BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ KHÁNH VÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ
HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI
CƯƠNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG
ĐỒNG HẬU GIANG Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN TUẤN LỘ
T.P Hồ Chí Minh, năm 2010
0TLỜI CAM ĐOAN0T 2
0TLỜI CẢM ƠN0T 3
0TMỤC LỤC0T 4
0TMỞ ĐẦU0T 7
0T1.Lý do chọn đề tài0T 7
0T2. Mục đích nghiên cứu0T 8
0T3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu0T 8
0T4. Giả thuyết khoa học0T 8
0T5. Nhiệm vụ nghiên cứu0T 8
0T6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu0T 8
0T7. Phương pháp nghiên cứu0T 9
0T8. Đóng góp mới của đề tài0T 9
0TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NÀY0T 11
0T1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ0T 11
0T1.1.1. Những nghiên cứu về hứng thú0T 11
0T1.1.2. Những nghiên cứu về hứng thú nhận thức0T 12
0T1.1.3. Những nghiên cứu về hứng thú học tập0T 12
0T1.1.4. Những nghiên cứu về hứng thú học tập bộ môn.0T 13
0T1.2. LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ0T 16
0T1.2.1. Lý luận về hứng thú0T 16
0T1.2.1.1. Khái niệm0T 16
0T1.2.1.2. Biểu hiện của hứng thú0T 17
0T1.2.1.3. Mối quan hệ của hứng thú với đặc điểm, trạng thái tâm lý khác.0T 19
0T1.2.1.4. Sự hình thành, phát triển hứng thú0T 21
0T1.2.1.5 Phân loại hứng thú0T 22
0T1.2.2. Hứng thú nhận thức0T 23
0T1.2.2.1. Khái niệm0T 23
0T1.2.2.2. Đặc điểm của hứng thú nhận thức0T 24
0T1.2.3. Hứng thú học tập0T 25
0T1.2.3.1. Khái niệm0T 25
đẳng cộng đồng Hậu Giang.0T 49
0T2.3. NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC ĐẠI
CƯƠNG CỦA SINH VIÊN GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HẬU
GIANG0T 53
0T2.3.1. Những nguyên nhân tác động tích cực tới hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương của
sinh viên Giáo dục mầm non.0T 53
0T2.3.2. Những nguyên nhân tác động tiêu cực tới hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương.0T 56
0TCHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO
DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG CAO
ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HẬU GIANG
0T 62
0T3.1. TỒ CHỨC NGHIÊN CỨU0T 62
0T3.1.1. Cấu trúc bảng trưng cầu ý kiến về biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn Giáo dục học đại
cương cho sinh viên Giáo dục mầm non trường Cao đẳng cộng đồng Hậu Giang0T 62
0T3.1.2. Cách trả lời bảng trưng cầu ý kiến0T 63
0T3.1.3. Cách sử lý bảng trưng cầu ý kiến0T 64
0T3.2. CÁC BẢNG TRƯNG CẦU Ý KIẾN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN
GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN GIÁO DỤC MẦM NON0T 64
0T3.2.1. Ý kiến của sinh viên Giáo dục mầm non về những biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn
Giáo dục học đại cương0T 64
0T3.2.2. Ý kiến của giảng viên về những biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn Giáo dục học đại
cương0T 68
0T3.2.3. Ý kiến của sinh viên Giáo dục mầm non về những bài học trong môn Giáo dục học đại cương.0T 71
0T3.2.4. Ý kiến của giảng viên về những bài học trong môn Giáo dục học đại cương.0T 72
0T3.3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC
ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN GIÁO DỤC MẦM NON0T 73
0T3.3.1. Nhóm biện pháp về người học0T 73
0T3.3.2. Nhóm biện pháp môi trường học tập0T 74
0T3.3.3. Nhóm biện pháp về môn học0T 76
0T3.3.4. Nhóm biện pháp về giảng viên0T 77
ý, thúc đẩy tính tự giác, độc lập, chủ động, tích cực, làm nẩy sinh khát vọng học tập một cách sáng
tạo, lĩnh hội tri thức cũng trở nên dễ dàng hơn, sẽ đạt được những thành tích nhất định trong học
tập. Ngược lại, không có hứng thú, học tập chỉ mang tính chất đối phó, miễn cưỡng thì sẽ trở nên
nặng nề và khó đạt được kết quả cao.
