Tìm hiểu hứng thú học tập môn Tâm lý học đại cương của sinh viên trường ĐHDL Đông Đô - Pdf 25


Đại học quốc gia Hà Nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
************* Phan Thị Thơm

Tìm hiểu hứng thú học tập môn
tâm lý học đại cương của sinh viên trường ĐHDL
Đông Đô

Luận văn thạc sĩ
khoa học tâm lý học

Hà Nội - 2005
Mục lục
Phần thứ nhất: Những vấn đề chung


24
III.1. Định nghĩa hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương
24
III.2. Biểu hiện của hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương
24
III.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn tâm lý học đại
cương
25
IV. Một số nhận xét bước đầu về việc dạy và học môn tâm lý học đại
cương ở Trường đại học dân lập Đông Đô
27
Chương II: tổ chức nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu
32
I. Tổ chức nghiên cứu
32
II. Phương pháp nghiên cứu
32
III. Quá trình tổ chức thực nghiệm tác động sư phạm
37
Phần 2: Kết quả nghiên cứu thực tiễn
48
I. Kết quả nghiên cứu thực trạng
48
II. Kết quả thực nghiệm tác động sư phạm
74
Kết luận và kiến nghị
90

thân mỗi người học.

2
Tuy nhiên trong thực tế, sinh viên trường đại học Dân lạp Đông Đô chưa
thực sự say sưa với môn học của mình, các em chưa thực sự tự giác trong học
tập. Đội ngũ giáo viên cơ hữu một số mới ra trường nên kinh nghiệm còn ít,
trình độ tay nghề chưa cao. Thực tiễn đặt ra cho trường Đại học Dân lập Đông
Đô phải sớm nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của xã
hội.
Xuất phát từ lý do trên đây, chúng tôi lựa chọn vấn đề: "Tìm hiểu hứng
thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập
Đông Đô".
2. Đối tượng nghiên cứu
Hứng thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học
Dân lập Đông Đô
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm làm rõ thực trạng hứng thú học tập môn Tâm lý học đại
cương của sinh viên Trường Đại học Dân lập Đông Đô; tìm hiểu những nguyên
nhân dẫn đến thực trạng đó, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng
thú của môn tâm lý học đại cương cho sinh viên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
4.1 Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
4.2 Tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với môn Tâm lý học đại cương của sinh
viên trường Đại học Dân lập Đông Đô trên các phương diện:
+ Nhận thức của sinh viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của môn tâm lý học
đại cương đối với quá trình học tập và đời sống của sinh viên.
+ Cảm xúc của sinh viên đối với môn tâm lý học đại cương.
+ Hành động tích cực của sinh viên trong việc học tập môn tâm lý học đại
cương

(khoá 9) thuộc các Khoa: Thông tin học, Ngoại ngữ, Văn hóa du lịch, Quan
hệ quốc tế, Quản trị kinh doanh; Điều tra sau thực nghiệm trên 60 sinh viên

4
lớp thực nghiệm (Lớp ngoại ngữ khoá10) và 55 sinh viên ở lớp đối chứng
(Lớp văn hoá Du lịch khóa 10)
- Ngoài ra chúng tôi nghiên cứu khách thể phụ: 05 giáo viên giảng dạy
môn tâm lý học đại cương trường ĐHDL Đông Đô.
8. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng hệ thống các phương
pháp sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản:
Đọc sách và tài liệu có liên quan nhằm xây dung cơ sở lý luậncủa đề tài.
8.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tế
8.2.1. Phương pháp điều tra viết: (phương pháp chính)
8.2.2. Phương pháp quan sát
8.2.3. Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn
8.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
8.2.5. Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm.
8.2.6. Phương pháp thống kê toán học
Cách thức triển khai cụ thể sẽ được trình bày chi tiết trong chương III
“phương pháp nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu”.

