Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
LỜI NÓI ĐẦU
Từ hàng nghìn năm nay thuật ngữ quản trị đã ra đời và được áp dụng trong
thực tiễn ở tất cả các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau.
Đất nước ta khi còn ở chế độ bao cấp đã triệt tiêu hoàn toàn mọi động lực
để các doanh nghiệp phấn đấu làm ăn có lãi và thu lợi nhuận. Vì vậy khái niệm về
quản trị vẫn còn xa lạ đối với các doanh nghiệp.
Khi chuyển sang cơ chế thị trường, theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
trong quản lý kinh tế:“việc chuyển nền kinh tế mang nặng tính chất tự cấp tự túc với
cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” “ nền kinh tế mở
cửa” đầy rẫy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước đòi hỏi các
doanh nghiệp phải cải tổ cơ chế quản lý của mình để phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Một doanh nghiệp muốn làm ăn có lãi và đứng vững được trong cơ chế thị
trường thì đòi hỏi doanh nghiệp đó phải có sự lãnh đạo và quản lý chặt chẽ giữa các
cấp và các bộ phận trong Công ty. Quản trị kinh doanh lúc này đã được các doanh
nghiệp cực kỳ đề cao vì nó là công cụ hữu hiệu nhất để có thể đưa doanh nghiệp đi
đến thành công này sang thành công khác. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
quản trị kinh doanh giữ vai trò chủ đạo trong mọi doanh nghiệp. Làm tốt công tác
quản trị sẽ giúp các doanh nghiệp có được mục tiêu, phương hướng và chiến lược
kinh doanh đúng đắn. Đó là nền tảng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh mà bắt
buộc mọi doanh nghiệp đều phải nghiên cứu và làm tốt nó.
Từ đòi hỏi thực tế nêu trên và qua thời gian thực tập ở Công ty trách nhiệm
hữu hạn xây dựng Tuấn Hải em đã có cơ hội tìm hiểu về Công ty, với kiến thức tích
luỹ được của mình trong quá trình học tập và sự giúp đỡ tận tình của các cô, chú, anh
chị trong Công ty và sự nhiệt tình hướng dẫn của cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Xuân
Hương, em đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Quản trị kinh doanh
ở công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng Tuấn Hải - Thực trạng và giải pháp ”.
Trong chuyên đề này, ngoài phần lời nói đầu và kết luận còn có 3 chương
chính như sau:
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
a.Thực chất của quản trị kinh doanh.
Xét về mặt tổ chức kỹ thuật của hoạt động quản trị. Quản trị chính là sự kết
hợp mọi nỗ lực của con người trong doanh nghiệp để đạt tới mục đích chung của
doanh nghiệp và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn khéo và có hiệu quả
nhất.
Quản trị ra đời chính là để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với lao
động của từng cá nhân riêng rẽ trong một nhóm người, khi họ tiến hành các hoạt
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
động lao động chung. Nói một cách khác thực chất của quản trị kinh doanh là quản trị
con người trong các doanh nghiệp, thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm
năng và cơ hội của doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục
tiêu đã định.
b. Bản chất của quản trị kinh doanh.
Xét về mặt kinh tế - xã hội của quản trị, quản trị doanh nghiệp là vì mục tiêu
lợi ích của doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài,
trang trải vốn và lao động, bảo đảm tính độc lập và cho phép thoả mãn những đòi hỏi
xã hội của chủ doanh nghiệp và của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Mục tiêu của
doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp đề ra, họ là chủ sở hữu của doanh nghiệp và là
người nắm giữ quyền lực doanh nghiệp.
Nói một cách khác, bản chất của quản trị kinh doanh tuỳ thuộc vào chủ sở hữu
của doanh nghiệp. chính bản chất của kinh doanh xã hội chủ nghĩa khác kinh doanh
tư bản chủ nghĩa, cho nên nó phải có thêm câu hỏi “ sản xuất cái đó để làm gì”.