Giáo dục học đại cương là một trong những môn học căn bản của sinh viên sư phạm. Việc
hình thành hứng thú học tập đặc biệt là hứng thú học tập môn giáo dục học đại cương là cơ sở để
sinh viên – những thầy cô giáo tương lai có thái độ và phương pháp giáo dục phù hợp đặc điểm tâm
lý, sinh lý của trẻ. Đối với bậc mầm non, phương pháp giáo dục của thầy, cô giáo như thế nào, tác
động rất lớn tới các em nhỏ. Do vậy, việc trau dồi phương pháp giảng dạy của sinh viên Giáo dục
mầm non lại càng phải được quan tâm nhiều hơn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo
dục, tăng thêm lòng yêu nghề, yêu trẻ của sinh viên Giáo dục mầm non.
Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục, trong điều kiện tỉnh Hậu Giang còn
nghèo, trình độ dân trí thấp, rất cần đội ngũ lao động giỏi phục vụ cho tỉnh nhà, thì việc làm thế nào
để người học hứng thú trong học tập là vấn đề cần phải suy nghĩ. Trong khuôn khổ của đề tài, tôi
lựa chọn nghiên cứu hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương. Trên cơ sở đó, đề ra biện pháp
nâng cao hứng thú cho sinh viên Giáo dục mầm non, giúp các em học tập tốt môn học này.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương của sinh viên Giáo dục
mầm non trường Cao đẳng cộng đồng Hậu Giang. Từ đó, đề xuất các biện pháp nâng cao hứng thú
học tập môn này cho sinh viên Giáo dục mầm non trường Cao đẳng cộng đồng Hậu Giang.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Giáo dục mầm non trường Cao đẳng cộng đồng Hậu
Giang đã học môn Giáo dục học đại cương.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương của sinh viên
Giáo dục mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Hứng thú học tập môn Giáo dục học đại cương của sinh viên Giáo dục mầm non trường Cao
đẳng cộng đồng Hậu Giang chưa cao và có thể tìm ra những biện pháp nâng cao hứng thú này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
Trên cơ sở câu trả lời của sinh viên để tiến hành soạn bảng thăm dò chính thức.
Bước soạn bảng thăm dò chính thức
Bảng hỏi gồm nhiều câu dễ hiểu, rõ ràng. Các câu có sự ràng buộc nhau để kiểm tra độ chân
thực trong các câu trả lời, có câu hỏi đóng và câu hỏi mở.
Ngoài bảng hỏi dành cho sinh viên còn có bảng hỏi dành cho giảng viên, nhằm tham khảo ý
kiến của các thầy, cô về thực trạng hứng thú và về những biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn
Giáo dục học đại cương.
8. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài này là nghiên cứu mới, thiết thực. Cái mới ở đây là nghiên cứu hứng thú học tập môn
Giáo dục học đại cương, trên đối tượng là các em sinh viên Giáo dục mầm non trường Cao đẳng
cộng đồng Hậu Giang, thuộc một tỉnh nghèo, trình độ dân trí thấp, mới được thành lập, rất cần đội
ngũ lao động có trình độ cao. Do vậy, làm thế nào nâng cao nâng cao hứng thú cho người học nói
riêng, cũng như chất lượng giáo dục nói chung, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
là việc làm rất cần thiết.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NÀY
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Những nghiên cứu về hứng thú
Những công trình nghiên cứu về hứng thú xuất hiện tương đối sớm và ngày càng được phát
triển.
