2 năm 1955, Mỹ và Đài Loan ký
Hiệp ước phòng thủ chung, đồng thời tăng cường viện trợ quân sự cho Đài
Loan (năm 1955 là 138 triệu USD, 1956 là 102 triệu USD) [24].
Cuộc khủng hoảng lần thứ nhất kéo dài tới giữa năm 1956 khi hai bên
bắn tín hiệu đàm phán giải quyết căng thẳng giữa hai bờ. Đến cuối năm 1956,
căng thẳng lắng dịu, hai bên không còn tiến hành các cuộc tấn công quy mô
lớn sang lãnh thổ của nhau nữa, nhưng vẫn duy trì các cuộc bắn pháo lẻ tẻ qua
lại giữa Kim Môn, Mã Tổ và Đại lục.
Tháng 8 năm 1958, Hải quân Đài Loan tiến hành các hoạt động quân sự
ở ven biển Đại lục nên Trung Quốc đã quyết định bắn phá Kim Môn vào ngày
23 tháng 8 năm 1958, cuộc khủng hoảng lần thứ hai chính thức bắt đầu.
Tưởng Giới Thạch đã cầu viện Mỹ bảo vệ Kim Môn. Tổng thống Mỹ Ai-xen-
hao đã ngay lập tức điều 7 tàu sân bay, 3 tuần dương hạm, 40 tàu khu trục tới
khu vực eo biển Đài Loan. Đồng thời, Phi đội Không quân số 46 cũng được
lệnh cơ động đến các căn cứ không quân của Đài Loan, cùng với khoảng
3.800 lính hải quân đánh bộ [24]. Các tàu chiến của Mỹ đã trực tiếp bảo vệ
13
hệ thương mại, đầu tư với Đài Loan. Đến năm 1978, chỉ còn khoảng 22 nước
có quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Chính quyền Đài Loan tiếp tục từ chối
đề nghị của Trung Quốc về việc cải thiện quan hệ hai bờ, nối lại giao thương,
thư tín, điện thoại và trao đổi văn hoá. Trung Quốc cho phép người Đài Loan
thăm Đại lục nhưng Đài Loan không cho người Đại lục sang thăm Đài Loan.
Tuy nhiên, quan hệ đầu tư, thương mại song phương thông qua Hồng Công đã
bắt đầu tăng mạnh, hai bên đã cùng tham dự nhiều cuộc hội thảo và hội nghị
quốc tế.
Năm 1985, Trung Quốc đạt được thoả thuận với Anh về thu hồi Hồng
Công theo nguyên tắc "một nước, hai chế độ", do đó kêu gọi Đài Loan thống
nhất vào Trung Quốc cũng với nguyên tắc trên đồng thời cam kết Đài Loan sẽ
có quyền tự trị hơn cả Hồng Công. Quan hệ thương mại gián tiếp giữa hai bên
tăng mạnh, theo Tạp chí Kinh tế Viễn đông, kim ngạch thương mại hai bên đã
lên tới 560 triệu USD (trong đó Đài Loan xuất sang Trung Quốc 430 triệu
USD) [24].