Quản trị kinh doanh mang tính khoa học, tính nghệ thuật và là một nghề.
1.1.2.Vai trò của quản trị kinh doanh đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp loại trừ các những yếu tố may
rủi ngẫu nhiên, sự tồn tại và thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp phụ
thuộc trước hết vào tính đúng đắn của chiến lược đã vạch ra và thực thi tốt các chiến
lược đó. Do đó vai trò của quản trị kinh doanh theo chiến lược bắt nguồn từ những
trường kinh doanh.
- Trong môi trường cạnh tranh gây gắt, thông qua phân tích toàn diện đầy đủ
các yuế tố của môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp xác định đối thủ cạnh tranh ,
trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tổng thể nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
Tuy nhiên chiến lược kinh doanh không phải là phương thuốc tổng hợp chữa
được bách bệnh mà cũng có những mựt hạn chế sau:
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
+ Mất nhiều thời gian và chi phí để xây dựng và thực hiện quản trị kinh doanh
theo chiến lược, tuy nhiên với doanh nghiệp có kinh nghiệp có kinh nghiệm sẽ tiết
kiệm được thời gian và công sức, hơn nũa doanh nghiệp sẽ thu được nhiều ích lợi
hơn khi vận dụng.
+ Tính đúng đắn của chiến lược kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào dự báo
dài hạn về môi trường kinh doanh, nếu những dự báo có sai sót sẽ hạn chế đến kết
quả kinh doanh.
+ Sau khi hoạch định chiến lược kinh doanh nếu không kịp thời thay đổi,
chiến lược sẽ trở thành cái “khung cứng nhắc”trói buộc doanh nghiệp. Cần phải nhớ
rằng quản trị chiến lược mang tính năng động theo sự thay đổi của môi trường.
+ Nếu doanh nghiệp chỉ chú ý đến hoạch định mà không chú ý đến thực hiện
sẽ là sai lầm, bản chất của quản trị chiến lược là hoạt động, chỉ có thực hiện mới đem
lại thành công trong kinh doanh.
1.2- NỘI DUNG QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP XÂY
DỰNG.
Để đảm bảo thành công trong hoạt động kinh doanh, ban lãnh đạo của
doanh nghiệp xây dựng ngoài việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tổ chức bộ máy,
hoàn thiện các chức năng quản lý còn phải chỉ đạo thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy quản trị các nghiệp vụ kinh doanh có ý nghĩa quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đó là các hoạt động nghiệp vụ.
1.2.1.Quản trị hoạt động thương mại.
cầu.
Xây dựng kế
hoạch yêu
cầu vật
Xác định các
phương thức
đảm bảo vật tư.
Lập và tổ
chức thực
hiện kế
hoạch mua
sắm vật tư.
Tổ chức
quản lý vật
tư nội bộ.
Quản lý dự
trữ và bảo
quản.
Cấp phát vật
tư nội bộ.
Quyết toán
vật tư.
Lựa chọn
người cung
ứng.
Thương
lượng và
đạt hàng.
Theo dõi đạt
hàng và tiếp
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Định kỳ sản xuất vật tư của doanh nghiệp sản xuất. Có những chủng loại, quy
cách vật tư, doanh nghiệp sản xuất chỉ sản xuất vào những kỳ hạn nhất định.
Tính chất thời vụ của sản xuất, vận tải và tiêu duàng vật tư.
Thuộc tính tự nhiên của các loại vật tư. Có những loại vật tư mà thời gian dự
trữ lại do thuộc tính tự nhiên của chúng quyết định.
Dự trữ sản xuất gồm có 3 bộ phận: Dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm và
dự trữ chuẩn bị.