- Ovide Decroly (1871 – 1932) bác sĩ, nhà tâm lý học người Bỉ, khi nghiên cứu về khả năng
tập đọc và tập làm tính của trẻ, đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú, về lao động
tích cực.
- I.K. Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi”. Từ những năm 1931,
ông đã đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú bằng bảng hỏi.
- Năm 1938, Ch.Buher trong công trình “Phát triển hứng thú ở trẻ em” đã tìm hiểu khái niệm
nhu cầu và hứng thú cá nhân”. Ông nhấn mạnh: cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể,
mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc của nhu cầu. Nó sẽ không đem lại hiệu
suất đầy đủ, nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó. Ông cho rằng:
mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng
thái chức năng động của sự đồng hóa.
- Năm 1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao
hứng thú cho học sinh phổ thông” tác giả kết luận: dạy học trực quan là biện pháp tốt nhất để tác
động đến hứng thú của học sinh.
- Năm 2003, Nguyễn Hải Yến – Đặng Thị Thanh Tùng nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng
đến hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên truờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”. Đề
tài đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên, là do chưa
nhận thức được vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học, do bản thân chưa nỗ lực vượt khó trong
quá trình nghiên cứu.
- Năm 2005, Vương Thị Thu Hằng với đề tài “Tìm hiểu hứng thú nghiên cứu khoa học của
sinh viên, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”. Tác giả đưa ra nguyên nhân ảnh hưởng
đến hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên là do chủ quan của sinh viên. Đưa ra một số kiến
nghị: nhà trường quan tâm tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hội nghị khoa học chuyên đề, câu lạc
bộ sinh viên nghiên cứu khoa học, cung cấp nhiều tài liệu cho sinh viên
1.1.3. Những nghiên cứu về hứng thú học tập
- Herbart (1776-1841) nhà tâm lý học, nhà triết học, nhà giáo dục học, người Đức. Người
sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại, ở Đức, thế kỷ XIX. Đã đưa ra 4 mức độ của dạy học: Tính
sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú, đặc biệt là hứng thú yếu tố quyết định kết
quả học tập của người học.
- Năm 1976, N.G.Marôsôva đưa ra cấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích
những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh.
- Trong công trình nghiên cứu của mình. L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ giữa hứng thú và
tính tích cực học tập của học sinh.
- Năm 1976, A.K.Marcôva nghiên cứu về vai trò của dạy học nêu vấn đề với hứng thú học
tập của học sinh. Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng, góp phần nâng cao
hứng thú học tập của học sinh trong quá trình học tập.
nghiên cứu đề tài “Hứng thú học tập của học sinh cấp II đối với môn học cụ thể” kết quả cho thấy,
hứng thú học tập các môn của học sinh câp II là không đồng đều.
- Năm 1980, Dương Diệu Hoa “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn Tâm lý học đại
cương của sinh viên Khoa Tâm lý học trường Đại học Sư phạm Hà Nội”.
- Năm 1980, Lê Bá Chương “Bước đầu tìm hiểu về dạy học môn Tâm lý học để xây dựng
hứng thú học tập bộ môn cho giáo sinh trường Sư phạm 10 + 3 (luận án thạc sĩ).
- Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đề tài luận văn “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học Văn học
lớp 10 ở một số trường Phổ thông trung học tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả đề xuất 5 biện
pháp gây hứng thú cho học sinh: Giáo viên phải nâng cao lòng yêu người, yêu nghề và rèn luyện tay
nghề. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh. Tổ chức các giờ dạy mẫu. Chương trình phải
hợp lý và động viên học sinh tích cực, tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
- Năm 1984, Trần Thị Thanh Hương đã thực nghiệm, nâng cao hứng thú học Toán của học
sinh, qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh.
- Năm 1987, Nguyễn Khắc Mai với đề tài “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với
hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên Khoa Tâm lý - Giáo
dục”. Tác giả đã đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú, là do ý nghĩa của môn học, trình độ của
học sinh, phương pháp giảng dạy của giảng viên.
