1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Lý Thị Hàm Định hướng giá trị của sinh viên chuyên ngành
Công tác xã hội trường đại học Lao động-Xã
hội
Luận văn ThS. Tâm lý học: 60.31.80
Nghd. :TS. Hoàng Mộc Lan
1.2.1. Lý luận về giá trị 12
1.2.2. Lý luận về định hƣớng giá trị. 20
1.3. Lý luận về nhân cách 27
1.3.1. Khái niệm nhân cách 27
1.3.2. Đặc điểm nhân cách của sinh viên 31
1.4. Định hƣớng giá trị nhân cách. 33
1.4.1 Khái niệm định hƣớng giá trị nhân cách 33
1.3.4. Định hƣớng giá trị nhân cách của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội 34
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 38
2.1. Vài nét về trƣờng đại học Lao động - Xã hội. 38
2.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu 39
2.2.1. Khách thể nghiên cứu - sinh viên. 39
2.2.2. Khách thể nghiên cứu - giảng viên 40
2.3 Tiến trình nghiên cứu 41
3
2.4. Các phƣơng pháp nghiên cứu: 42
2.4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu 42
2.4.2. Phƣơng pháp quan sát 42
2.4.3. Phƣơng pháp đàm thoại 42
2.4.4. Phƣơng pháp điều tra bảng hỏi. 43
2.4.5. Phƣơng pháp thống kê toán học: 46
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3. Thực trạng định hƣớng giá trị nhân cách của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội
Trƣờng Đại học Lao động – Xã hội 49
3.1. Định hƣớng của sinh viên về phẩm chất chính trị- tƣ tƣởng 49
3.2. Định hƣớng của sinh viên về phẩm chất đạo đức 54
3.3. Định hƣớng của sinh viên về năng lực Công tác xã hội 62
3.3.1. Định hƣớng về năng lực chuyên môn. 62
3.3.2. Định hƣớng về kỹ năng Công tác xã hội. 69
thu hút sự quan tâm của toàn xã hội và các nhà khoa học. Trong điều kiện kinh tế
thị trƣờng hội nhập mở cửa, sự biến động của các giá trị, thang giá trị làm phức
tạp thêm quá trình lựa chọn chúng từ phía các nhóm, các tầng lớp xã hội trong
đó có các sinh viên trong các trƣờng đại học. Những vấn đề nhƣ giáo dục giá trị,
giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống, khủng hoảng giá trị, định hƣớng
giá trị nhân cách của thế hệ trẻ… luôn đƣợc nhắc đến trong nhiều công trình
khoa học và cũng là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn.
Những giá trị mà con ngƣời lựa chọn, đánh giá và theo đuổi sẽ quy định
hoạt động học tập, lao động, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật và sẽ
đƣợc thể hiện rõ trong lao động. Định hƣớng giá trị nhƣ thế nào thì phẩm chất
năng lực nhƣ thế và tính thiết thực, hiệu quả của lao động phụ thuộc vào phẩm
chất, năng lực bên trong của ngƣời lao động. Công tác xã hội là một lĩnh vực
hoạt động rất mới mẻ ở Việt Nam. Đào tạo Công tác xã hội mới đƣợc chính thức
công nhận gần đây, do vậy việc tìm hiểu thực trạng định hƣớng giá trị nhân cách
của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội trƣờng Đại học Lao động - Xã hội
có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với công tác giáo dục đào tạo của nhà trƣờng.
Nắm bắt đƣợc những giá trị nào trong hệ thống giá trị nhân cách đang đƣợc sinh
5
viên đề cao, theo đuổi sẽ giúp cho quá trình giáo dục xây dựng ở sinh viên
những giá trị nhân cách chân chính, hình thành những phẩm chất năng lực phù
hợp với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc cũng nhƣ
yêu cầu của ngành Công tác xã hội. Với lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên
cứu: ―Định hƣớng giá trị nhân cách của sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội
trƣờng Đại học Lao động - Xã hội‖.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng định hƣớng giá trị nhân cách của sinh viên chuyên
ngành Công tác xã hội trƣờng Đại học Lao động - Xã hội.
- Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao chất lƣợng giáo
dục đào tạo sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội.
định hƣớng năng lực nghề nghiệp chƣa thật rõ ràng cần phải điều chỉnh trong
quá trình giáo dục đào tạo ở nhà trƣờng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phƣơng pháp đàm thoại, phỏng vấn.
- Phƣơng pháp quan sát.
- Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phƣơng pháp chuyên gia.
- Phƣơng pháp thống kê toán học.
7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề định hƣớng giá trị
1.1.1. Tình hình nghiên cứu vấn đề định hướng giá trị trên thế giới
Thuật ngữ ―giá trị‖ lần đầu tiên đƣợc hai nhà khoa học Thomas và
Znaniecki đề cập đến là năm 1912 trong tác phẩm ―Ngƣời nông dân Ba Lan ở
châu Âu và châu Mỹ‖. Từ đó vấn đề giá trị và định hƣớng giá trị đã đƣợc các
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đặc biệt từ những thập kỷ 70, 80 trở lại đây.
Một khối lƣợng đồ sộ các công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh
khác nhau của vấn đề định hƣớng giá trị đã đƣợc công bố. Một số hƣớng chính
nghiên cứu mà các nhà khoa học tập trung vào, đó là:
Hƣớng thứ nhất, các nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu quá trình xuất hiện,
phát triển của định hƣớng giá trị cá nhân qua các giai đoạn lứa tuổi, ở những cấp độ
tâm lý khác nhau dƣới ảnh hƣởng của những thay đổi trong xã hội. Tiêu biểu cho
hƣớng nghiên cứu này là các nhà tâm lý học, xã hội học của Liên Xô trƣớc đây
E.F. Rƣbalkô và N.A. Volkova đã nghiên cứu sự phát triển của định hƣớng
giá trị ở học sinh cuối phổ thông trung học và sinh viên [40]
Ngoài những nghiên cứu trên, các nhà khoa học còn đặc biệt quan tâm đến
việc nghiên cứu định hƣớng nghề nghiệp ở thế hệ trẻ: thế hệ trẻ quan niệm nhƣ
thế nào về vấn đề nghề nghiệp, giá trị nào có vai trò quan trọng trong việc chọn
nghề, mối liên hệ giữa định hƣớng nghề nghiệp và mức độ thành công của việc
học nghề…? những nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
H.Perho- nhà tâm lý học Phần Lan – đã tiến hành nghiên cứu vấn đề ―định
hƣớng nghề nghiệp và nghệ thuật sƣ phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông‖
Vấn đề định hƣớng nghề nghiệp cũng đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều ở
Liên Xô cũ và các nƣớc nhƣ Đức, Nhật Bản, Mỹ…Các công trình nghiên cứu
này đã phục vụ đắc lực cho công tác hƣớng nghiệp và dạy nghề ở nhiều nƣớc
trên thế giới.
9
Một hƣớng nghiên cứu khác nữa là hƣớng nghiên cứu mối quan hệ giữa
định hƣớng giá trị và hành vi, vai trò thúc đẩy của định hƣớng giá trị đối với
hành vi của con ngƣời. (Iađov V.A. [43], Bobneva M.I [44]…]
Hƣớng thứ tƣ là nghiên cứu vấn đề giáo dục giá trị. Trong mấy chục năm
trở lại đây, vấn đề giáo dục giá trị đƣợc nhiều tổ chức, nhiều nƣớc trên thế giới
quan tâm. Từ năm 1995, Liên Hiệp Quốc bắt đầu triển khai ―chƣơng trình giáo
dục những giá trị sống‖ ở 62 quốc gia trên thế giới [4,tr.10]
Ở các nƣớc Đông Nam Á nhƣ Thái Lan, Philipin, Inđônêsia… vấn đề giáo
dục giá trị đƣợc Chính phủ xem là một trong những nhân tố cơ bản của sự phát
triển quốc gia. Việc xác định mục tiêu, chƣơng trình và cách tiến hành giáo dục
giá trị đang đƣợc xây dựng và tiến hành. Trong điều kiện hội nhập khu vực và
toàn cầu, xu hƣớng chung của các nƣớc này là kết hợp các giá trị truyền thống và
giá trị hiện đại, cần nghiên cứu kỹ các giá trị cơ bản để tuyên truyền giáo dục.
