Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Hoàng diệu anh Nhu cầu âm nhạc của sinh viên
Luận văn thạc sĩ tâm lý học
Hà Nội - 2009
Đại học quốc gia hà nội
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7
3. Mục đích nghiên cứu 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Giả thuyết nghiên cứu 8
6. Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.1.1. Những nghiên cứu về nhu cầu ở nước ngoài 9
1.1.1.1. Nghiên cứu nhu cầu từ góc độ triết học 9
1.1.1.2. Quan điểm về nhu cầu của Henry Alexander Murray 10
1.1.1.3. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 14
1.1.1.4. Luận điểm của X.L. Rubinstêin 18
1.1.1.5. Luận điểm của A.G. Côvaliôp 19
1.1.1.6. Luận điểm của A.N. Leonchiep 21
1.1.2. Những nghiên cứu nhu cầu ở Việt Nam 23
1.2. Một số vấn đề lý luận về nhu cầu thưởng thức âm nhạc của
sinh viên 24
1.2.1. Lý luận về nhu cầu 24
1.2.1.1. Khái niệm nhu cầu 24
1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản của nhu cầu 26
1.2.1.3. Phân loại nhu cầu 27
3
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHU CẦU
THƯỞNG THỨC ÂM NHẠC CỦA SINH VIÊN 63
3.1. Nhận thức của sinh viên về âm nhạc 63
3.1.1. Đánh giá của sinh viên về vai trò của âm nhạc 63
3.1.2. Thái độ của sinh viên đối với âm nhạc 65
3.2. Thực trạng nhu cầu âm nhạc của sinh viên 67
3.2.1. Các loại hình âm nhạc sinh viên thưởng thức 67
3.2.2. Nội dung âm nhạc mà sinh viên thưởng thức 72
3.2.3. Phương thức thỏa mãn nhu cầu thưởng thức âm nhạc của sinh viên 78
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu âm nhạc của sinh viên 94
3.3.1. Các yếu tố sinh viên quan tâm khi thưởng thức âm nhạc 94
3.3.2. Mục đích đến với âm nhạc của sinh viên 95
3.4. Tác động của nhu cầu âm nhạc đến đời sống tinh thần của sinh viên . 99
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1. ĐHKHTN : Đại học Khoa học Tự nhiên
2. ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
3. SL : Số lượng
4. N : Tổng số
Biểu đồ 3.6: Thời gian thưởng thức âm nhạc của sinh viên theo học lực 83
Bảng 3.10: Địa điểm sinh viên thường nghe (xem) ca nhạc 84
Bảng 3.11: Lí do khiến sinh viên nghe (xem) ca nhạc ở rạp, nhà hát 86
Biểu đồ 3.7: Lí do khiến sinh viên nghe (xem) ca nhạc ở rạp, nhà hát 86
Bảng 3.12: Các cách thưởng thức âm nhạc của sinh viên 88
Biểu đồ 3.8: Các cách thưởng thức âm nhạc của sinh viên 90
Bảng 3.13: Sinh viên thường thưởng thức âm nhạc cùng ai? 91
Bảng 3.14: Các yếu tố sinh viên quan tâm khi thưởng thức âm nhạc 94
Bảng 3.15: Mục đích đến với âm nhạc của sinh viên 95
Bảng 3.16: Vì sao sinh viên không thích nghe nhạc 98
Bảng 3.17: Tác động của nhu cầu thưởng thức âm nhạc đến đời sống tinh
thần của sinh viên 100
6
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Âm nhạc là hiện tượng cổ xưa và phổ biến trong đời sống con người. Là
một trong những hình thái văn hóa của xã hội, cũng như những loại hình nghệ
thuật khác, âm nhạc thông qua những âm thanh đặc trưng nói lên tất cả những
gì mà trong cuộc sống con người đã trải qua. Nó gắn liền mọi khoảnh khắc,
mọi giai đoạn của đời người, từ lúc chào đời đến khi giã từ cuộc sống. Đó là
những khúc hát ru thuở ban đầu; những bài hát giao duyên, tỏ tình khi trưởng
thành; những bài ca sinh hoạt; những bài nhạc hiệu xuất trận; những bài hát
trong lao động, học tập và những khúc hát tiễn đưa con người trở về với cát
bụi… để đưa con người từ một tâm trạng này sang một tâm trạng khác. Âm
nhạc là hơi thở của cuộc sống, cần thiết cho cuộc sống như không khí cần cho
sự sống của mỗi người. Chính vì nhu cầu lớn lao này mà chỗ nào, lúc nào âm
nhạc cũng có mặt.