5
Phần thứ 2: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận
I. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Hứng thú là một đề tài nghiên cứu của nhiều công trình khoa học. Trên
thế giới có rất nhiều nhà khoa học chú ý đến lĩnh vực này. đặc biệt là các công
trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên xô cũ. Sau đây xin điểm qua một

- Năm 1981, Tác giả Phùng Minh Nguyệt với luận án thạc sỹ “Bước đầu
tìm hiểu hứng thú đối với nghề sư phạm của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm
Nghĩa Bình”.
- Năm 1982, Tác giả Đinh Thị Chiến với luận án thạc sỹ:
“Bước đầu tìm
hiểu hứng thú đối với nghề sư phạm của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm Hà
Nam Ninh”.
- Năm 1987, Nguyễn Khắc Mai với luận án thạc sỹ:
“Bước đầu tìm hiểu
hứng thú đối với hoạt động sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên tâm lý
giáo dục trường đại học sư phạm Hà Nội I”.
Nhìn chung, trong các nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, các tác giả
quan tâm, tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa hứng thú học tập bộ môn với xu
hướng nghề nghiệp của sinh viên.
+ Những nghiên cứu về hứng thú học tập bộ môn.
- Trương Anh Tuấn (1960), Phạm Huy Thục (1970), Đặng Trường Thanh
(1980)…Đã nghiên cứu “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III”.
- Năm 1969 Lê Ngọc Lan với công trình nghiên cứu mang tên: “Tìm hiểu
hứng thú học toán của học sinh cấp II”. Tác giả đã thực nghiệm tác động nâng
cao hứng thú học toán của học sinh bằng sinh hoạt ngoại khó của đội thiếu niên.
- Năm 1974 tổ tâm lý học nhân cách thuộc trường đại học Sư phạm Hà
Nội đã nghiên cứu: “Hứng thú học tập của học sinh cấp III đối với các môn học
cụ thể”.
- Năm 1980 tác giả Dương Diệu Hoa với đề tài: “Bước đầu tìm hiểu hứng
thú học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên khoa tâm lý Trường Đại học
sư phạm Hà Nội I”.

7
Trong năm 1980 còn có đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Bá Chương với
đề tài: “Bước đầu tìm hiểu về dạy học môn tâm lý học để xây dựng hứng thú học

nghiên cứu. Cái mà chúng tôi thấy khác với những công trình nghiên cứu trước
chỉ là ở khách thể, thời điểm nghiên cứu. Công trình nghiên cứu của mình có
khách thể là sinh viên Trường đại học Dân lập Đông Đô một loại hình mới được
hình thành ở nước ta, dư luận xã hội còn chưa thực sự ủng hộ, các em sinh viên
rất mặc cảm và còn hạn chế về nhiều mặt. Nghiên cứu đề tài của mình, chúng tôi
muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc dạy – học ở nơi mà mình
đang giảng dạy – Trường Đại học Dân lập Đông Đô. Tôi nghĩ cái đó là cái mới,
cái thiết thực của vấn đề mà chúng tôi muốn tìm hiểu, giải quyết trong đề tài của mình.
II. Một số khái niệm cơ bản của luận văn.
1. Khái niệm Hứng thú.
1.1. Định nghĩa hứng thú
+ Quan điểm của một số nhà tâm lý học phương tây về hứng thú.
- Theo I.PhShec-bác thì hứng thú là một thuộc tính bẩm sinh của con
người, hứng thú có nguồn gốc sinh vật.
- V.Giêmxơ, S.Klaparet lại khẳng định hứng thú là nhu cầu bản năng, khát
vọng đòi được thoả mãn.
- Fransiska, Baumgáten lại coi hứng thú là trường hợp riêng của thiên hướng.
- Ch.Buhler đã coi hứng thú là nguồn gốc tinh thần của tính tích cực biểu
đạt tài liệu, đổi mới tài liệu, hứng thú trình bày tài liệu như là vốn có. Hứng thú
bao gồm các nhu cầu.
Nhận xét: Theo một số nhà tâm lý học Phương tây vừa điểm tới thì hứng thú
là một thuộc tính có sẵn của con người, nó mang tính bẩm sinh, quá trình lớn lên
của bản thân mỗi người cũng đồng thời là quá trình bộc lộ dần thiên hướng và hứng
thú của họ. Quan điểm này đã phủ nhận hoàn toàn vai trò của giáo dục, giáo dưỡng
và hoạt động có ý thức của con người đối với sự phát triển của hứng thú.
+ Một số quan điểm về hứng thú của những nhà tâm lý học duy vật về
hứng thú:
Các nhà TLH Duy vật biện chứng đã coi hứng thú không phải là cái gì
trừu tượng, không phải là những thuộc tính có sẵn của con người. Mà nó là kết