Tính thời vụ của sản xuất, tiêu duàng và vận chuyển vật tư đòi hỏi phải có dự
trữ thời vụ ở tất cả các giai đoạn tuần hoàn của vật tư. Đặc điểm và tính chất ảnh
hưởng của những điều kiện thời vụ dẫn đến sự cần thiết phải gia tăng các loại dự trữ.
1.2.2.3.Định mức dự trữ sản xuất.
Định mức dự trữ sản xuất là sự quy định đại lượng vật tư tối thiểu phải có
theo kế hoạch ở doanh nghiệp để bảo đảm cho quá trình sản xuất của các đơn vị tiêu
dùng tiến hành được liên tục và điều đặn.
Khi tiến hành định mức dự trữ sản xuất cần phải quán triệt một số quy tắc:
Quy tắc thứ nhất là xác định đại lượng tối thiểu cần thiết, có nghĩa là đại
lượng dự trữ phải đủ bảo đảm cho quá trình sản xuát của doanh nghiệp khỏi bị gián
đoạn trong mọi tình huống, đồng thời tránh dự trữ nhiều sinh ra ứ đọng vật tư làm
chậm tốc độ lưu chuyển của vốn.
Quy tắc thứ hai của định mức dự trữ sản xuất là xác định đại lượng dự trữ,
trên cơ sở tính toán tất cả những nhân tố ảnh hưởng trong kỳ kế hoạch.
Quy tắc thứ ba của định mức dự trữ sản xuất là tiến hành định mức từ cụ thể
đến tổng hợp.
Quy tắc thứ tư của định mức dự trữ là quy định đại lượng dự trữ sản xuất tối
đa và đại lượng dự trữ tối thiểu đối với mỗi tên gọi cụ thể. Đại lượng dự trữ sản xuất
tối đa bằng dự trữ chuẩn bị cộng dự trữ bảo hiểm cộng dự trữ thường xuyên tối đa.
Đại lượng dự trữ sản xuất tối thiểu bằng tổng dự trữ chuẩn bị và dự trữ bảo hiểm.
1.2.2.4.Theo dõi và điều chỉnh dự trữ ở doanh nghiệp xây dựng.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Kế hoạch bán hàng là văn bản tổng hợp dự kiến các điều kiện thực hiện và kết
quả bán hàng của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định.
Kế hoạch bán hàng có trình tự và phương pháp lập như sau:
Lập kế hoạch từ trên xuống.
Lập kế hoạch phân tán, từ dưới lên thông qua đăng ký tự nguyện từ cá nhân,
tổ đội, xí nghiệp lên hoặc kết hợp cả 2 phương thức trên.
Tuỳ theo ảnh hưởng của các lực lượng trong doanh nghiệp như người quản lý,
các nhân viên, các cổ đông, tuỳ thuộc nguồn lực hiện có, khả năng huy động vốn và
nền văn hoá mà doanh nghiệp đang theo đuổi mà kế hoạch bán hàng được hình thành
khác nhau.
1.2.3.4. Tổ chức lực lượng bán hàng.
1.2.3.4.1. Khái niệm lực lượng bán.
Lực lượng bán hàng(LLBH) là toàn bộ nhân viên tham gia quảng cáo, vận
chuyển, phân phối và bán hàng cho doanh nghiệp. LLBH là cầu nối cơ bản của doanh
nghiệp với khách hàng, quyết định việc thực hiện mục tiêu và kế hoạch bán hàng.
1.2.3.4.2. Xác định quy mô và cơ cấu của lực lượng bán hàng.
Xác định quy mô LLBH ảnh hưởng đến kết quả và chi phí bán hàng của doanh
nghiệp. Bởi vậy tính nhu cầu của LLBH cần căn cứ vào các yếu tố.
Mục tiêu và chiến lược bán hàng của doanh nghiệp.
Tình hình nhu cầu về hàng hoá trên thị trường hiện tại và tương lai.
Tổ chức LLBH của các đối thủ cạnh tranh để tham khảo.