Âm nhạc không đơn thuần là giải trí mà còn góp phần hình thành, hoàn
lý học còn rất ít, chủ yếu là lồng ghép vào chung với nội dung nghiên cứu khác.
Với những lý do trên, chúng tôi thấy việc nghiên cứu “nhu cầu âm nhạc của
sinh viên” sẽ tìm ra những giải pháp giúp họ thỏa mãn nhu cầu này, qua đó đề
xuất một số kiến nghị liên quan đến việc tổ chức, giáo dục âm nhạc cho sinh viên.
2. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu thưởng thức âm nhạc của sinh viên trường Đại học Quốc gia
Hà Nội.
2.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài khảo sát 300 sinh viên, gồm:
- 140 sinh viên trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- 140 sinh viên trường ĐH KHTN, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phỏng vấn sâu: 20 sinh viên.
8
2.3. Phạm vi nghiên cứu
a. Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài khảo sát tại 2 trường: ĐH KHXH&NV;
ĐH KHTN (Đại học Quốc gia Hà Nội).
b. Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu về nhu cầu thưởng
thức âm nhạc của sinh viên.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực trạng nhu cầu thưởng thức âm nhạc của sinh viên, từ đó
đề tài đề xuất những biện pháp nhằm định hướng và nâng cao chất lượng nhu
cầu thưởng thức âm nhạc của sinh viên hiện nay.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận của đề tài (các khái niệm, đặc
điểm của nhu cầu thưởng thức âm nhạc, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu
thưởng thức âm nhạc của sinh viên ).
4.2. Nghiên cứu thực trạng nhu cầu thưởng thức âm nhạc của sinh viên
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx, K.Marx đã bàn về nhu
cầu thông qua việc nghiên cứu những tiền đề lịch sử đầu tiên của mọi tồn tại
người và coi đó là tiền đề của mọi lịch sử. Theo K.Marx, nhu cầu của con
người tuỳ thuộc vào những yếu tố khách quan và chủ quan, chịu sự chi phối
của những nhu cầu trực tiếp và gián tiếp. Do đối tượng phản ánh rộng nên nhu
cầu của con người hết sức phong phú và đa dạng. K.Marx viết: “Người ta phải
có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Nhưng muốn sống được thì
trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo. Song để có thức ăn,
thức uống, quần áo thì con người phải lao động ” [19; tr 49-50]. Ngay trong
xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người đã biết lấy nhu cầu làm người thầy
dạy bảo và chính họ đã biết phát minh ra lưỡi câu và cây gậy để câu cá, cung
tên để bắn, làm quần áo từ vỏ cây, da thú, dùng lửa để nấu ăn. Việc sản xuất
10
ra những tư liệu sản xuất nhằm thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu ấy được
Marx gọi là hành vi lịch sử. Nhưng khi những nhu cầu sống của con người đã
được thỏa mãn thì ở con người lại xuất hiện những nhu cầu mới. Chính việc
sản sinh ra những nhu cầu mới này cũng được Marx gọi là “hành vi lịch sử
đầu tiên”. Marx viết: “Sự thỏa mãn nhu cầu đầu tiên, khi đã có được hành
động thỏa mãn ấy và công cụ để thỏa mãn - đưa tới những nhu cầu mới và sự
sản sinh ra nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên” [ 19; tr 287]. Khi nhu
cầu mới xuất hiện, con người lại tìm kiếm phương tiện để thỏa mãn; và khi
nhu cầu mới này được thỏa mãn thì ở con người lại xuất hiện những nhu cầu
mới khác. Quá trình xuất hiện và thỏa mãn nhu cầu ở con người cứ liên tục
diễn ra như vậy. Có thể nói, nhu cầu của con người là vô tận, do đó hoạt động
của con người cũng là bất tận.