- Năm 1988, Vũ Thị Nho với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với năng lực học văn của học sinh
lớp 6”. Đề tài đã tiến hành thực nghiệm, để nghiên cứu bước đầu hứng thú về năng lực học văn của
các em học sinh lớp 6.
- Năm 1990, Imkock trong luận án phó tiến sĩ, nhan đề “Tìm hiểu hứng thú đối với môn Toán
của học sinh lớp 8”. Tác giả kết luận: khi có hứng thú, học sinh dường như cũng tham gia vào tiến
trình giảng bài, cũng đi theo những suy luận của giảng viên, nhờ quá trình nhận thức tích cực.
- Năm 1999, Nguyễn Hoài Thu nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học môn ngoại ngữ
của học sinh lớp 10 Phổ thông trung học Hà Nội”.
- Năm 1999, Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tâp các môn lý luận của
sinh viên trường đại học Thể dục thể thao I”. Trong đó, phương pháp, năng lực chuyên môn của
giảng viên, là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh viên”.
- Năm 2000, Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng hứng thú học môn
Toán của học sinh Trung học cơ sở thị xã Tân An”. Kết quả cho thấy, đa số học sinh trong diện điều
trên lớp, cũng như ngoài giờ học, chưa chủ động, tích cực tìm và đọc thêm các tài liệu tham khảo,
chưa hăng hái thảo luận, tranh thủ với thầy và bạn, trong khi học tập môn Tâm lý học đại cương.
Tác giả khẳng định.
+ Hứng thú học tập môn Tâm lý học phát triển chưa cao, chưa đồng đều.
+ Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên, trong đó phải kể đến
yếu tố của giảng viên.
1.2. LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.2.1. Lý luận về hứng thú
1.2.1.1. Khái niệm
Hứng thú là một trong những hiện tượng tâm lý phức tạp. Thuật ngữ hứng thú được sự dụng
khá rộng rãi, trong đời sống hằng ngày, với hàm nghĩa là sự thích thú, yêu thích….thiên về mặt cảm
xúc của con người, nhưng đó chỉ là một dấu hiệu của hứng thú. Dưới góc độ Tâm lý học thì có
nhiều cách giải thích khác nhau về hứng thú. Tuy nhiên, ở đề tài này, tôi lựa chọn khái niệm của
Nguyễn Quang Uẩn làm khái niệm công cụ.
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn:
“Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với
cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”. [32 – tr
173]
Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá
nhân.
Xét về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng. Thể
hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng, sự thích thú được thỏa mãn với
đối tượng.
Một sự vật, hiện tượng nào đó, chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú, khi chúng thoả
mãn 2 điều kiện sau đây:
UĐiều kiện IU:
- Đối tượng có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân. Điều kiện này, quyết định nhận thức trong
cấu trúc của hứng thú. Đối tượng nào, càng có ý nghĩa đối với cuộc sống của cá nhân, càng dễ
dàng tạo ra hứng thú. Đồng thời, chủ thể phải nhận thức được ý nghĩa của đối tượng đó, đối với
cuộc sống của mình. Nhận thức có thể ở mức độ khác nhau, nhận thức càng sâu sắc, đầy đủ, càng
Hứng thú biểu hiện ở 2 mức độ của nó:
- Mức độ I: Hứng thú có hạn
Chủ thể mới dừng lại khi nhu cầu nhận thức về đối tượng được thỏa mãn. Chưa có xúc cảm,
tình cảm với đối tượng đó, chưa tiến hành hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó.
- Mức độ II: Hứng thú toàn vẹn
Đối tượng hứng thú thúc đẩy chủ thể hoạt động.
Hứng thú biểu hiện ở nội dung của nó:
- Hứng thú có nội dung cao như: Hứng thú học tập, nghiên cứu khoa học, đọc sách…
- Hứng thú có nội dung thấp như: chơi tem, mặc đúng thời trang
Hứng thú biểu hiện chiều rộng, chiều sâu của nó:
- Những người có hứng thú đối với nhiều đối tượng khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau,
thường có cuộc sống hời hợt, bề ngoài.