Các định mức về khối lượng công việc cho một nhân viên đại diện bán hàng
như: tần xuất gặp gỡ khách hàng cần thiết trong kỳ, tổng khối lượng công việc, số
lượng khách hàng, thời gian mỗi lần gặp gỡ một khách hàng.
Trên cơ sở xác định quy mô nhân lực bán hàng của toàn bộ doanh nghiệp, cho
từng khu vực, từng địa bàn.
Cơ cấu tổ chức của LLBH.
Có thể có 4 phương án tổ chức LLBH của doanh nghiệp: theo sản phẩm, theo
1.2.4.1.1.Phân loại vốn kinh doanh.
Có thể đứng trên nhiều giác độ khác nhau để phân loại vốn kinh doanh.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
A - Đứng trên giác độ pháp luật vốn ở doanh nghiệp được quy định thành:
- Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để
thành lập doanh nghiệp. Tuỳ theo từng ngành, nghề, từng loại hình sở hữu doanh
nghiệp và từng thời kỳ, Nhà nước có quy định mức vốn pháp định hoặc doanh nghiệp
phải đăng ký mức vốn cần phải có khi thành lập doanh nghiệp.
- Vốn điều lệ: Là số vốn do tất cả các thành viên góp và được ghi vào điều lệ
công ty. Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các
chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền việt nam, ngoại tệ tự do
chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,
bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do các thành viên góp để
tạo thành vốn của công ty.
- Vốn có quyền biểu quyết: Là phần vốn góp, theo đó, người sở hữu có quyền
biểu quyết về những vấn đề được hội đồng thành viên hoặc đại hội đồng cổ đông
biểu quyết …
B - Đứng trên giác độ hình thành vốn, vốn ở doanh nghiệp gồm:
- Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn phải có khi thành lập doanh nghiệp, tức là số
vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc số vốn đóng góp của công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tư nhân,
hoặc vốn nhà nước giao của doanh nghiệp nhà nước …
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, phần vốn đóng góp
của tất cả các thành viên phải đóng đủ ngay khi thành lập doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần
bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty cổ phần có cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông.
- Vốn bổ sung: Là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận do nhà nước bổ
sung bằng phân phối hoặc sáp nhập, cơ cấu lại doanh nghiệp, do sự đóng góp của các
thành viên, do bán trái phiếu …
chiếm tỷ lệ lớn nghĩa là vốn tự có lớn. Hay nói cách khác các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh chủ yếu bằng vốn tự có của mình. Do vậy doanh nghiệp ít phải trả lãi vay
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
đặc điểm này đã tạo cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn hơn doanh nghiệp
thương mại.
1.2.4.1.3 Vai trò của vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh có các vai trò sau:
- Vốn kinh doanh là điều kiện hình thành và tồn tại của doanh nghiệp.
- Vốn kinh doanh là cơ sở điều kiện để doanh nghiệp xây dựng chiến lược và
kế hoạch kinh doanh.
- Vốn kinh doanh là tiêu thức để người ta phan loại quy mô của doanh nghiệp.
- Quản trị vốn kinh doanh quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu quản trị vốn kinh doanh tốt sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh
nghiệp.
1.2.4.1.4. Nội dung quản trị vốn kinh doanh.
-Xác định nhu cầu vốn kinh doanh.
Phải tính toán nhu cầu từng loại vốn cụ thể.
Đối với doanh nghiệp sản xuất nhu cầu về vốn cố định là rất lớn bởi vậy
người lãnh đạo công ty phải biết cách phân bổ tính toán nhu cầu về sử dụng nguồn
vốn như: nhu cầu vốn để mua nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm, nhu cầu vốn để
sửa chữa máy móc, nhu cầu vốn để mua máy móc mới, nhu cầu trả tiền lương cho
ngtười lao động …
- Huy động các nguồn vốn đầy đủ cho hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp.
- Phân phối vốn và sử dụng vốn kinh doanh vào các hoạt động kinh doanh
khác nhau.