K. Marx còn bàn tới nhân tố ý thức của con người, ông khẳng định: Bản
thân ý thức cũng chỉ xuất hiện từ nhu cầu giao tiếp với người khác. Như vậy,
nhu cầu đóng vai trò quan trọng trong 5 nhân tố của những quan hệ lịch sử
đầu tiên. Theo K.Marx, nhu cầu vừa có vai trò thúc đẩy hành vi lịch sử đầu
có thể hiểu được không chỉ cái vị thế nóng hổi của nhân cách, mà cả lịch sử
xuất hiện của những tích hợp này hay tích hợp kia nữa.
Murray xây dựng bảng phân loại các nhu cầu. Xét về mặt liên quan đến
động cơ, ông chia ra hai loại là các nhu cầu do nội tạng sinh ra (viscerogenic)
như: Ăn, uống và các nhu cầu tâm sinh (psychogenic), H.Murray còn gọi
các nhu cầu đó là nhu cầu nguyên phát và thứ phát.
Nhu cầu nguyên phát là những nhu cầu tự nhiên của con người với tư
cách là một cơ thể sống.
Murray quan tâm chủ yếu đến những nhu cầu thứ phát, đặc trưng cho
con người như là một tồn tại xã hội và bắt nguồn từ sự giao tiếp của con
12
người. Quan trọng nhất trong các nhu cầu đó là nhu cầu về tình yêu, sự hợp
tác, sự sáng tạo Đây là một trong những bảng phân loại phổ biến nhất ở
phương Tây. Trong tác phẩm “Explorations in Personality”(1938), ông mô tả
các nhu cầu như sau:
1. Nhu cầu chiếm ưu thế: Muốn kiểm soát, gây ảnh hưởng, điều khiển hành
vi bằng lời nói, mệnh lệnh, thuyết phục, gây trở ngại, hạn chế những người khác.
2. Nhu cầu gây hấn: Muốn bằng lời nói hay hành động để làm nhục, lên
án, nguyền rủa, nhạo báng, lăng mạ, tiêu diệt đối phương.
3. Nhu cầu tìm kiếm các mối liên hệ bạn bè: Muốn hữu nghị tình yêu, ý
chí tốt lành, thiện cảm với người khác, đau khổ khi không có quan hệ bạn bè,
mong muốn mọi người xích lại gần nhau, khắc phục các trở ngại.
4. Nhu cầu bỏ rơi người khác: Muốn khước từ những cố gắng xích lại
gần nhau, hay chỉ trích, thô tục, “không dây” với người khác, vô cùng biệt
lập, vô liêm sỉ.
5. Nhu cầu tự trị: Thể hiện nổi bật sự vượt ra khỏi bất kỳ sự hạn chế nào,
muốn thoát khỏi sự bảo trợ, khỏi quy chế, sự quy định công việc nặng nề. Hay
đỏng đảnh trong quan hệ qua lại với những người khác, vô độ, lấy mình làm
trung tâm, thích thay đổi vị trí hành trình.
với địch thủ, khó thừa nhận sai lầm của mình, luôn luôn biện hộ bằng những
viện dẫn đưa ra, từ chối sự phân tích những sai lầm của mình.
17. Nhu cầu tránh thất bại: Nhu cầu này khác với nhu cầu thành đạt ở
chỗ điểm nổi bật là sức mạnh của ý chí, sự kiên trì, dũng cảm.