- Những người chỉ tập trung hứng thú vào một hoặc một vài đối tượng thì cuộc sống thường
đơn điệu.
- Có người hứng thú vừa rộng, lại vừa sâu như C.Mác, M.V. Lơmanơcốp, A.X.Puskin
Trong thực tế, những người thành đạt là những người biết giới hạn hứng thú của mình trong
phạm vi hợp lý, trên nền những hứng thú khác nhau, họ xác định được một hoặc một số hứng thú
trung tâm, mang lại ý nghĩa thúc đẩy con người hoạt động.
Phạm Tất Dong cho rằng: hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau
- Biểu hiện trong khuynh hướng của con người đối với hoạt động có liên quan tới đối tượng
của hứng thú đó.
- Biểu hiện trong sự trải nghiệm thường xuyên những tình cảm dễ chịu do đối tượng này gây
ra.
- Biểu hiện trong khuynh hướng bàn luận thường xuyên về đối tượng này, về việc có liên
quan tới chúng.
- Biểu hiện trong sự tập trung chú ý của con người vào đối tượng của hứng thú.
- Biểu hiện trong sự ghi nhớ nhanh và lâu những điều có quan hệ gần gũi với đối tượng này,
trong hoạt động tưởng tượng phong phú, trong tư duy căng thẳng những vấn đề có liên quan đến đối
tượng của hứng thú đó.
Theo G.I.Sukina: Hứng thú biểu hiện ở những khía cạnh sau:
- Về mặt kết quả
Không nản chí khi gặp thất bại, biết rút ra những bài học từ thất bại đó để đi đến thành công.
Thường xuyên đạt kết quả tốt trong công việc.
1.2.1.3. Mối quan hệ của hứng thú với đặc điểm, trạng thái tâm lý khác.
Hứng thú là một thuộc tính của xu hướng trong nhân cách. Do đó, nó không tồn tại riêng lẻ,
mà quan hệ chặt chẽ với các thuộc tính khác của xu hướng và các đặc điểm, trạng thái tâm lý khác.
Qua tài liệu [11], [16], [47] ta rút ra mối quan hệ giữa hứng thú với đặc điểm, trạng thái tâm lý khác
như sau:
Hứng thú với nhu cầu
Một số nhà tâm lý học đã đồng nhất hứng thú với nhu cầu, do chúng có một số đặc điểm
chung, nhưng thực chất chúng không đồng nhất với nhau.
Giữa chúng có một số điểm khác biệt:
- Hứng thú luôn có dấu hiệu cảm xúc tích cực đi kèm theo, nhu cầu không cần yếu tố hấp dẫn.
UVí dụU: người học có nhu cầu học một số môn học không gây hứng thú ở họ, nhưng hứng thú
phải gắn liền với yếu tố hấp dẫn.
- Cá nhân nhận thức rõ đối tượng hứng thú, nhưng nhu cầu thì đối tượng có thể chưa ý thức
được rõ ràng.
Nhu cầu và hứng thú có quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ sở của hứng thú.
Ngược lại, hứng thú có thể tạo ra nhu cầu cá nhân. Khi có hứng thú với một cái gì, thì cá nhân sẽ
hoạt động tích cực chiếm lĩnh đối tượng, để thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống, lúc đó xuất hiện nhu
cầu mới cao hơn.
Hứng thú với chú ý
Chú ý là đặc điểm tiêu biểu của hứng thú, chú ý có thể làm nảy sinh hứng thú. Hứng thú làm
tăng sự chú ý và hướng chú ý vào đối tượng nhất định.
