Số hóa bởi trung tâm học liệu
§¹i häc th¸i nguyªn
Tr-êng ®¹i häc s- ph¹m
§¹i häc th¸i nguyªn
Tr-êng ®¹i häc s- ph¹m
BÙI THỊ THU HÀ MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Văn kiện Đại hội IX Đảng Cộng Sản Việt Nam quán triệt quan điểm giáo
dục “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương
pháp dạy và học Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ sáng tạo của SV, sinh viên
đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề ” Điều 17. Luật giáo
dục Việt Nam- 2005 khẳng định “Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ
yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục
đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác”.
Như vậy đổi mới chương trình giáo dục phải là quá trình đổi mới từ mục
tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo
dục. Trong đó đổi mới kiểm tra, đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định
năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi
mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo con người theo
mục tiêu giáo dục.
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua thực hiện đổi mới giáo dục đã trôi qua,
ngoài những kết quả đã đạt được về quy mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, xây
dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học thì chất lượng giáo dục
vẫn là một vấn đề làm cho chúng ta phải băn khoăn nhiều nhất. Hiệu quả của đổi
mới phương pháp giáo dục ở nhiều nơi còn quá chênh lệch và không cao mà nguyên
nhân chủ yếu là do nhận thức và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá còn chưa
cập nhật với đổi mới phương pháp giảng dạy “ thi thế nào thì học thế ấy”.
, đổi mới kiểm tra đánh giá làm động lực để đổi mới
phương pháp dạy học có hiệu quả. Trong cả một quá trình dạy học KT- ĐG thường
ở công đoạn cuối cùng, đồng thời là khởi điểm của một quá trình giáo dục tiếp theo
với yêu cầu và chất lượng cao hơn. Một câu đặt ra là việc dạy học thế nào để đạt
được các mục tiêu và kiểm tra thế nào để đánh giá các mức độ đạt được các mục
- Khách thể
Quá trình dạy học Vật lý ở trường Cao đẳng Công nghiệpThái Nguyên.
- Đối tượng nghiên cứu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
3
Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, nội dung và yêu cầu của việc
giảng dạy phần Cơ học -Vật lý đại cương ở trường Cao đẳng Công nghiệp Thái
nguyên.
4. Giả thiết khoa học.
Nếu xây dựng được bộ công cụ kiểm tra đánh giá phần Cơ học (Vật lý đại
cương) phù hợp với những quan điểm hiện đại thì sẽ đánh giá chính xác kết quả học
tập của sing viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học
tập.
- Nghiên cứu cấu trúc đặc điểm nội dung chương trình dạy học phần Cơ học
trong chương trình Vật lý đại cương, trên cơ sở đó xác định mục tiêu nhận thức của
sinh viên cần đạt được.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trong bộ công cụ kiểm tra đánh giá phần Cơ học
trong chương trình Vật lý đại cương ở trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá bộ công cụ.
- Phân tích kết quả học tập của sinh viên khi giáo viên sử dụng bộ công cụ
này, từ đó đề xuất ý kiến của mình đối với quá trình dạy học.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, xử lý thông tin từ các tài liệu có liên
đặc biệt cho phép đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của quá trình dạy học.
9. Cấu trúc và nội dung luận văn.
Luận văn gồm:
Mở đầu
Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bộ
công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập vật lý của sinh viên trường Cao
đẳng Công nghiệp Thái nguyên.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
Chƣơng II: Xây dựng và sử dụng bộ công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập phần cơ học (vật lý đại cương) của sinh viên trường Cao đẳng
Công nghiệp Thái nguyên.
Chƣơng III: Thực nghiệm sư phạm.
Kết luận chung.
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.
giáo dục lĩnh vực nhận thức. Hay “Bài giảng về những cơ sở kỹ thuật trắc nghiệm”
của các tác giả P.Griffin và J.Jard.
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hoá đất nước và yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi ngành giáo dục
nước ta phải đổi mới một cách toàn diện nội dung, phương pháp, phương tiện dạy
nh -
, kiểm tra và đánh giá: “Củng cố và hoàn
thiện hệ thống khảo thí và đánh giá chất lượng giáo dục ở tất cả các tỉnh, thành
phố. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác khảo thí
và đánh giá chất lượng giáo dục. Triển khai kế hoạch đánh giá chất lượng giáo
dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp”.