- Giám sát tình hình sử dụng vốn và bảo toàn vốn kinh doanh .
1.2.4.2 . Quản trị chi phí kinh doanh.
1.2.4.2.1. Khái niệm chi phí kinh doanh.
1.2.4.2.2.4 – Phân loại theo nội dung của chi phí.
- Chi phí mua hàng là khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người bán
hàng cho doanh nghiệp.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
_ Chi phí phí lưu thông là các khoản tiền phải trả khi lưu chuyển hàng hoá từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng .
- Tiền nộp thuế và mua bảo hiểm cho hàng hoá, tài sản của doanh nghiệp.
1.2.4.3 - Nội dung cơ bản của quản trị chi phí kinh doanh.
Quản trị chi phí kinh doanh gồm có các nội dung cơ bản sau:
- Phân loại chi phí kinh doanh để xem chi phí nào đáng chi và ngược lại chi
phí nào không đáng chi.
- Lập kế hoạch sử dụng chi phí kinh doanh.
- Giám sát kiểm tra các khoản chi phí.
- Phân tích chi phí thực tế với chi phí kế hoạch hoặc với định mức chi phí để
tìm ra nguyên nhân tăng hoặc giảm chi phí.
- Đưa ra các biện pháp giảm chi phí như:
+ Biện pháp giảm chi phí mua hàng.
Giảm đơn giá mua cho một đơn vị hàng hoá bằng các biện pháp sau: Chọn
người bán có nguồn hàng có chất lượng cao giá hợp lý, đa dạng hoá nguồn mua để
giảm rỉu ro trong mua hàng, tìm người mua có khă năng giao hàng đúng hạn và ổn
định.
+ Biện pháp giảm chi phí tiền mua bảo hiểm cho hàng hoá, tài sản của doanh
nghiệp như: Chọn người bán bảo hiểm có uy tín khi gặp rủi ro được bồi thường, bảo
hiểm đúng hàng hoá,tài sản kinh doanh của doanh nghiệp, tính toán số tiền bảo hiểm
một cách hợp lý, để nếu có xảy ra tổn thất thì được bồi thường mà không làm tăng số
tiền bảo hiểm. Lựa chọn điều kiện bảo hiểm phù hợp với bản chất của hàng hoá kinh
doanh.
+ Biện pháp giảm chi phí lưu thông như: Giảm chi phí tổn thất vận tải , giảm
chi phí thu mua bảo quản hàng hoá, giảm chi phí hao hụt hàng hoá, giảm chi phí quản
thêm, giảm bớt, điều động thuyên chuyển, thăng chức, giáng chức.
- Tổ chức tuyển dụng và bố trí nhân viên.
- Ra các quyết định liên quan đến việc điều động, thuyên chuyển, thăng
chức, giáng chức các công việc đến nhân sự.
1.2.4.3.2 – Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực có các nội dung sau:
- Lựa chọn đối tượng đào tạo: Ai là người được đi đào tạo trên cơ sở phân
loại và đánh giá lao động. Xác định điểm mạnh, điểm yếu của nhân viên.
- Xác định các phương pháp đào tạo:
+ Dự kiến vị trí công việc của đối tượng đào tạo trong tương lai gần.
+ Tổ chức đào tạo: Thời gian đào tạo ngắn hay dài.
• Phương pháp đào tạo có 2 phương pháp:
• Đào tạo tại chỗ: Doanh nghiệp mời giáo viên và mở lớp tại doanh nghiệp.
• Đào tạo bên ngoài: Cử cán bộ nhân viên tham gia các khoá huấn luyện tu
nghiệp. Học tập ở bên ngoài doanh nghiệp như ở nước ngoài, viện nghiên cứu …
- Đào tạo một cách tổng thể cả chuyên môn nghiệp vụ, thể chất văn hoá, tinh
thần trách nhiệm nên được xây dựng thành các phong trào chương trình cụ thể.