Cuộc tiếp xúc không chính thức đầu tiên giữa quan chức hai bên diễn ra
vào năm 1986 khi Đài Loan cho phép đại diện của Hãng hàng không Trung
Quốc - CAL (Đài Loan) tới Hồng Công để đàm phán với các quan chức
Trung Quốc về việc trao trả chiếc máy bay và 2 phi công của CAL bị bắt. Đài
Loan đã nới lỏng một số quan hệ với Đại lục, trong đó có việc cho phép nhập
sách từ Đại lục, bỏ lệnh cấm đi lại tới Hồng Công và Ma Cao, cuối cùng là bỏ
lệnh cấm đi lại với Đại lục. Tháng 7 năm 1987, Đài Loan đã ra lệnh bãi bỏ
Luật giới nghiêm được áp dụng từ năm 1949. Tháng 5 năm 1989, lần đầu tiên
Đài Loan phái Bộ trưởng Thương mại Shirley Kuo đến Bắc Kinh tham gia
cuộc họp thường niên của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Tháng 5 năm
15
1990, Tổng thống Lý Đăng Huy đề xuất mở kênh tiếp xúc với Trung Quốc
với điều kiện Bắc Kinh cải cách chính trị và kinh tế, đồng thời chấp nhận Đài
Loan "là một bên ngang hàng" trong bất kỳ cuộc đàm phán nào. Đài Loan
cũng thiết lập Uỷ ban Các vấn đề Đại lục để điều hành các quan hệ buôn bán
pin được lệnh xuất phát hướng về phía eo biển Đài Loan. Mỹ điều tiếp Cụm
tàu sân bay lớp Nimitz (CVN-68) từ vùng Vịnh tới khu vực Đài Loan nhằm
bảo vệ cuộc bầu cử Tổng thống ở Đài Loan (23.3.1996), đồng thời công khai
tuyên bố sẵn sàng sử dụng vũ lực bảo vệ Đài Loan. Tuy nhiên, sau 4 lần bắn
thử tên lửa, Trung Quốc "thông báo các vụ thử tên lửa đã thành công, chỉ
phải bắn 1/2 số tên lửa dự kiến thử" [6, tr. 73], đồng thời các cuộc diễn tập đã
được thu hẹp lại. Căng thẳng ở eo biển Đài Loan lắng dịu.
Sau cuộc khủng hoảng lần thứ 3, Đài Loan bắt đầu có sự điều chỉnh
chính sách, chú trọng đến vấn đề "chủ quyền và độc lập". Tháng 7 năm 1999,
Lý Đăng Huy khẳng định, "hai bên có mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước
với nhà nước" và quan điểm của Đài Loan về "một nước Trung Hoa đó là một
nước Trung Hoa dân chủ trong tương lai". [18, tr. 437]. Lý Đăng Huy cho
rằng, "kể từ khi tiến hành cải cách Hiến pháp năm 1991, Đài Loan đã xác
định lại mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan là mối quan hệ giữa quốc
gia và quốc gia, hoặc ít nhất cũng là mối quan hệ đặc biệt giữa quốc gia với
quốc gia. Theo mối quan hệ đặc biệt giữa quốc gia với quốc gia đó, không
cần phải tuyên bố Đài Loan độc lập nữa" [18, tr. 438].
1.1.3. Vấn đề Đài Loan từ 2000 đến nay
Cuộc bầu cử năm 2000 đã khiến cho đàm phán hai bờ tạm ngưng, quan
hệ Trung Quốc - Đài Loan trở nên căng thẳng. Ngày 18 tháng 3 năm 2000,
Trần Thuỷ Biển thuộc đảng Dân chủ Đài Loan đã đắc cử “Tổng thống” Đài
17
Loan và ngày 20 tháng 5 năm 2000 đã chính thức tuyên thệ nhậm chức. Trong
diễn văn nhậm chức của mình, Trần Thuỷ Biển đã không nhắc đến nguyên tắc
“một nước Trung Hoa”, sau đó còn tuyên bố "thống nhất không phải là lựa
chọn duy nhất cho Đài Loan". Thậm chí, năm 2003, Trần Thủy Biển còn
công khai tuyên bố đưa ra kế hoạch "tách Đài Loan ra khỏi Trung Quốc" với
mốc thời gian: năm 2003 hoàn thành dự luật về trưng cầu dân ý tách Đài Loan
khỏi Trung Quốc, năm 2004 tiến hành bỏ phiếu, năm 2006 soạn thảo hiến
pháp mới và năm 2008 bắt đầu áp dụng hiến pháp này.
trong "Cương lĩnh thống nhất đất nước" của Đài Loan do Viện lập pháp thông
qua tháng 3 năm 1991 và văn kiện "Vấn đề Đài Loan với thống nhất Trung
Quốc" của Uỷ ban Đại lục của Đài Loan ban hành ngày 16 tháng 9 năm 1993.
Theo đó, Đài Loan xác định khái niệm "một nước Trung Hoa" với những nội
dung sau: Thứ nhất, từ "Trung Hoa" bao hàm nội dung, ý nghĩa về địa lý,
chính trị, lịch sử và văn hoá. Thứ hai, Đại lục và Đài Loan đều là lãnh thổ của
nước "Trung Hoa". Đài Loan từ trước tới nay vẫn là một bộ phận của lãnh thổ
Trung Quốc, đồng thời Đại lục từ trước tới nay cũng là một bộ phận của lãnh
thổ Trung Quốc. Thứ ba, Đài Loan là lãnh thổ của Trung Hoa Dân Quốc. Thứ
tư, kể từ khi thành lập tới nay, Chính quyền Đại lục chưa bao giờ có quyền
thống trị Đài Loan.