Hƣớng thứ năm là hƣớng nghiên cứu vị trí, vai trò của định hƣớng giá trị
trong cấu trúc nhân cách, mối quan hệ giữa định hƣớng giá trị với các đặc điểm
tâm lý cá nhân (Volkova N.A. [41], Zđravomƣxlov A.G. [36]…)
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, định hƣớng giá trị là
tham gia của nhiều nhà khoa học có tiên tuổi, đƣợc tiến hành ở cả ba miền Bắc,
Trung, Nam. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những đặc trƣng trong định hƣớng giá
trị của con ngƣời Việt Nam đƣơng thời, những nét tích cực và tiêu cực của nó;
xu thế phát triển nhu cầu của con ngƣời Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã
hội và từ đó các tác giả đề xuất hệ thống giá trị cần giáo dục cho con ngƣời Việt
Nam để phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Ngoài ―định
hƣớng giá trị chung‖ các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến ―định hƣớng giá trị
nhân cách‖ và ―định hƣớng giá trị nghề nghiệp‖. Sáu giá trị nhân cách nổi bật
của con ngƣời Việt Nam thời kỳ đổi mới, mở cửa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nƣớc, đó là: có trình độ học vấn rộng, sống có tình nghĩa, có khả năng tổ
11
chức quản lý, làm việc tận tâm có trách nhiệm, sáng tạo trong học tập lao động,
biết nhiều nghề thạo một nghề. [12].
Năm 1998 – 2000, Trung tâm nghiên cứu Tâm lý học – Sinh lý học lứa tuổi
(thuộc viện khoa học giáo dục) đã tiến hành nghiên cứu đề tài ―Xác định mức độ
tác động định hƣớng của một số giá trị đối với hoạt động ở học sinh trung học
phổ thông‖. Đề tài đƣợc tiến hành trên nhóm mẫu 420 học sinh Trung học phổ
thông ở Hà Nội và Hải Phòng. Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đƣa ra một
số kiến nghị hữu ích đối với công tác giáo dục giá trị và giáo dục hƣớng nghiệp
cho học sinh [4, tr.101-104]
Năm 2005, Đề tài nghiên cứu khoa học ―Nghiên cứu định hƣớng giá trị của
học sinh trung học trong giai đoạn hiện nay‖ của Đào Thị Oanh trƣờng Đại học
sƣ phạm Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm mẫu 8382 học sinh bậc
trung học cơ sở và trung học phổ thông. Ở các địa phƣơng gồm cả thành phố và
nông thôn ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam. Kết quả cho thấy học sinh định
hƣớng vào các giá trị đạo đức nhân cách truyền thống, tuy nhiên cần giáo dục
cho học sinh các giá trị quan trọng và cần thiết đối với con ngƣời trong xã hội
hiện đại. [13, tr. 39- 45].
Ngoài các công trình đã nêu trên, trong thời gian gần đây rất nhiều luận án
đạo đức học, giáo dục học, tâm lý học…Tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu cụ thể mà
ngƣời ta đƣa ra định nghĩa khác nhau.
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ Xô Viết (1979) thì ―giá trị‖ đƣợc định
nghĩa là ―sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tƣợng xung quanh đối
với con ngƣời, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị đƣợc xác
định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên của các đối tƣợng mà bởi
tính chất cuốn hút của các đối tƣợng ấy vào phạm vi hoạt động sống của con
ngƣời, phạm vi của các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn
mực. Tiêu chí và cách thức đánh giá, ý nghĩa nói trên biểu hiện trong các nguyên
tắc chuẩn mực đạo đức, lý tƣởng, tâm thế, mục đích‖ [5]
13
Theo từ điển tiếng Đức ―giá trị là ý nghĩa tích cực của một chủ thể hay
khách thể trong mối quan hệ với những chủ thể hay khách thể khác‖
Theo từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên ―giá trị‖ đƣợc định nghĩa là:
- Làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa, là cái đáng quý về mặt nào đó.
- Tác dụng, hiệu lực.