Năm 1993, với dự định thay đổi hình thức KT-ĐG, Bộ GD và Đào tạo đã có
những hoạt động chuẩn bị cụ thể như tổ chức nhiều cuộc hội thảo, seminar, mời các
chuyên gia nước ngoài phối hợp tổ chức tại Huế, Hà nội và TP HCM nhằm nghiên
cứu các phương pháp thi trắc nghiệm. Năm 1995, môn học “Đánh giá giáo dục” đã
Số hóa bởi trung tâm học liệu
7
chính thức được đưa vào chương trình giảng dạy ở các trường sư phạm. Từ đó đến
nay đã có nhiều tài liệu và bài báo bàn về định hướng KT-ĐG, làm rõ các khái
niệm, các phương pháp KT-ĐG cụ thể: Trần Thị Tuyết Oanh [25] với “Đánh giá và
đo lường kết quả học tập”; Bộ GD &ĐT, “ Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong
giáo dục”; Tác giả Lê Gia Thanh [29] với “Đổi mới KTĐG ở trường THPT”; “Đo
lường và đánh giá KQHT” của các tác giả [8] Lê Trung Chính, Đoàn Văn Điều, Võ
Văn Nam, Ngô Minh Tiên (2003), Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường ĐHSP TP
HCM…
Với bộ môn Vật lý cũng có nhiều công trình nghiên cứu như: Nguyễn Văn
sẽ kiểm soát được quá trình dạy học và mục đích đạt được các mục tiêu của chương
trình học. Tuy nhiên, hiện nay việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng bộ công cụ
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập phần Cơ học (Vật lý đại cương) của sinh viên
trường Cao đẳng Công nghiệp Thái nguyên còn chưa được đề cập.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ.
1.2.1 Các khái niệm và vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá.
* Khái niệm kiểm tra:
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV nhằm theo dõi quá trình học tập của
SV, đưa ra các giải pháp kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy của thầy, phương
pháp học học của trò, giúp SV tiến bộ và đạt được mục tiêu giáo dục.
Theo Xavie Roegiers: kiểm tra là một quá trình trong đó các tiêu chí đã
được định ra từ trước và ta cần thực hiện việc xem xét sự phù hợp của sản phẩm với
các tiêu chí đó mà không quan tâm đến việc đưa ra các quyết định.
Một quan niệm khác cho rằng: “Kiểm tra là quá trình xác định mục đích, nội
dung, phương pháp, thu thập số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của
người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển”.
Theo từ điển Tiếng việt, kiểm tra được hiểu là: “Xem xét tình hình thực tế để
đánh giá, nhận xét” [34]. Như vậy, việc kiểm tra cũng cung cấp những dữ kiện,
những thông tin cần thiết để làm cơ sở cho việc đánh giá SV.
* Khái niệm đánh giá:
Có nhiều định nghĩa về đánh giá tùy thuộc mục đích, cấp độ, đối tượng đánh
giá.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
9
B
Trình độ SV
trước khi dạy
C
Các biện pháp
tổ chức DH
D
KT-ĐG kết
quả
Số hóa bởi trung tâm học liệu
10
Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học.
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn
dạy học như thế nào. KTĐG kết quả của người học là một bộ phận tất yếu, rất quan
trọng và không thể tách rời trong QTDH. Một đánh giá tốt luôn đưa đến kết quả là
củng cố việc học tập tốt. Đây là một công việc thường xuyên của GV Vật lý cũng
như GV các môn khác. Vì nếu không kiểm tra đánh giá, người ta không biết được
thầy dạy cái gì và trò học được cái gì, có đạt được mục tiêu đào tạo đề ra hay không
và đạt thì đạt đến đâu?
Qua việc KTĐG những gì được và chưa được của QTDH trước làm cơ sở hình
thành một QTDH tiếp theo, KT-ĐG được thừa nhận là một hoạt động giữ vai trò làm
thúc đẩy cho quá trình học tập. KT-ĐG giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ
giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập, khắc
phục được những thiếu sót, những thông tin về trình độ đạo đức, trình độ tri thức.
Đồng thời KT-ĐG có vai trò giáo dục đối với SV, giúp hình thành ở các em thói
quen tự kiểm tra, tự đánh giá năng lực học tập và điều chỉnh hoạt động học tập của
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy, mối quan tâm đầu tiên của thày trong quá trình thiết kế
và hoạch định các hoạt động dạy là phải dạy cái gì và dạy như thế nào? Ngược lai, trò
lại thường tập trung chú ý trước hết vào việc các em sẽ được yêu cầu làm gì và sẽ được
đánh giá như thế nào? Do vậy, chỉ có KT-ĐG mới phản ánh đầy đủ việc dạy của thày
và việc học của trò, thể hiện được sự giao tiếp giữa thày và trò để thày xác định được
sự tác động đến trò như thế nào cho phù hợp?