Trong doanh nghiệp có nhiều cách để quản trị nhân sự nhưng quan trọng hơn
cả và cũng là phương pháp quản trị nhân lực mà các doanh nghiệp thường hay sử
dụng đó là quản trị nhân lực theo chế độ:
- Chế độ đối với người lao động gồm có 2 chế độ đó là:
+ Chế độ làm việc.
+ Chế độ đãi ngộ.
* Chế độ làm việc liên quan đến những yêu cầu đặt ra của doanh nghiệp đối
với người lao động. Người lao động có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện các yêu
cầu đó. Gồm có các chế độ sau:
- Thời gian làm việc như: Giờ làm việc, ca làm việc, ngày làm việc …
- Thời gian nghỉ ngơi như: Nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ lễ, nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ
nhập này hay không.
1.3 - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở CÁC
DOANH NGHIỆP.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp
những điều kiện, yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
đến hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.1.Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Bao gồm các yếu tố sau :
Yếu tố thuộc về chính trị, luật pháp. Đây là yếu tố nói đến sự ổn định của
chính trị có vai trò lãnh đạo của đảng dựa trên sự đầy đủ của hệ thống pháp luật buộc
mọi thành viên tham gia kinh doanh đều phải tuân thủ và thực thi theo pháp luật. Các
yếu tố văn hoá, xã hội, nói đến nề nếp văn hoá, phong tục tập quán ảnh hưởng tới
hành vi mua sắm của khách hàng. Mỗi vùng miền có một phong tục tập quán khác
nhau do vậy có hành vi mua sắm khác nhau. Các yếu tố về điều kiện tự nhiên. Có ảnh
hưởng rất lớn tới quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nếu thời tiết xấu
sẽ làm tăng chi phí kinh doanh của công ty. Bên cạnh các yếu tố kể trên còn có những
yếu tố như: Các yếu tố về kỹ thuật và công nghệ, các yếu tố về kinh tế, cơ sở hạ tầng
và quan hệ với các tổ chức khác. Cũng có ảnh hưởng khá lớn tới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.3.2.Các yếu tố thuộc môi trường tác nghiệp.
Bao gồm các yếu tố sau :
Các nhà cung ứng là người luôn cung cấp nguyên vật liệu đảm bảo cho quá
trình sản xuất được diễn ra liên tục. Các nhà môi giới trung gian cũng giữ một vai trò
khá quan trọng đối vơi doanh nghiệp họ là những người có thể giúp doanh nghiệp tìm
được những nhà cung ứng đáp ứng được nhu cầu của mình. Ngoài 2 yếu tố trên ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất của công ty còn có các nhân tố sau:Khách hàng, đối thủ
cạnh tranh, công chúng.
1.3.3.Các yếu tố từ bên trong.
doanh nghiệp phải hành động theo những chỉ dẫn của pháp luật và chế độ quản lý
kinh tế của nhà nước. Nó có ảnh hưởng đến cả những phương pháp, thủ pháp mà các
nhà lãnh đạo sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận.
Vì vậy, các doanh nghiệp phải có các biện pháp để khai thác các nhân tố ảnh
hưởng này.
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
Chương 2 - THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ KINH DOANH TẠI CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN XÂY DỰNG TUẤN HẢI.
2.1- LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA CÔNG TY.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty trách nhiệm hữu hạn
xây dựng tuấn hải.
Qua nhiều thời gian nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu xây dựng ở địa phương và
các huyện lân cận trong tỉnh Hoà Bình. Ông Mai Quang Hiểu giám đốc Công ty trách
nhiệm hữu hạn xây dựng (TNHHXD) Tuấn Hải, đã viết đơn gửi lên sở kế hoạch và
đầu tư tỉnh Hoà Bình để xin thành lập công ty TNHHXD Tuấn Hải.