- Lao động xã hội kết tinh trong sản phẩm hàng hoá.
- Số đo của một đại lƣợng.
Các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau khi nghiên cứu ―giá trị‖
cũng có những ý kiến khác nhau:
Với nhà kinh tế học ―giá trị là lao động xã hội trừu tƣợng kết tinh trong
sản phẩm hàng hoá‖
Về mặt đạo đức học: ―giá trị là những phẩm chất tốt hay xấu của con ngƣời‖
Các nhà xã hội học tiếp cận ―giá trị‖ dựa trên mối quan hệ giữa chủ thể
của hoạt động xã hội và đối tƣợng của nó. Chỉ có trong mối quan hệ biện chứng
giữa hoạt động có ý thức của con ngƣời với các khách thể của nó, khái niệm ―giá
trị‖ xã hội mới trở nên có ý nghĩa thực sự. M. Weber đã cho rằng: ―Bất kỳ một
hoạt động nào của cá nhân có ý thức đều kèm theo một giá trị‖
Các nhà Tâm lý học cũng đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ―giá trị‖:
cách.‖ [13, tr.39]
Nhƣ vậy giá trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ giữa con ngƣời và môi
trƣờng xung quanh. Giá trị là một hiện tƣợng xã hội, lịch sử.
Tuy nhiên, còn có sự tranh luận và cách luận giải khác nhau về khái niệm
giá trị. Một số tác giả cho rằng giá trị không thể tách rời sự đánh giá, xem giá trị
và đánh giá là tín hiệu thông tin hai mặt của nội dung khách quan - chủ quan.
Một số tác giả khác khẳng định, giá trị tồn tại một cách khách quan, không thể
xem nó nhƣ là kết quả của sự đánh giá, của ý thức con ngƣời.
V.P.Tugarinov ủng hộ quan điểm cho rằng, bản chất của giá trị vừa khách
quan vừa chủ quan. Theo ông, thuộc tính của sự vật tự nó không phụ thuộc vào
15
chủ thể, nhƣng vì chúng đƣợc xem xét trong mối liện hệ với nhu cầu, hứng thú
của con ngƣời, nghĩa là nhƣ những giá trị, nên chúng là sự thống nhất giữa cái
khách quan và cái chủ quan.
Ở Việt Nam,Trần Trọng Thuỷ cũng đồng tình với quan điểm này. Trong
bài báo bàn về giá trị và định hƣớng giá trị, ông viết: ―Khi nói về khái niệm giá
trị có thể phân biệt hai ý nghĩa cơ bản của nó: a) Giá trị với nghĩa là các sự vật,
hiện tƣợng, tƣ tƣởng, thuộc tính của các sản phẩm vật chất và tinh thần… đang
tồn tại một cách khách quan mà bản chất của chúng là ở cái đặc tính ―có giá trị‖
và chúng tồn tại không phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan của con ngƣời; b)
Giá trị với ý nghĩa là tính có ý nghĩa đối với cá nhân‖ [31, tr.12]
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ những sự vật, hiện tƣợng dẫn đến sự tiến
bộ hoặc thể hiện cái tiến bộ mới có thể đƣợc xem là giá trị. Các giá trị xã hội
biểu hiện sự khác biệt về giai cấp. Giá trị của một giai cấp nhất định phù hợp với
hệ thống nhu cầu, lợi ích của giai cấp đó.
Các giá trị cá nhân là những yếu tố điều chỉnh hành vi, là sự cụ thể hoá
của các giá trị xã hội, hình thức cụ thể hoá này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó có địa vị của cá nhân trong hệ thống xã hội và mức độ phát triển của nhân
cách. Hoạt động hữu ích xã hội của cá nhân có đƣợc nhờ vào việc cá nhân trực
khi đƣợc tiếp nhận, giá trị trở thành tiêu chuẩn của sự lựa chọn và đánh giá của
chủ thể, định hƣớng, kích thích hành động của chủ thể.