Chú ý có thể hướng vào đối tượng mà con người không hứng thú. Con người chú ý vào đối
tượng, chỉ vì họ ý thức được tầm quan trọng, sự cần thiết của đối tượng mà thôi. Nhưng thường khi
con người hứng thú với đối tượng nào đó, thì người đó luôn tập trung chú ý của mình vào đó, nhằm
tăng hiệu quả của hoạt động, phù hợp với hứng thú của mình. Hơn nữa, khi con người chú ý vào đối
tượng, mà đối tượng đó đưa lại cho con người một sự hấp dẫn, thì hứng thú sẽ được hình thành.
Hứng thú với tình cảm
Trong việc bồi dưỡng hứng thú cho con người, tốt nhất làm cho con người vừa bị lôi cuốn
bởi đối tượng, vừa hiểu được ý nghĩa của đối tượng. Ý nghĩa quan trọng của đối tượng, do những
nguyên nhân khác nhau quy định: nhu cầu, năng lực, ý thức trách nhiệm [16 – tr 186]
b. Con đường cơ bản hình thành, phát triển hứng thú xét trên bình diện phát triển các hiện tượng
tâm lý.
- Từ nhu cầu tới hứng thú
Do cá nhân có nhu cầu cấp thiết về một cái gì đó, không thực hiện được cá nhân cảm thấy
khó chịu. Dần dần để thỏa mãn nhu cầu, cá nhân tìm tòi, say mê và có hứng thú đối với đối tượng
đó.
- Từ tình cảm - nhận thức đến hứng thú
Hứng thú bắt đầu hình thành do sự hấp dẫn mạnh mẽ của một đối tượng nào đó đối với cá
nhân. Cá nhân cảm thấy hiện tượng đó đem lại cho mình một mối tình cảm đặc biệt, cá nhân hiểu rõ
ý nghĩa của đối tượng ấy. Từ đó, nảy sinh hứng thú.
Thái độ cảm xúc đối với đối tượng, là một trong những dấu hiệu không thể thiếu của hứng
thú. Nhưng không phải thái độ cảm xúc nào cũng gây nên hứng thú. Những biểu hiện cảm xúc tích
cực, bền vững của cá nhân đối với đối tượng, mới trở thành một dấu hiệu không thể thiếu được của
hứng thú, tích cực, bền vững.
- Từ nhận thức – tình cảm đến hứng thú
Khi người học nhận thức đúng đắn về vấn đề gì đó, thì dễ xây dựng ở các em một tình cảm
đối với nó. Từ đó, làm nảy sinh hứng thú. [12 – tr 132]
1.2.1.5 Phân loại hứng thú
Tùy theo góc độ xem xét vấn đề mà có nhiều cách phân loại khác nhau. Dựa vào vào các tài
liệu [12], [16], [36] có một số cách phân loại sau:
Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú: chia ra làm 2 loại:
- Hứng thú thụ động: còn gọi là hứng thú lĩnh quan, là loại hứng thú dừng lại ở việc tri giác
đối tượng gây nên hứng thú, không thể hiện mặt tích cực để nhận thức sâu hơn đối tượng, làm chủ
đối tượng và hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực mình hấp thụ.
UVí dụU: thích nghe nhạc, khoái cảm khi xem tranh….
- Hứng thú tích cực: không chỉ chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú, mà lao vào hoạt
động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng. Nó là một trong những nguồn, kích thích sự phát
Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú: chia ra làm 2 loại:
- Hứng thú trực tiếp: hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động, ít chú ý đến kết quả hoạt
động như: hứng thú với quá trình nhận thức, quá trình lao động và hoạt động sáng tạo.
- Hứng thú gián tiếp: hứng thú với kết quả hoạt động, chứ không tham gia trực tiếp vào quá
trình đó. Chẳng hạn, hứng thú muốn có học vấn, muốn có nghề nghiệp, có địa vị xã hội, có một
chức vụ nhất định…
Hứng thú đạt mức lý tưởng, thường có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tích cực và tính bền
vững, giữa chiều rộng và chiều sâu. Người có hứng thú lý tưởng là có một hứng thú trung tâm sâu
sắc, trong cuộc sống và hứng thú đó dựa trên những hứng thú rộng rãi và nhiều mặt.