Liên xô cũ khác như: A. G Côvaliốp, G. I Sukina lại gắn hứng thú với sự định

10
hướng của cá nhân vào đối tượng nhất định, đối tượng có ý nghĩa đối với cá
nhân, đối với đối tượng có sự hấp dẫn.
- A.G.Côvaliốp đã đưa ra định nghĩa về hứng thú như sau " Hứng thú là
một thái độ đặc thù của cá nhân với một hiện tượng nào đó, do ý nghĩa của nó
trong đời sống và sự hấp dẫn về mặt tình cảm của nó"
(1)
.
Như vậy các tác giả đã thu hẹp khaí niệm hứng thú, quy hứng thú vào
trong giới hạn hoặc của hoạt động nhận thức hoặc của quá trình chú ý, quá trình
xúc cảm, của nhu cầu.
Thực chất ra về bản chất, hứng thú có liên quan với tất cả các quá trình
đó.
- Trong cuốn đề cương bài giảng tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm
của khoa tâm lý Trường Đại học sư phạm Hà nội I, các tác giả đã định nghĩa:
"Hứng thú là sự định hướng có lựa chọn của cá nhân vào những sự vật hiện
tượng của thực tế xung quanh. Sự định hướng đó được đặc trưng bởi sự vươn
lên thường trực tới nhận thức, tới những kiến thức mới ngày càng đầy đủ và sâu
sắc hơn "
(2)
. Về cơ bản định nghĩa này cũng chỉ nghiêng về hứng thú nhận thức.
- Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú không tách rời
toàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân. Theo họ hứng thú là: "Thái độ lựa chọn đặc
biệt của cá nhân đối với đối tượng, khi hiểu được ý nghĩa của nó đối với cuộc
sống và gây cho ta khoái cảm đặc biệt "
(3)
.
- Phân tích cấu trúc của hứng thú, tiến sỹ tâm lý học N. G Marôzôva đã nêu

nghĩa: Khoa học tâm lý hiểu hứng thú được biểu hiện trong khuynh hướng
thường xuyên của con người đối với đối tượng của hứng thú, trong khát vọng
tiếp cận và chiếm lĩnh nó.
Tóm lại: Từ một số quan điểm nêu trên khi bàn về khái niệm hứng thú ta
thấy các tác giả tập trung đề cập tới các yếu tố sau:
* Hứng thú là biểu hiện khuynh hướng thường xuyên của con người đối
với đối tượng
* Đối tượng gây ra hứng thú được chủ thể lựa chọn, nhận thức rõ ràng về ý
nghĩa, vai trò, tầm qua trọng của nó.
* Chủ thể có một tình cảm đặc biệt đối với đối tượng gây ra hứng thú, biểu
hiện ở sự thích thú , say mê đối tượng.
* Chủ thể có sự khát khao hoạt động vươn tới tiếp cận và chiếm lĩnh đối tượng.
Do vậy, chúng tôi tán thành với PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa
có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân
trong quá trình hoạt động.
Trong nghiên cứu này chúng tôi đã coi định nghĩa của PGS.TS Nguyễn
Quang Uẩn là cơ sở cho nghiên cứu của mình.
1.2. Đặc điểm của hứng thú:
Để thấy được những đặc trưng nổi bật của hứng thú trước hết ta phân biệt
hứng thú với nhu cầu:

12
- Khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó (Đối tượng của hứng thú)
bao giờ cũng được ta ý thức rõ ràng về ý nghĩa của nó với cuộc sống của chúng
ta. Nhưng đối tượng gây ra nhu cầu thì ngay từ đầu lại chưa được ta ý thức đầy
đủ, chỉ sau một thời gian dần dần đối tượng gây ra nhu cầu mới được ta ý thức
ngày một rõ ràng hơn.
- Hơn nữa đối tượng gây ra hứng thú bao giờ cũng làm xuất hiện ở ta một
tâm trạng dễ chịu, một cảm xúc tích cực, một thiện cảm đặc biệt với nó. Tứ đó