Qua nghiên cứu các quan niệm về giá trị của các tác giả nêu trên và kế
thừa các quan niệm đó, chúng tôi cho rằng: giá trị là những sự vật, hiện tượng
hoặc những thuộc tính, những khía cạnh của chúng, những mối quan hệ, những tư
tưởng cần thiết, hữu ích, có ý nghĩa, có tầm quan trọng đối với con người với tư
cách là những mục tiêu, tiêu chuẩn định hướng hoạt động của con người hoặc
những phương tiện để đạt các mục tiêu đó, được đánh giá xuất phát từ những điều
kiện xã hội- lịch sử cụ thể và phụ thuộc vào sự phát triển nhân cách cá nhân.
17
1.2.1.2. Phân loại giá trị
Có nhiều cách phân loại giá trị. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách
tiếp cận mà các tác giả nêu lên những tiêu chuẩn phân loại khác nhau về giá trị.
Phổ biến nhất là cách phân chia giá trị thành hai loại: giá trị vật chất và
giá trị tinh thần (tƣơng ứng với hai loại nhu cầu: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh
thần của con ngƣời)
Giá trị vật chất thoả mãn những nhu cầu vật chất của cá nhân và cộng
đồng nhƣ tiện nghi sinh hoạt, nhà cửa, tiền bạc…Trong giá trị vật chất ngƣời ta
đề cập đến giá trị kinh tế và giá trị sử dụng.
Giá trị tinh thần bao gồm nhiều loại: giá trị nhận thức (sự thật, chân lý)
giá trị đạo đức (cái thiện), giá trị thẩm mỹ (cái đẹp), giá trị tôn giáo (đức tin), giá
trị luật pháp (cái công lý, hợp pháp…)
Tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh chung của xã hội và điều kiện hoàn
cảnh của từng ngƣời mà hai loại giá trị vật chất và tinh thần có ý nghĩa khác
nhau đối với cộng đồng, cá nhân.
Một cách phân loại khác đƣợc sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về giá
trị và định hƣớng giá trị là phân chia các giá trị ra thành giá trị mục đích và giá
trị công cụ. Theo M.Rokeach, nhà xã hội học ngƣời Mỹ, giá trị mục đích là
những tình trạng lý tƣởng đáng để cá nhân và xã hội hƣớng tới, còn giá trị công
phần của nó, các mối quan hệ giữa các thành phần, các yếu tố tạo nên một cấu
trúc toàn vẹn. Cũng có ngƣời mô tả một hệ thống giá trị theo chức năng của từng
thành phần cũng nhƣ chức năng chung của nó.
Hệ thống giá trị mang tính lịch sử, chịu sự chế ƣớc của lịch sử. Trong hệ
giá trị bao gồm các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và cả những nhân tố có thể
có trong tƣơng lai. Trong hệ giá trị bao hàm các giá trị truyền thống, các giá trị
thời đại, các giá trị có tính nhân loại, các giá trị có tính dân tộc, tính giai cấp hay
tính cộng đồng, các giá trị có tính lý tƣởng và tính hiện thực…
19
Từ thời xa xƣa, loài ngƣời đã đƣa ra hệ thống giá trị chân, thiện, mỹ cho
đến nay giá trị đó vẫn là mục tiêu, là phẩm giá cho con ngƣời vƣơn tới.
Khổng Tử của Trung Quốc cổ đại đã đƣa ra hệ giá trị nhân - nghĩa - lễ - trí – tín.
Hồ Chí Minh lấy hệ giá trị nhân - nghĩa - trí - dũng - liêm và các giá trị
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ, trung với nƣớc, hiếu với dân làm giá trị
căn bản của con ngƣời Việt Nam.
UNESCO coi hệ thống giá trị gồm bốn nhóm:
- Nhóm các giá trị cốt lõi: hoà bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khoẻ,
an ninh, tự trọng, công lý, tình nghĩa, sống có mục đích niềm tin, tự lập, nghề
nghiệp, học vấn.
- Nhóm các giá trị cơ bản: sáng tạo, tình yêu, chân lý.
- Nhóm các giá trị có ý nghĩa: cuộc sống giàu sang và cái đẹp.
- Nhóm các giá trị không đặc trƣng: địa vị xã hội.