1.2.2. Hứng thú nhận thức
1.2.2.1. Khái niệm
a. Khái niệm nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm,
hành động).
Nhận thức là một quá trình tâm lý; có mở đầu, diễn biến, kết thúc. Nó diễn ra trong một thời
gian tương đối ngắn giúp con người đáp ứng kịp thời với những kích thích trong hiện thực tác động
đến mình.
Ở con người, quá trình nhận thức thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức con
người là một hoạt động gọi là hoạt động nhận thức.
Đặc trưng nổi bật của hoạt động nhận thức là phản ánh bản thân hiện thực khách quan.
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh
hiện thực khác nhau (Cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng) và mang lại những sản phẩm khác
nhau về hiện thực khách quan (hình tượng, biểu tượng, khái niệm). Đó là những cấu tạo tâm lý.
Ngoài ra, còn có một điều kiện đảm bảo cho mỗi quá trình nhận thức phản ánh được tốt, đó
là trạng thái chú ý
Như vậy, căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai
giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác). Nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng). Hai
mức độ nhận thức nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động lẫn nhau.
V.I.Lênin đã tổng kết mối quan hệ này thành quy luật của hoạt động nhận thức nói chung
như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là
Hạt nhân của hứng thú nhận thức là các quá trình suy nghĩ, các qúa trình này được biểu lộ ra
với màu sắc cảm xúc rõ rệt.
Hứng thú nhận thức là một cấu tạo tâm lý mang tính chất cá nhân sâu sắc.
Việc thỏa mãn hứng thú nhận thức không dẫn tới trạng thái bão hòa và mãn nguyện như
thường thấy khi nhu cầu được thỏa mãn. Ngược lại, khi nhu cầu nhận thức được thỏa mãn thì
nguyện vọng nắm kiến thức lại có một kích thức mới, khiến hứng thú nhận thức được tiếp tục củng
cố. [38 – tr 27]
1.2.3. Hứng thú học tập
1.2.3.1. Khái niệm
Hứng thú nhận thức liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau trong hoạt động nhận thức. Hứng
thú học tập là một dạng của hứng thú nhận thức.
Theo tác giả Phan Ngọc Liên:
“Hứng thú nhận thức trong hoạt động học tập (hứng thú học tập) là sự định hướng được lựa
chọn nhằm mục đích của việc vươn lên nắm các kiến thức học tập một cách sâu sắc và toàn diện,
đồng thời vận dụng các kiến thức ấy vào cuộc sống” [23 – tr 6]
Theo P.A.Ruđích:
Trong hoạt động học tập và nghiên cứu sự xuất hiện hứng thú là đặc biệt quan trọng. Trong
trường hợp đó, hứng thú được xác định như một xu hướng nhận thức của cá nhân có kèm theo
những cảm xúc tốt trong quá trình thỏa mãn nhu cầu đối với một thông tin mới, trước hết và chủ yếu
là nhờ các cảm giác trí tuệ như ngạc nhiên, ước đoán, tính rõ ràng, lòng tin tưởng [45 – tr 335]
Hứng thú học tập bao gồm các yếu tố sau:
Yếu tố nhận thức: là thái độ nhận thức của cá nhân đối với nội dung môn học ở một mức độ
nào đó. Cá nhân ý thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của kiến thức học tập, trong cuộc sống và đối
với bản thân cá nhân, hứng thú với nó, muốn hiểu biết về nó kĩ hơn, sâu sắc hơn.
Như vậy, không có yếu tố nhận thức thì không có hứng thú học tập. Ngược lại, hứng thú học
tập là điều kiện, để nhận thức nội dung môn học một cách cơ bản hơn, sâu sắc hơn.
Tuy nhiên, thái độ nhận thức không phải là hứng thú học tập, nó không thể thay thế cho hứng
thú học tập.