18. Nhu cầu an toàn: Sợ hãi, lo lắng, kinh hoàng, hoảng loạn, tính cảnh giác
quá mức là vốn có đối với người này, không có sáng kiến, tránh sự đấu tranh.
19. Nhu cầu ngăn nắp, trật tự: Có xu thế ngăn nắp, trật tự, cẩn thận,
chính xác, đẹp đẽ.
14
20. Nhu cầu phán đoán: Muốn đặt ra những vấn đề chung và trả lời về
chúng, say mê đối với những biểu đạt trừu tượng, khái quát hoá, hấp dẫn bởi
những vấn đề vĩnh cửu về ý nghĩa cuộc sống, về cái thiện và cái ác…
Về cấu trúc của nhân cách, Murray cũng giữ lập trường của phân tâm
học. Theo Murray, ý nghĩa chẩn đoán của các câu chuyện trong test TAT là
sự phóng ngoại chủ yếu lớp bên trong của nhân cách. Nói cách khác, nhu cầu
càng ít được thoả mãn trong đời sống thực bao nhiêu, thì nó càng giữ vị trí to
lớn trong tưởng tượng bấy nhiêu.
Về cơ bản, H. Murray vẫn giữ nguyên những quan điểm của Phân tâm
học: Tất cả những nhu cầu và những tích hợp của chúng quy định xu hướng
của nhân cách đều có khởi nguyên từ những ý hướng libido vô thức. Những
đặc điểm tính cách là sự biến đổi thăng hoa của chúng dưới tác động của các
yếu tố xã hội. Do tính không lặp lại của con đường đúng của mình mà mỗi
người có một tập hợp cá biệt các đặc điểm, đem lại tính có một không hai
trong hành vi và tính cách của họ.
1.1.1.3. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908-1970) là nhà tâm lý học người Mỹ, nhà sáng lập
trường phái “Tâm lý học nhân văn” và xây dựng học thuyết về nhu cầu và sự
phát triển của con người vào những năm 1950, để giải thích những nhu cầu
nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng
công việc của mọi người sẽ không được tiến hành bình thường và các nhu cầu
khác sẽ không được thực hiện.
c. Nhu cầu được thừa nhận
Con người về bản chất luôn luôn tạo dựng mối quan hệ, sự thừa nhận và
tình yêu thương từ người khác. Nếu không cảm thấy được giao tiếp và quan
hệ với người khác thì con người khó có thể tồn tại. Tình yêu thương và sự
chấp nhận đến với chúng ta qua gia đình, bạn bè, hàng xóm, cộng đồng và
thậm chí qua các tổ chức hoặc hiệp hội.
16
So với nhu cầu vật chất và nhu cầu an toàn thì thời gian xuất hiện nhu
cầu được quan hệ và được thừa nhận muộn hơn, nhưng nội dung của nó
phong phú, tế nhị, kỳ diệu và phức tạp hơn hai nhu cầu trước. Tuỳ theo tính
cách, cảnh ngộ, sự lịch duyệt, trình độ văn hóa, đặc điểm dân tộc, đặc điểm
khu vực, chính trị, tín ngưỡng và các quốc gia khác nhau mà có đủ các hình
thái muôn màu muôn vẻ của nhu cầu này.
Nhu cầu được quan hệ và được thừa nhận gồm có các vấn đề tâm lý như:
Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi thân cận, tán thưởng, ủng hộ…
Nhu cầu đó được bắt buộc từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ
bị cô độc, bị xem thường, buồn rầu, mong muốn được hoà nhập, khát khao
tình hữu nghị, lòng tin cậy và lòng trung thành giữa con người với nhau.
Yêu là nội dung cao nhất của nhu cầu này. Lòng thương, tình yêu, tình
bạn, tình thân ái là nội dung lý tưởng mà nhu cầu được thừa nhận luôn theo
đuổi. Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát
triển của nhân loại.
d. Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu được tôn trọng gồm hai loai: Lòng tự trọng và được người khác
tôn trọng.