Kiểm tra đánh giá có vai trò quan trọng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học
và giúp các cấp quản lý có cái nhìn khách quan hơn về chương trình, cách tổ chức đào
tạo. Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan thì KT- ĐG sẽ phản
ánh QTDH và chất lượng của quá trình đào tạo đó. Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn
GV xem xét việc dạy và
học nhƣ thế nào?
- Tôi được đánh giá
theo kiểu nào
- - Tôi cần phải biết
những gì?
- - Như vậy các mục tiêu
học tập là gì?
- - Các phương pháp học
tập nào tôi cần áp
dụng?
Đánh giá có thể là
bƣớc xem xét cuối
cùng khi GV thiết kế
quá trình DH.
Xem xét lại vị trí
của việc ĐG kết
quả học tập của
SV nhƣ là một
công cụ chiến
lƣợc nhằm thúc
đẩy quá trình
DH.
Hình 1.2: Sơ đồ mô tả một số quy trình và nhận thức trái ngược nhau
giữa GV và SV trong quá trình dạy học [10]
Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
- Dễ quản lý hơn vì bản thân người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm
tra.
Kiểm tra viết thường có hai dạng: trắc nghiệm tự luận (thường gọi là tự
luận) và trắc nghiệm khách quan (thường gọi là trắc nghiệm). Tùy theo mục tiêu
của chương trình hay môn học, tùy theo mỗi trường hợp riêng biệt, trắc nghiệm tự
luận hay trắc nghiệm khách quan sẽ được lựa chọn sau khi cân nhắc vì loại KT nào
cũng có những ưu khuyết điểm riêng của nó.
* Trắc nghiệm tự luận:
Là dạng trắc nghiệm đòi hỏi sinh viên phải tự xây dựng câu trả lời, các câu trả lời
là một bài tiểu luận, một bài diễn đạt bằng cách viết tóm tắt đoạn văn. Nó thường là loại
câu hỏi mở, tức là giáo viên đưa ra câu hỏi buộc SV phải nhận biết thông tin, phải biết
sắp xếp, diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác, mạch lạc trong một bài viết dài và
tự đưa ra câu trả lời để giải quyết vấn đề mà câu hỏi đặt ra. Dựa vào những câu trả lời
được viết ra, giáo viên cho điểm hoặc xác định các mức độ kết quả bài kiểm tra, bài. thi
Ưu điểm.
- Giúp đo lường các mục tiêu đã xác định từ trước.
- TNTL tạo cơ hội để sinh viên thể hiện khả năng tự do độc lập suy nghĩ,
phát huy tính sáng tạo, trí tuệ và cảm xúc. Đồng thời đánh giá được kiến thức, thái
độ của người học.
- Bài TNTL thường cần có nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi.
- TNTL được sử dụng rộng rãi vì nó cho phép kiểm tra nhiều người học
cùng một lúc, câu trả lời của người học được lưu lại trên
giấy để chấm. Cho phép
người học cân nhắc câu trả lời của mình nhiều hơn và ở đây cũng phần nào giảm
bớt sức ép tâm lý của người học trong kỳ thi, rèn luyện cho người học có khả năng
trình bày một vấn đề.
- Riêng đối với bài tiểu luận dài người học có thể có thời gian tìm hiểu
* Trắc nghiệm khách quan:
Trắc nghiệm khách quan: gọi là trắc nghiệm khách quan vì việc chấm bài
đảm bảo tính khách quan hơn bài tự luận. Kết quả chấm điểm sẽ như nhau, không
phụ thuộc vào việc ai chấm bài trắc nghiệm đó. Đây là dạng trắc nghiệm có sử dụng
các câu hỏi hoặc bài tập có kèm theo những câu trả lời cho sẵn hoặc nếu SV phải
viết câu trả lời thì câu trả lời là câu ngắn. Thông thường có nhiều câu trả lời cho
mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một câu là đúng hay câu trả lời tốt nhất. Kết quả được cho
dựa trên việc đếm số lần SV trả lời đúng trong số những câu trả lời được đưa ra.