Địa chỉ : Khu 11 Thị trấn Chi Nê - Lạc Thuỷ - Hoà Bình.
Sau thời gian nghiên cứu và xem xét đơn đề nghị cùng với tình hình thực tế về
nhu cầu của các cơ quan đoàn thể cũng như nhu cầu của nhân dân trong vùng, và
quan trọng hơn là tình hình tài chính của Giám Đốc công ty có đủ điều kiện để thành
lập công ty. Do vậy, sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hoà Bình đã xét duyệt và ký quyết
định thành lập Công ty cho Ông Mai Quang Hiểu. Công ty (TNHHXD) Tuấn Hải
được thành lập theo đăng ký kinh doanh số 25 . 02 . 000074 ngày 31 tháng 01 năm
2002 của sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hoà Bình.
Với ngành nghề kinh doanh là: Xây dựng các công trình dân dụng, công
nghiệp, giao thông thuỷ lợi, mua bán nguyên vật liệu xây dựng, mua bán vật tư ngành
điện, lắp đặt các thiết bị điện dân dụng.
Cùng với số vốn điều lệ là: 1.000.000.000. đồng. và công ty đã được cấp mã
số thuế là: 5400206607.
Công ty TNHHXD Tuấn Hải có số vốn kinh doanh là 5.000.000.000. đồng.
của công ty đã có bước phát triển vượt bậc so với 2 năm trước, và con số này đã đạt
5.146.270.079 nghìn đồng.
Cùng với những kết quả kinh doanh mà công ty đã đạt được, công ty ngày
càng sẽ mở rộng thêm quy mô kinh doanh của mình.
Để làm được điều đó công ty đã tổ chức lớp đào tạo chuyên môn nghiệp vụ
cho những người lao động trong công ty như: gửi cán bộ quản lý đi học, mở lớp đào
tạo nghiệp vụ cho người lao động…Vì công ty là công ty TNHH nên số lượng lao
động biên chế trong công ty chiếm một số lương rất ít, chủ yếu là những người lao
Khoàng Thị Ngân Lớp: KV16
Chuyên đề tốt nghiệp Công ty TNHH Xây dựng Tuấn Hải
động theo mùa vụ. Do vậy bộ máy tổ chức quản lý của công ty được phân bố rất đơn
giản
Mỗi một bộ phận có một chức năng nhiệm vụ riêng .
Giám đốc là người đứng đầu công ty quản lý bao quát mọi mặt hoạt động kinh
doanh của công ty. Là người lập ra chiến lược kinh doanh của công ty. Giám đốc
chính là người quyết định định hướng hoạt động kinh doanh của công ty , đưa công
ty ngày càng phát triển, đảm bảo tính kinh tế trong kinh doanh. Để làm tốt được chức
năng nhiệm vụ trên Giám đốc luôn có bên mình một trợ thủ đắc lực đó là phó giám
đốc. Phó giám đốc cũng giữ một vai trò rất quan trọng trong công ty , ông là người
luôn kề vai sát cánh cùng Giám đốc để đưa công ty phát triển một cách vững vàng .
Phó giám đốc là người thừa lệnh giám đốc thực hiện các công việc khi giám đốc đi
vắng . Nhiều khi phó giám đốc là một người có thể thay giám đốc giải quyết một số
công việc cụ thể như : ký các hợp đồng kinh tế , bàn giao công trình…
Bên cạnh giám đốc và phó giám đốc còn có hai bộ phận có vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển của công ty đó là : Phòng tài chính và phòng kỹ thuật .
Phòng tài chính giữ vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của công
ty . Nó có nhiệm vụ cung cấp kịp thời và hợp lý nguồn tài chính cho mọi hoật động
kinh doanh của công ty . Phòng tài chính có nhiệm vụ phải kiểm tra báo cáo tình hình
tài chính của công ty qua các kỳ kinh doanh của công , để báo cáo cho giám đốc về
tài chính của mình .