Tự trọng được hiểu là sự quan tâm đúng đắn về nhân phẩm hay chuẩn mực
đạo đức của một người, nói cách khác là cảm thấy tốt về bản thân, trải nghiệm
nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu tôn trọng là nhóm các nhu cầu thiếu hụt, các
nhu cầu ở nhóm thứ 5 (các nhu cầu hiện thực hóa bản thân – self actualization
needs) được ông chia thành các nhu cầu nhỏ hơn: Nhu cầu hiểu biết, nhu cầu
thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo và được gọi là nhóm các nhu cầu phát triển.
A.Maslow cho rằng, tuy phân chia các mức độ như vậy song vị trí của chúng
trên tháp nhu cầu không phải là cố định mà chúng linh hoạt thay đổi tuỳ theo
điều kiện cụ thể.
Trong tác phẩm Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học,
tác giả B.Ph.Lomov đã nhận xét: “Tháp Maslow bao gồm cả những nhu cầu
có nguồn gốc sinh học và xã hội, nhưng đặc điểm của các mức độ nêu trên hết
sức vô định hình. Theo tác giả, nguyên nhân để đưa đến cách phân cấp nhu
cầu như vậy của A.Maslow là do việc tách nhu cầu của cá nhân ra khỏi hệ
thống quan hệ xã hội, và đặt nhu cầu nằm ngoài mối liên hệ xã hội, không chỉ
ra được trong những điều kiện xã hội nào nhu cầu đó được thỏa mãn và những
nguyên nhân chuyển tiếp nào từ mức độ này sang mức độ khác.
1.1.1.4. Luận điểm của X.L. Rubinstêin
Xuất phát từ chỗ cho rằng, bản chất con người là tổng hòa các mối quan
hệ xã hội, Rubinstêin rất chú ý đến mối quan hệ giữa con người với môi
trường xung quanh. Theo ông, nhu cầu của con người thể hiện sự liên kết, sự
phụ thuộc của con người với thế giới xung quanh. Để tồn tại và phát triển, con
người luôn luôn phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định. Những đòi hỏi ấy
chính là nhu cầu. Nhu cầu là sự đòi hỏi “cái gì đó” nằm ngoài chủ thể. “Có gì
đó” chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thoả mãn nhu cầu
thông qua hoạt động của chủ thể. Vì vậy, theo ông, phải thống nhất các yếu tố
khách quan (thuộc về đối tượng) với các yếu tố chủ quan (thuộc về chủ thể -
trạng thái tâm lý của chủ thể) trong quá trình hoạt động nhằm thoả mãn nhu
cầu. Nhu cầu vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụ động. Nhu cầu đòi
19
hỏi cần được thoả mãn hay không lại phụ thuộc vào hệ thống đối tượng trong
tác dụng điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành vi, hoạt động của con người.
Trên cơ sở phân tích nhu cầu của cá nhân là sự phản ánh những yêu cầu
thiết yếu của cuộc sống và môi trường xung quanh, A.G.Côvaliôp đã chỉ ra
rằng: Những yêu cầu xã hội nếu được cá nhân tiếp nhận sẽ chuyển hóa dần
thành yêu cầu đối với bản thân - tức chuyển thành nhu cầu. Theo ông, nhu cầu
của con người là do xã hội quy định, mức độ phát triển của nhu cầu do tính
chất của sản xuất xã hội và phân phối sản phẩm quy định. Nhu cầu có vai trò
xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó đối với hiện
thực , xét đến cùng xác định lối sống và hoạt động của họ.
Trong những nghiên cứu về tâm lý xã hội, A.G.Côvaliôp đã đưa ra khái
niệm về nhu cầu: “Nhu cầu là đòi hỏi của các cá nhân và các nhóm xã hội
khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển Nhu
cầu quy định xu hướng lựa chọn các ý nghĩ, các rung cảm và ý chí của quần
chúng, nó quy định hoạt động của giai cấp hoặc tập thể”. Ông nhấn mạnh,
cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu càng tăng. Khi nhu cầu được thỏa mãn
tới mức nào đó thì nó làm tăng thêm tính tích cực xã hội của con người.