Ưu điểm.
- Bài TNKQ có rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra
được một cách hệ
thống và rộng rãi kiến thức, kỹ năng của SV nên tránh
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
.
- Bài TNKQ có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một khoảng
thời gian ngắn.
- Chấm bài TNKQ rất nhanh, chính xác, kết quả khách
quan đồng thời có thể
sử dụng các phương tiện hiện đại (như máy vi tính) trong chấm bài và phân tích
kết quả kiểm tra.
Nhược điểm.
- Bài TNKQ rất khó đánh giá được khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ và
quá trình tư duy của SV đi đến câu trả lời, không góp phần rèn luyện cho SV khả
năng trình bày, diễn đạt ý kiến của mình. Nhược điểm lớn nhất của bài TNKQ là khó
đánh giá được chiều sâu trong nhận thức của sinh viên, nhất là những tri thức phải đòi
- Các câu lựa chọn: là tên gán cho các phương án để chọn trong một câu trắc
nghiệm.
- Các câu nhiễu: là các phương án lựa chọn sai trong câu trắc nghiệm.
- Đáp án: là danh mục các câu trả lời đúng.
Hình 1.3: Các loại trắc nghiệm.
1.2.2.2 Phân loại theo phƣơng thức kiểm tra- đánh giá [11][25]
Đánh giá thường xuyên (đánh giá hàng ngày -Fomative).
Là hình thức đánh giá được giáo viên tiến hành hàng ngày thông qua quan
sát một cách có hệ thống các hoạt động của SV qua các khâu kiểm tra bài cũ, củng
cố bài mới học, ôn tập, luyện tập,… nhằm phát hiện những sai sót về kiến thức của
SV hoặc những khó khăn trong việc học mà SV gặp phải để có biện pháp khắc phục
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
kịp thời. Đánh giá kết quả học tập của SV ta nên đánh giá do nhiều yếu tố: Chuyên
cần, mục tiêu học tập, điểm…
Nói cách khác, đánh giá nhằm theo dõi quá trình học tập của SV và mức độ
tiếp thu của các em, cung cấp những thông tin phản hồi liên tục cần thiết cho GV
lẫn SV. Khi ĐG hàng ngày được tiến hành với nhiều hình thức KT khác nhau, GV
có thể chuẩn đoán chi tiết hơn nhằm phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản của các
khó khăn và tìm ra các biện pháp sửa chữa, điều chỉnh hoạt động của cả GV và SV,
tạo điều kiện để SV tiếp tục học nội dung mới ở mức độ cao hơn.
Các hình thức KT-ĐG thường xuyên gồm có kiểm tra vấn đáp và thuyết
trình.
Đánh giá định kỳ.
Hình thức này được thực hiện sau khi học xong một chương, một vài chương
được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của sinh viên sau khi học xong
một chủ đề, một chương hoặc kết thúc một môn học.
Đề kiểm tra là những câu hỏi hoặc bài tập được đưa ra, đòi hỏi SV phải trả lời, giải quyết
bằng hình thức trình bày miệng, viết hoặc thực hành, có quy định tương đối cụ thể về thời
gian thực hiện, qua đó nhằm xem xét kết quả học tập của SV trong quá trình học tập bộ môn.
Để thực hiện tốt các chức năng của đánh giá, việc xây dựng bộ công cụ kiểm tra (bao gồm
các bài kiểm tra) giống như một thước đo cần được tiến hành vào đúng các thời điểm trong
quá trình dạy học và cần được sắp xếp theo một hệ thống hợp lí. Có nghĩa là hệ thống đề
kiểm tra môn học một mặt cần đáp ứng đầy đủ các cấp độ, các hình thức được quy định như:
KT-ĐG thường xuyên, KT-ĐG định kì, KT-ĐG tổng kết. Mỗi đề kiểm tra trong hệ thống
cần có mối quan hệ lôgích về mặt nội dung, phản ánh được sự liên kết và phát triển của các
kiến thức, kĩ năng được trang bị và rèn luyện cho SV qua môn học, thể hiện được quan điểm
xây dựng và triển khai chương trình và sách giáo khoa, tạo nên giá trị đánh giá cao của bộ
công cụ [40].