Quan điểm của Đại lục về nguyên tắc "một nước Trung Hoa" được thể
hiện trong Sách trắng "Nguyên tắc một nước Trung Hoa và vấn đề Đài Loan"
của Văn phòng Thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc (công bố tháng 2 năm
2000) xác định nội dung "một nước Trung Hoa" với những nội hàm sau: thứ
nhất, trên thế giới chỉ có một nước Trung Hoa; thứ hai, Đài Loan là một bộ
19
phận của Trung Quốc; thứ ba, Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung
Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho Trung Quốc; thứ tư, cốt lõi
của "Nguyên tắc một nước Trung Hoa" là bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của Trung Quốc.
Như vậy, Đài Loan và Đại lục có những cách hiểu khác nhau về quan
điểm "một nước Trung Hoa". Vấn đề gây tranh cãi trong các cuộc đàm phán
giữa hai bờ eo biển cũng đều xoay quanh cách hiểu "một nước Trung Hoa".
Đặc biệt Đài Loan có nhiều quan điểm không thống nhất với Đại lục về các
vấn đề cụ thể như sau: Thứ nhất, Trung Quốc luôn coi Đài Loan không có chủ
quyền của một quốc gia độc lập nên không có quyền đại diện cho “một quốc
gia là Trung Hoa”. Thứ hai, Đài Loan và Đại lục đều là một bộ phận của
Trung Hoa (điều này coi hai bên là ngang bằng nhau), hai bên đều cùng
hưởng chủ quyền, cùng cai trị. Thứ ba, Đài Loan nhất trí hướng tới mục tiêu
kết các hiệp định thương mại và văn hoá với nước ngoài, đồng thời được
hưởng quyền nhất định trong quan hệ đối ngoại. Thứ tư, Đài Loan có thể duy
trì lực lượng vũ trang của mình và Đại lục sẽ không điều quân hay cử nhân
viên hành chính sang quản lý tại Đài Loan. Thứ năm, các quan chức, đại diện
của đặc khu hành chính Đài Loan và các cơ quan khác của Đài Loan có thể
được đề cử vào các vị trí cấp cao của Chính quyền Trung ương và có thể tham
gia điều hành công tác đối ngoại [29].
Thực chất, việc đề nghị Đài Loan thống nhất vào Trung Quốc theo
nguyên tắc "một nước, hai chế độ" là theo mô hình thu hồi Hồng Công từ phía
Anh năm 1997. Tuy nhiên, cho đến nay phía Đài Loan vẫn chưa chấp nhận đề
nghị này và cho rằng Hồng Công trở về Trung Quốc với mô hình "một nước,
hai chế độ" đã "khiến cho nơi này có những bước thụt lùi đáng kể: thụt lùi về
21
chế độ chính trị; hạn chế tự do biểu tình, mít tinh, tụ họp…" [9, tr. 336].
Ngoài ra, Đài Loan cũng không muốn phụ thuộc và gắn chặt vận mệnh của
mình với Trung Quốc rộng lớn. Do đó, giới lãnh đạo cũng như đa số người
dân Đài Loan không chấp nhận việc thống nhất vào Trung Quốc theo mô hình
như Hồng Công.
1.2.2. Quan hệ hai bờ trên các lĩnh vực
(1) Về chính trị, đối ngoại và văn hoá
Mặc dù còn bất đồng trong một số vấn đề nhưng hiện nay hai bên
thường xuyên duy trì các cuộc tiếp xúc, tiến hành các cuộc đàm phán, thương
lượng về các vấn đề có liên quan, trong đó có việc thống nhất đất nước. Sau
khi đắc cử Tổng thống trong cuộc bầu cử tháng 3 năm 2008, trong diễn văn
nhậm chức của mình, Mã Anh Cửu khẳng định quan điểm “ba không: không
độc lập, không thống nhất, không sử dụng vũ lực" trong quan hệ hai bờ, tái
khởi động các cơ chế đàm phán, song phải dựa trên tiền đề "bình thường hoá
kinh tế, thương mại trước, đàm phán chính trị sau". Ngay sau đó, một loạt các
cuộc tiếp xúc cấp cao giữa hai bên đã diễn ra. Ngày 12 tháng 4 năm 2008,
Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã có cuộc gặp đầu tiên với Phó Tổng thống mới đắc
toàn cầu hiện nay.
Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội Trung Quốc khoá 11
(từ ngày 5 - 13 tháng 3 năm 2009) đánh giá, năm 2008, quan hệ hai bờ đã đạt
được nhiều đột phá to lớn: hiệp thương hai bờ được khôi phục; thúc đẩy “tam
thông”; quan hệ kinh tế, văn hoá được tăng cường; quan hệ hai bờ bắt đầu
bước vào quỹ đạo phát triển hoà bình. Báo cáo đưa ra chủ trương của Trung
Quốc: kiên trì phát triển quan hệ hai bờ, thúc đẩy phương châm “thống nhất
hoà bình”; tăng cường hợp tác kinh tế để cùng đối phó với với cuộc khủng
23
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; mở rộng giao lưu giữa các giới
chức trong xã hội; thông qua hiệp thương để tạo điều kiện cho Đài Loan tham
gia các hoạt động quốc tế; nghiên cứu, đối thoại về chính trị, quân sự.
Bên lề Diễn đàn Bác Ngao (diễn ra trong tháng 4 năm 2009 tại Hải
Nam, Trung Quốc), Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đề ra 5 nhiệm vụ
thúc đẩy quan hệ hai bờ gồm: thúc đẩy doanh nghiệp Trung Quốc sang đầu tư
tại Đài Loan; tăng cường nhập khẩu từ Đài Loan; khuyến khích doanh nghiệp
Đài Loan đầu tư vào Đại Lục; xây dựng hiệp thương phù hợp với phát triển
kinh tế hai bờ; tăng cường khách du lịch.
(2) Về thương mại và đầu tư
Thời gian đầu sau khi Hồng Công trở về Trung Quốc, quan hệ thương
mại, đầu tư giữa hai bên vẫn tiếp tục được trì qua Hồng Công, nhưng hai bên
cũng đã bắt đầu ký kết nhiều thoả thuận, văn kiện nhằm thúc đẩy "tam thông",
trong đó chú trọng đến giao thương kinh tế và đầu tư trực tiếp giữa hai bên.
Hai bên đã thành lập các tổ chức nhằm kiểm soát và thúc đẩy quan hệ kinh tế,
nới lỏng nhiều biện pháp hạn chế, từng bước giao thương trực tiếp.
Hiện nay, hai bên đã nối lại các quan hệ trực tiếp về giao thông vận tải,
thương mại, du lịch và thư tín. Theo Tân Hoa Xã, phát biểu với báo giới sau
Diễn đàn kinh tế, thương mại và văn hoá giữa hai bờ eo biển lần thứ 4 (ngày
23 tháng 12 năm 2008), Vương Nghị, Chủ nhiệm Văn phòng các quan hệ Đài
Loan của Trung Quốc cho biết, ba ngân hàng của Trung Quốc sẽ hỗ trợ cho
Thống kê Đài Loan năm 2008, trong vòng 10 năm (từ 1997 - 2007), kim
ngạch xuất khẩu của Đài Loan vào Trung Quốc đã tăng từ 620 triệu USD năm
1997 lên 62,5 tỷ USD năm 2007, bình quân tăng 100%/năm. Kim ngạch nhập
khẩu từ Đại lục cũng tăng từ 4 tỷ năm 1997 lên tới 28 tỷ vào năm 2007, tăng
7 lần. Năm 2008, Trung Quốc đã chính thức vượt Mỹ để trở thành thị trường
thương mại hàng đầu của Đài Loan với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 98
tỷ USD (Đài Loan xuất khẩu sang Trung Quốc gần 67 tỷ, nhập khẩu từ Trung
Quốc trên 31 tỷ USD), trong khi kim ngạch xuất nhập khẩu với Mỹ chỉ đạt 57
25