động có liên quan tới đố tượng của hứng thú đó.
- Biểu hiện trong sự trải nghiệm thường xuyên những tình cảm dễ chịu do
đối tượng này gây ra.
- Biểu hiện trong khuynh hướng bàn luận thường xuyên về đối tượng này,
về việc có liên quan tới chúng.
- Biểu hiện trong sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứng thú.
- Biểu hiện trong sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi
với đối tượng này, trong hoạt động tưởng tượng phong phú,trong tư duy căng
thắng những vấn đề có liên quan đến đối tượng của hứng thú đó.
Tóm lại: Căn cứ vào các biểu hiện mà các tác gỉa đã đưa ra, hứng thú
được biểu hiện ở ba mặt:
- Mặt nhận thức: Khi có hứng thú đối với cái gì đó thì có sự tập trung chú
ý cao về đối tượng gây ra hứng thú, tính ổn định và tính bền vững thể hiện rõ
trong chú ý có chủ định và chú ý không chủ định, các hoạt động ghi nhớ, tư duy,
tưởng tượng tích cực hơn nhằm nhận thức chúng một cách đầy đủ và sâu sắc
hơn.
- Mặt xúc cảm – tình cảm: Đối tượng gây ra hứng thú tạo nên sự khoái
cảm, sự say mê, hấp dẫn đối với chủ thể. Chủ thể thường xuyên được trải
nghiệm những tình cảm dễ chịu từ phía đối tượng.
- Biểu hiện ở hành vi: Khi chủ thể có hiểu biết về đối tượng gây ra hứng
thú, đồng thời chủ thể lại có tình cảm đặc biệt với đối tượng gây ra hứng thú thì
họ sẽ xuất hiện khát vọng hành động đi sâu vào đối tượng làm cho chủ thể hoạt
động say mê và ít mệt mỏi.
1.4. Phân loại hứng thú:
Có nhiều cách phân loại hứng thú khác nhau:

14
a. Căn cứ vào nội dung của đối tượng và phạm vi hoạt động gắn với
hứng thú ta có thể chia hứng thú thành:
+ Hứng thú vật chất: Là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng muốn có

động.
Sự tương quan đúng mức giữa hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp là
điều kiện thuận lợi cho hoạt động tích cực của bản thân. Trong học tập người ta
thường dùng hứng thú gián tiếp để kích thích hứng thú trực tiếp trong học tập.
c. Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú ta có thẻ chia hứng thú thành hứng
thú thụ động (Hứng thú tiêu cực) và hứng thú chủ động (Hứng thú tích cực).
+ Hứng thú thụ động: Là loại hứng thú tĩnh quan, khi con người chỉ dừng
lại ở sự thích ngắm nhìn, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, nhưng
không thể hiện tính tích cực để nhận thức sâu sắc hơn, làm chủ đối tượng và
hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực mình hứng thú.
+ Hứng thú tích cực: Là loại hứng thú mà con người không chỉ chiêm
ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú mà còn lao vào hoạt động với mục đích làm
chủ đối tượng. Hứng thú tích cực là một trong những nguồn kích thích sự phát
triển nhân cách, hình thành kỹ năng, kỹ sảo là nguồn gốc của sự sáng tạo.
d. Căn cứ vào khối lượng của hứng thú (Phạm vi khái quát của đối
tượng, có thể chia hứng thú thành hứng thú rộng và hứng thú hẹp).
+ Hứng thú rộng: Là loại hứng thú bao quát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
nhưng thường không sâu. Tuy nhiên cũng có trường hợp vừa có hứng thú rộng
nhưng lại nắm sâu sắc vấn đề.
+ Hứng thú hẹp: Là loại hứng thú đối với từng mặt, từng ngành nghề cụ
thể, một lĩnh vực cụ thể.
Trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi phải có hai loại hứng thú này, vì nếu chỉ có
hứng thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách của họ sẽ không toàn diện,
song nếu chỉ có hứng thú rộng thì nhân cách sẽ phát triển hời hợt, thiếu sâu sắc.
e. Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú có thể phân chia hứng thú sâu
sắc và hứng thú hời hợt bên ngoài.
+ Hứng thú sâu sắc: Thường thể hiện thái độ thận trọng, có trách nhiệm
đối với công việc. Những người có hứng thú sâu sắc, mong muốn đi sâu vào đối
tượng nhận thức, đi sâu nắm vững đến mức hoàn hảo nghề nghiệp của mình.