Cũng trong phần lý luận bàn về “Nguồn gốc của tính tích cực bên trong
của con người”(1963), A.G. Côvaliôp đã đưa ra năm quy tắc chung của sự
hình thành và phát triển nhu cầu:
(1). Nhu cầu chỉ có thể nảy sinh, cũng cố trong quá trình luyện tập có hệ
thống mọi hoạt động cụ thể.
(2). Nhu cầu được phát triển khi phương tiện thoả mãn nhu cầu đa dạng,
phong phú.
(3). Nhu cầu tinh thần được hình thành khi hoạt động nhằm thoả mãn nó
phù hợp (vừa sức đặc biệt trong giai đoạn đầu).
21
(4). Điều kiện quan trọng để phát triển các nhu cầu tinh thần là việc
chuyển từ hoạt động nhớ lại sang hoạt động sáng tạo.
(5). Nhu cầu được cũng cố khi chủ thể ý thức được ý nghĩa của nó đối
vì thế toàn bộ quá trình này thể hiện thành một chu kỳ: Nhu cầu-> hoạt động
->nhu cầu. Đây là quan niệm của những người theo chủ nghĩa duy vật về nhu
cầu trước khi xuất hiện chủ nghĩa Mác.
- Sơ đồ thứ hai, trái ngược lại, là một sơ đồ theo chu kỳ: Hoạt động ->
nhu cầu -> hoạt động.
Sơ đồ thứ hai là sơ đồ đáp ứng được quan niệm Mácxít về nhu cầu. Luận
điểm cho rằng, mọi nhu cầu con người đều được sản sinh ra có một ý nghĩa
duy vật lịch sử. Đồng thời, nó lại cực kỳ quan trọng đối với tâm lý học, bởi
không có một “động lực” nào tồn tại trước bản thân hoạt động lại có thể đóng
vai trò một quan niệm xuất phát, có khả năng dùng làm cơ sở đầy đủ cho một
lý thuyết khoa học và nhân cách con người.
So sánh nhu cầu của vật con và con người, A.N. Leonchiep cho rằng, sự
phát triển nhu cầu của con vật phụ thuộc vào sự mở rộng phạm vi các vật thể
tự nhiên mà chúng tiêu thụ, còn các nhu cầu của con người được sản sinh ra
bởi sự phát triển của sản xuất, sự tiêu dùng. Vì vậy, nhu cầu của con người
phong phú, đa dạng hơn nhiều so với con vật. Đặc biệt ở người hình thành
nên một kiểu nhu cầu đặc biệt, đó là các nhu cầu có tính chất vật thể - chức
năng như: Nhu cầu lao động, nhu cầu sáng tạo nghệ thuật… Theo ông, điều
chủ yếu nhất ở con người là các nhu cầu đã mang những quan hệ mới giữa
chúng với nhau. Mặc dù đối với con người, sự thoả mãn các nhu cầu sinh tồn
thiết yếu vẫn là công việc hàng đầu và là điều kiện không tránh khỏi trong
cuộc sống, nhưng những nhu cầu bậc cao, những nhu cầu chuyên biệt có tính
người hoàn toàn không phải chỉ tạo thành những cơ cấu được chồng ghép lên
mặt ngoài của các nhu cầu sinh tồn thiết yếu của con người.
23
1.1.2. Những nghiên cứu nhu cầu ở Việt Nam
Nhu cầu là vấn đề được nhiều nhà tâm lý học Việt Nam quan tâm tìm
hiểu. Có thể nêu ra một số tác giả sau: Phạm Minh Hạc (2000), Bùi Văn Huệ
(2003), Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (1983), Lê