Nhƣ vậy, có sự khác nhau về hệ thống giá trị trong các giai đoạn lịch sử
và cũng có sự khác nhau giữa hệ thống giá trị trong cộng đồng này với hệ thống
giá trị của cộng đồng khác. Song hệ thống giá trị có tính ổn định tƣơng đối. Quá
trình chuyển từ hệ thống giá trị này sang hệ thống giá trị khác trong lịch sử xã
hội là quá trình chuyển biến dần dần, có sự tích luỹ, kế thừa và phát triển, có sự
chọn lọc và đấu tranh. Có hệ thống giá trị chung của nhóm, gia đình, xã hội, có
hệ thống giá trị riêng của từng cá nhân. Sự vận động và phát triển của lịch sử xã
động đƣợc tiến hành theo những thang giá trị, thƣớc đo giá trị cụ thể nào đó sẽ
tạo ra những giá trị nhất định, phục vụ cho sự thoả mãn nhu cầu lợi ích của con
ngƣời. Đồng thời, trong khi hoạt động tạo ra những giá trị, con ngƣời lại góp
phần khẳng định, củng cố, bổ sung hoặc thay đổi giá trị
1.2.2. Lý luận về định hướng giá trị.
1.2.2.1. Khái niệm định hướng giá trị
Định hƣớng giá trị là một vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học thuộc nhiều
lĩnh vực nghiên cứu, là trung tâm chung, nơi mà các nhà xã hội học, tâm lý học
21
và tâm lý học xã hội gặp nhau. Tuy nhiên định hƣớng giá trị là gì? Nó đƣợc hình
thành nhƣ thế nào và theo cơ chế nào nó ảnh hƣởng đến hành vi và hoạt động
của con ngƣời? Xung quanh những câu hỏi này vẫn chƣa có câu trả lời chung
thống nhất.
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ Xô Viết do Nguyễn Thế Hùng dịch, định
hƣớng giá trị đƣợc hiểu là: ―thái độ lựa chọn của con ngƣời đối với các giá trị vật
chất và tinh thần; một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích đƣợc biểu hiện trong
hành vi của con ngƣời‖.
Theo ―từ điển Tâm lý học‖ xuất bản năm 1985 do A.V.Petrovxki và M. G.
Iarosevxki chủ biên, định hƣớng giá trị có hai nghĩa:
Thứ nhất, định hƣớng giá trị là cơ sở tƣ tƣởng, chính trị, đạo đức, thẩm
mỹ và những cơ sở khác của sự đánh giá hiện thực xung quanh và định hƣớng
của chủ thể trong hiện thực đó.
Thứ hai, định hƣớng giá trị là phƣơng pháp mà chủ thể dùng để phân hoá
các khách thể theo mức độ quan trọng của chúng. Định hƣớng giá trị đƣợc hình
thành trong quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội và đƣợc thể hiện trong mục
đích, lý tƣởng, niềm tin, hứng thú… của nhân cách.
Nhƣ vây, theo hai cuốn từ điển nêu trên, cách hiểu định hƣớng giá trị
không hoàn toàn thống nhất.
Nhà xã hội học I.X.Kon lại đồng nhất định hƣớng giá trị với tâm thế của
thú‖, ―tấm thế‖.
Một tác giả khác, M.V.Demin hiểu định hƣớng giá trị từ quan điểm của
thuyết thái độ. Theo ông, định hƣớng giá trị vừa là một biểu hiện cụ thể của thái
độ của con ngƣời đối với hiện thực, vừa là hệ thống tâm thế điều chỉnh hành vi.