Hứng thú là động lực giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt
hiệu quả, hứng thú tạo ra động cơ quan trọng của hoạt động, hình thành và phát

17
triển lý tưởng, để vươn tới lý tưởng cao đẹp của đời mình thì phải xây dựng cho
mình hứng thú phù hợp với lý tưởng. Hứng thú làm tích cực hoá các quá trình
tâm lý như quá trình tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng…
+ Đối với năng lực:
Hứng thú là nguyên nhân cơ bản để hình thành và phát triển năng lực,
muốn hình thành năng lực phải có hứng thú. Khi được làm việc phù hợp với
hứng thú thì dù phải vượt qua muôn vàn khó khăn người ta vẵn cảm thấy thoả
mái, làm cho năng lực trong lĩnh vực hoạt động ấy dễ dàng hình thành và phát
triển: "Năng khiếu phụ thuộc vào sự luyện tập, nhưng chỉ có hứng thú mới cho
phép người ta say sưa làm một việcgì đó tương đối lâu dài không mệt mỏi mà
không sớm thoả mãn mà thôi. Hứng thú làm cho năng khiếu thêm sắc bén”
(1)
.
Đối với học sinh, việc hình thành năng lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố
trong đó có hứng thú của các em đối với mô học là rất quan trọng. Do vậy trong
quá trình giảng dạy người giáo viên phải thu hút học sinh vào bài giảng làm cho
các em có hứng thú đối với môn học.
Có thể nói hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển
năng lực cá nhân. Hứng thú và năng lực có mối quan hệ biện chứng, cái này làm
tiền đề cho cái kia và ngược lại.
"Hứng thú và năng lực là một cặp đôi không tách rời nhau như câu hỏi và
câu trả lời. Tài năng sẽ bị thui chột nếu hứng thú không thực sự sâu sắc, đầy đủ
và nói chung hứng thú không được nuôi dưỡng lâu dài nếu không có những
năng lực cần thiết để thỏa mãn hứng thú"
(2)
.

được yếu tố nhận thức.
Xúc cảm là yếu tố quyết định, nó là tiền đề, là điều kiện của hứng thú
nhận thức và bao giờ nó cũng mang tính quá trình, tình huống, còn hứng thú
nhận thức là một thuộc tính tương đối bền vững mang tính xu thế của nhân cách.
Xúc cảm là một thành phần không thể thiếu được của hứng thú nhận thức. Hứng
thú nhận thức được biểu hiện ra ở xúc cảm. nhưng khi những xúc cảm củng cố
theo một hướng nhất định và trở thành sâu sắc cùng với việc chủ thể ý thức được
vai trò quan trọng của đối tượng hứng thú nhận thức đối với xã hội và cá nhân
lúc đó mới nảy sinh hứng thú nhận thức đúng đắn.
G.I. Sukina nhấn mạnh thứ nhất: Ta nên chú ý đến phép biện chứng của
mối quan hệ giữa hứng thú nhận thức, với các quá trình và các thuộc tính tâm lý

2
L.X.Xôlôvâytrích: Từ hứng thú đến tài năng, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1975,
Tr140.

19
khác. Thứ hai, nên chú ý rằng hứng thú nhận thức không chỉ liên quan tới nội
dung đối tượng mà còn liên quan đến hoạt động.
Hứng thú nhận thức chủ yếu nhằm vào nhận thức, tiếp thu tri thức chứa
đựng trong các môn học ở nhà trường và hứng thú nhận thức còn giúp học sinh
vận dụng phương pháp đã tiếp thu được để vận dụng vào việc học tập của mình.
Thực chất của hứng thú nhận thức là ở chỗ đối tượng của nó chính là quá
trình nhận thức, quá trình này được đặc trưng bởi khuynh hướng lựa chọn của
các nhân đi sâu vào bản chất hiện tượng.
Từ những điều vừa trình bày trên, chúng ta có thể đi đến hứng định nghĩa về
hứng thú nhận thức như sau:
Hứng thú nhận thức là khuynh hướng lựa chọn của cá nhân vào việc
nhânh thức một số lĩnh vực khoa học (Trong nhà trường là các môn học), nhằm
và mặt nội dung của nó, cũng như quá trình hoạt động. Trong đó cá nhân không