Để đánh giá chất lượng của một đề kiểm tra, người ta thường dùng một số đại lượng đặc
trưng như: độ khó và độ phân biệt (chỉ số về chất lượng của mỗi câu hỏi trong đề kiểm tra,
thể hiện sự phân hoá cho các đối tượng SV), độ tin cậy và độ giá trị (chỉ số về chất lượng của
cả bài kiểm tra căn cứ vào độ chính xác của phép đo và mức độ đạt được mục tiêu đặt ra
trong phép đo). Những chỉ số trên được xác định qua việc thống kê và phân tích kết quả làm
bài của SV đối với mỗi đề kiểm tra.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
19
Như vậy, để một đề kiểm tra với tư cách là một phép đo thực sự có giá trị, đòi hỏi người
GV cần nắm vững mục tiêu của quá trình dạy học, nội dung và phương pháp dạy học của
mỗi bài học cũng như mục tiêu đánh giá của mỗi bài kiểm tra.
Ngoài ra bộ công cụ còn cho phép đánh giá được toàn diện, đó là cho phép SV
pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết. KQHT trong lĩnh vực này đòi
hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây.
4. Phân tích: Được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các
phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó. Điều đó có thể
bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận, và
nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm. KQHT ở đây thể hiện một
mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng và nó đòi hỏi một sự thấu hiểu
cả nội dung và hình thức cấu trúc của tài liệu.
5. Tổng hợp: Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để
hình thành một tổng thể mới. Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp
đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu),
hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin). KQHT
trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào
việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.
6. Đánh giá: Được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài liệu (tuyên
bố, tiểu thuyết, thơ, báo cáo nghiên cứu). Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất
định. Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài
(phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các
tiêu chí. KQHT trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức và nó
chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác.
Người ta đã cố gắng phân chia mỗi mức độ kể trên thành hai ba thang bậc chi
tiết hơn và cho đến nay riêng trong lĩnh vực nhận thức ở trình độ đại học có đến 15
thang bậc. Tuy nhiên hiện nay trong dạy học đại học, chúng ta cũng chủ yếu đánh
giá ở 3 mức độ đầu.
Cảm xúc. Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến các mục đích thuộc về hứng thú, các
thái độ và giá trị, bao gồm 5 mức độ.
Tâm vận. Lĩnh vực tâm vận liên quan đến các kĩ năng thao tác chân tay dùng
đến cơ bắp hoặc những sự đáp ứng vận động hoặc đòi hỏi có sự phối hợp giữa cơ
Số hóa bởi trung tâm học liệu
Sử dụng
Dự đoán
Chứng minh
Định nghĩa
Phát biểu
Viết
Kể tên
Liệt kê
Nhận biết
Giải thích
Minh họa
Chỉ ra
Phân biệt
So sánh
Trình bày
Áp dụng
Tính
Tìm ra
Sử dụng
Dự đoán
Chứng minh
Vậy mục tiêu là giá trị cụ thể cần đạt tới. Mục tiêu môn học là những gì mà
SV đạt được trong quá trình học tập ở trong nhà trường. Đây là cơ sở xác định các
tiêu chí và cách thức đánh giá kết quả học tập của SV.
Xác định các mục tiêu cần đo.
Để xây dựng một bài kiểm tra tốt cần liệt kê chi tiết các mục tiêu giảng dạy
Ví dụ:
KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA [2]
(Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Môn: Lớp:
(Thời gian kiểm tra: phút )
Tên Chủ đề
(nội dung,
chương)
Nhận biết
(cấp độ 1)
Thông
hiểu
(cấp độ 2)
Vận dụng
Cộng
Cấp độ
thấp
(cấp độ 3)
Cấp độ
cao
(cấp độ 4)
Chủ đề 1
Chuẩn
KT,
KNcần
kiểm tra
Chuẩn KT,
KNcần
kiểm tra
Chuẩn KT,
KNcần
kiểm tra
Chuẩn KT,
KNcần
kiểm tra
Số câu
Số điểm Tỉ lệ
%
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
điểm= %
Số hóa bởi trung tâm học liệu
23
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
điểm= %
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ %
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm
Nếu một chiều của ma trận có m nội dung kiến thức cần kiểm tra,
chiều
kia có n mức độ nhận thức cần đành giá thì ma trận sẽ có m.n ô. Trong mỗi ô của ma
trận là số lượng câu hỏi và trọng số điểm dành cho các câu hỏi có trong ô đó. Quyết
định số lượng câu hỏi cho từng mục tiêu tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của từng
mục tiêu đó. Thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm qui định cho từng mạch kiến
thức, từng mức độ nhận thức.