Cùng chia sẻ quan điểm này còn có V.V.Bodzinxkaia: ―định hƣớng giá trị, hệ
thống thái độ, hệ thống các tâm thế định hình là bộ máy điều chỉnh hành vi của
cá nhân. Trong các tâm thế định hình, một số có ảnh hƣởng rất lớn, bởi vì chúng
đƣợc hình thành từ thái độ đối với các yếu tố của hiện thực có giá trị đặc biệt đối
23
với cá nhân. Chính chúng tạo nên một hệ thống tâm thế tƣơng đối ổn định hay
còn gọi là định hƣớng giá trị của cá nhân, có vai trò tổ chức hành vi của cá nhân‖
[42, tr.50 ]
Thái Duy Tuyên cũng xuất phát từ quan điểm này đƣa ra định nghĩa: ―định
hƣớng giá trị là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị vật chất và tinh thần, là một hệ
thống tâm thế, niềm tin, sở thích của con ngƣời đối với một giá trị nào đó. Định
hƣớng giá trị là một trong những yếu tố quan trọng nhất của cấu trúc nhân cách,
đƣợc hình thành và củng cố bởi năng lực nhận thức, bởi kinh nghiệm sống của
cá nhân qua sự trải nghiệm lâu dài, giúp cá nhân tách cái có ý nghĩa, cái thiết
thân đối với họ khỏi cái vô nghĩa, cái không bản chất‖ [32, tr.3]
B.I. Đođonov lại gắn định hƣớng giá trị với xu hƣớng cá nhân. Trên cơ sở
phân định các cơ chế của tính tích cực của con ngƣời thành chƣơng trình nhu cầu
cơ bản và chƣơng trình nhu cầu bổ sung, ông phân biệt các loại định hƣớng giá
trị sau:
1) Định hƣớng giá trị đơn giản đƣợc quy định bởi những nhu cầu ổn định,
2) Định hƣớng giá trị suy yếu đƣợc quy định bởi các chƣơng trình nhu cầu
tạm thời. Sau khi nhu cầu thoả mãn, các định hƣớng này lập tức biến mất.
3) Định hƣớng giá trị đang đƣợc tái tạo. Đây là những định hƣớng giá trị
đã suy yếu, nhƣng do đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần và đƣợc củng cố và trở nên
bền vững.
tiễn đối với định hƣớng giá trị.
Theo Phạm Minh Hạc thì định hƣớng giá trị đƣợc hiểu là: ―Khi mỗi dân
tộc, giai cấp, cộng đồng, từng con ngƣời chủ động vận hành hệ thống giá trị, thang
giá trị, thuớc đo giá trị trong hoạt động, giao tiếp, nhân cách, họ tạo ra định hƣớng
giá trị. Định hƣớng giá trị lấy cách hiểu về giá trị, cách đánh giá con ngƣời, xã hội,
tự nhiên…làm cơ sở cho mọi hoạt động của con ngƣời, một sự lựa chọn, một cách
nhìn, một điểm tựa của niềm tin, một mục đích của sự tiến tới [5, tr.137]
25
Tóm lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về định hƣớng giá trị. Một số
xem định hƣớng giá trị nhƣ mục đích sống, một số khác – nhƣ một hệ thống tâm
thế, thái độ, số khác nữa - nhƣ những nguyên tắc, tiêu chuẩn của hành vi. Song,
có thể rút ra những điểm chung cơ bản sau đây:
- Định hƣớng giá trị đƣợc hình thành trong quá trình cá nhân hay nhóm
tham gia vào các quan hệ xã hội với tƣ cách là chủ thể của các hoạt động hƣớng
vào các giá trị có ý nghĩa đối với cá nhân hay nhóm đó.
- Định hƣớng giá trị bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố nhận thức (đánh
giá), ý chí và cảm xúc (trải nghiệm) cũng nhƣ các khía cạnh đạo đức, thẩm mỹ
trong sự phát triển nhân cách.
- Định hƣớng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, nó quy định lối sống
của cá nhân, nhóm.
Từ sự phân tích các định nghĩa ở trên và từ mục đích nghiên cứu của
mình, chúng tôi cho rằng có thể đƣa ra cách hiểu định hƣớng giá trị nhƣ sau:
Định hướng giá trị là thái độ của con người đối với các giá trị tồn tại trong xã
hội, được biểu hiện ở sự nhận thức của con người về tầm quan trọng và ý nghĩa
của các giá trị đó đối với bản thân, ở sự điều chỉnh, thúc đẩy của chúng đối với
hành động của con người nhằm chiếm lĩnh các giá trị đó.
1.2.2.2. Quá trình hình thành định hướng giá trị
Quá trình hình thành định hƣớng giá trị là một quá trình phức tạp. Định
hƣớng giá trị đƣợc hình thành trong quá trình cá nhân hoặc nhóm tham gia vào hoạt