sinh sẽ dành thời gian rảnh rỗi của mình vào việc tìm tòi thêm những kiến thức
có liên quan đến những vấn đề mình hứng thú: Thời gian ngoại khoá, đọc thêm
sách, tìm người cùng quan tâm những vấn đề của mình. ở giai đoạn này hứng
thú bền vững – giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú.
Việc nắm được các giai đoạn hình thành và phát triển hứng thú nhận thức
cho phép người giáo viên phát triển hứng thú nhận thức ở học sinh từ thấp đến cao.
Khi nghiên cứu về mức độ phát triển của hứng thú nhận thức G. I Sukina
và N.G.Marôzôva đều thống nhất rằng hứng thú nhận thức có các mức độ sau:
- Sự tò mò, tính ham hiểu biết, xúc cảm đối với đối tượng, đối với hoạt
động mà chủ thể lựa chọn, là những dấu hiệu ban đầu của hứng thú. Những biểu
hiện này nảy sinh từ tuổi vườn trẻ và phát triển mạnh mẽ ở tuổi mẫu giáo khi trẻ
tiếp xúc rộng rãi với môi trường xung quanh. Nhưng đây chưa phải là hứng thú
nhận thức thực sự, mà là tiền đề quan trọng để hứng thú nhận thức nảy sinh và
phát triển.
- Rung động nhận thức có tính chất tình huống. Đây là mức độ đầu của
hứng thú nhận thức. Nó thường bị dập tắt một cách dễ dàng nếu không được
củng cố, hệ thống hóa nhờ việc tổ chức hoạt động nhận thức một cách phong
phú, sinh động.

21
- Hứng thú nhận thức mang tính xúc cảm - nhận thức. Trình độ này của
hứng thú thường biểu hiện ở học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở. ở
giai đoạn này hứng thú nhận thức biểu hiện rõ nét những xúc cảm bắt nguồn từ
hoạt động thực tiễn nhận thức, niềm vui do sự nhận thức mang lại, hứng thú
nhận thức ở tuổi này gắn liền với kết quả học tập. Đây chưa phải là hứng thú
nhận thức thực sự.
- Hứng thú thực sự được hình thành và bền vững. ở giai đoạn này, chủ
thể hứng thú không chỉ tồn tại những xúc cảm, niềm vui, sự thỏa mãn do hoạt
động nhận thức đem lại mà tồn tại cả sự nỗ lực ý chí một cách bền vững. Đây là
mức độ phát triển cao của hứng thú nhận thức thường đạt ở cuối phổ thông, đầu

động dạy - học diễn ra một cách nhịp nhàng và có hiệu quả. Khi đó nó cũng ảnh
hưởng thuận lợi đến việc hình thành hứng thú học tập ở các em.
Trong thực tế, muốn xác định hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức
nói riêng của một người nào đó ngoài việc căn cứ vào đặc điểm của hứng thú,
chúng ta cần căn cứ vào các biểu hiện của chúng. Trên cơ sở đó để khẳng định
người đó có hứng thú hay không.
2.3. Biểu hiện của hứng thú nhận thức
Đứng ở các góc độ khác nhau, các tác giả cũng phân tích sự khác nhau về
biểu hiện của hứng thú nhận thức.
Theo M.G. Marôzôva, để phát hiện hứng thú nhận thức có thể căn cứ vào
ba nhóm dấu hiệu sau đây:
- Những biểu hiện về hành vi hoạt động của học sinh thể hiện trong hành
vi học tập trong lớp.
- Đặc điểm về hành vi hoạt động của học sinh thể hiện ở ngoài giờ học.
- Đặc điểm của toàn bộ lối sống của học sinh xuất hiện do chịu ảnh hưởng
của hứng thú đối với một đối tượng nào đó, một môn học nào đó.
Các biểu hiện (chỉ tiêu) trên có mối quan hệ qua lại lẫn nhau và chỉ có thể
dựa trên toàn bộ chỉ tiêu đó mới đánh giá được mức độ phát triển hứng thú nhận
thức ở học sinh.
Như vậy hứng thú nhận thức được biểu hiện trong quá trình nhận thức,
trạng thái xúc cảm tích cực và trong hoạt động tích cực của cá nhân.

23
Một số tác giả nhận định: Trong nhà trường hoạt động học tập của học
sinh được tổ chức một cách đúng đắn và hoạt động sư phạm của thầy giáo được
tiến hành đúng hướng và có hệ thống, thì hoạt động nhận thức của học sinh có
thể trở thành một nội dung bền vững trong nhân cách và được biểu hiện qua một
số mặt sau đây:
+ biểu hiện về mặt trí tuệ:
- Luôn say mê vươn tới nhận thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status