XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHƯƠNG SỰ PHẢN XẠ VÀ SỰ KHÚC XẠ ÁNH SÁNG CỦA HỌC SINH LỚP 12 THPT - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA : VẬT LÝ
**********
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHƯƠNG "SỰ
PHẢN XẠ VÀ SỰ KHÚC XẠ ÁNH SÁNG"
CỦA HỌC SINH LỚP 12 THPT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy Vật lý
HÀ NỘI
1

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 5
1.Cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học
sinh trong dạy học ở nhà trường phổ thông…………………………. 5
2.Tìm hiểu thực trạng dạy học và kiểm tra chương V vật lý 12 THPT 14
3. Mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản 15
4. Hệ thống câu hỏi TNKQNLC 24
5. Phương án thực nghiệm sư phạm 45
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay hệ thống tri thức khoa học, kĩ thuật và công nghệ trên thế giới đang
phát triển như vũ bão. Chính sự phát triển đó đã tạo ra một kỉ nguyên thông tin

sinh ôn tốt nghiệp và thi vào các trường chuyên nghiệp. Trong đó, các bài tập
chương V “ Sự phản xạ và sự khúc xạ ánh sáng” có mặt trong hầu hết các đề thi
tốt nghiệp và thi đại học. Với chương này, từ trước đến nay, giáo viên thường
hay dùng phương pháp KT tự luận. Chính vì thế việc KT mất nhiều thời gian và
đánh giá mang nặng tính chủ quan. Vì vậy việc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan để kiểm tra kiến thức học sinh chương " Sự phản xạ và sự
khúc xạ ánh sáng” là cần thiết.
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào công cuộc
đổi mới sự nghiệp giáo dục, chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
“ Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để
KTĐG kết quả học tập chương “ Sự phản xạ và sự khúc xạ ánh sáng” của
học sinh lớp 12 THPT”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở ngiên cứu lý luận về phương pháp KT dưới hình thức TNKQ, xác
định mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản chương V "Sự phản xạ và sự
khúc xạ ánh sáng" SGK vật lý 12 để xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa
chọn nhằm KT kiến thức HS, khắc phục khó khăn do KT cũ, KT thực chất sự
nắm vững kiến thức, kĩ năng của HS, góp phần nâng cao kết quả học tập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
Nghiên cứu cơ sở lý luận về KTĐG kết quả học tập của học sinh, đặc biệt
chú ý đến kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn.
TÌm hiểu thực trạng dạy học và kiểm tra chương V. Sự phản xạ và sự khúc xạ
ánh sang ở lớp 12THPT.
Xác định mức độ yêu cầu nắm vững những kiến thức cơ bản chương V Sự
phản xạ và sự khúc xạ ánh sáng trong SGK vật lý 12.
Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiêm khách quan nhiều lựa chọn cho
chương "Sự phản xạ và sự khúc xạ ánh sáng".
Đề ra phương án thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng
hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn trong giảng dạy vật lý THPT.

đạo.Do đó người ta thường nói “ KT- ĐG” hoặc là “ ĐG thông qua KT”.
- Mục tiêu cơ bản của thầy và trò là mong muốn dạy tốt, học tốt. Dạy tốt chỉ
có ý nghĩa khi kết quả của nó dẫn tới đích là học tốt. Vì vậy muốn ĐG “dạy tốt”
thì trước hết phải kiểm tra xem có “học tốt” không đã. Nếu thường xuyên KTĐG
một cách nghiêm túc, công bằng sẽ là động lực thúc đẩy quá trình học tốt.
- Mặc dù vậy ĐG là một quá trình hết sức phức tạp luôn chứa đựng nguy cơ
không chính xác, dễ sai lầm nên khi đổi mới cách dạy học phải chú ý đổi mới
cách thức KT,ĐG hợp lý hơn, độ tin cậy cao hơn.
- Sự ĐG liên tục phải làm cho người học nắm được thông tin về kết quả học
tập của bản thân, từ đó tự uốn nắn những lệch lạc của mình, có ý thức thi đua học
tốt với chính mình.
6
1.1.3. Hai loại đánh giá trong dạy học
1.1.3.1. Đánh giá mang tính đào tạo
Đây là sự ĐG mang tính thường xuyên liên tục nhằm giúp học sinh tự kiểm
tra mình( liên hệ nghịch trong) để rồi tự điều chỉnh kế hoạch tự học. Nó còn
mang tính chuẩn đoán ( tìm ra nguyên nhân của cả tiến bộ và lệch lạc, dự đoán
xu hướng phát triển, tìm biện pháp xử lí để tiến lên trong học tập). Loại KT-ĐG
này không nên dùng để xử phạt.
1.1.3.2. Đánh giá xác nhận
Loại này dùng để xác nhận trình độ đạt tới trong học tập sau một thời gian
đào tạo. Nó có tác dụng làm cơ sở cho những quyết định pháp lý đối với học sinh
như cho lên lớp, công nhận tố nghiệp, xác nhận đạt yêu cầu về một môn học. Nó
còn có chức năng ngăn trở những học sinh không đạt yêu cầu không được hành
nghề trong xã hội. Loại ĐG này diễn ra không thường xuyên và còn được gọi là
KT, tổng kết, tích lũy, thưởng phạt.
1.1.4.Những nguyên tắc dạy học cần tuân thủ khi đánh giá
- ĐG phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
- Công cụ KT ĐG phải có tính hiệu lực.
- ĐG phải đảm bảo độ tin cậy, tính bền vững.

“sai” có thể gây ra tác
dụng tiêu cực trong ghi
nhớ kiến thức
-Thích hợp cho kiểm tra
vấn đáp nhanh
-Thường sử dụng khi
không tìm được đủ
phương án cho câu
nhiều lựa chọn
1.2.1.2. Trắc nghiệm ghép đôi ( xứng hợp).
Trong loại này có hai cột danh sách, những chữ, nhóm chữ hay câu học sinh
sẽ ghép một chữ, một nhóm chữ hay câu của cột thứ nhất với một phần tử tương
ứng của cột thứ hai. Số phần tử trong hai cột có thể bằng nhau hoặc khác nhau.
8
Kiểm tra
Quan sát sư phạm
Kiểm tra các hoạt
động thực hành
Các phương pháp
trắc nghiệm
Viết Vấn đáp
Tự luận Trắc nghiệm khách quan
Tiểu luận Ghép đôi Điền khuyết Đúng sai
Trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn
Mỗi phần tử trong cột trả lời có thể dược dùng trong một lần hoặc nhiều lần để
ghép các phần tử trong cột câu hỏi.
Ưu điểm Nhược điểm Phạm vi sử dụng
-Có thể KT nhiều nội
dung trong một thời

-Đây là loại trắc nghiệm hay sử dụng nhất, cũng chính là loại câu hỏi mà
chúng tôi sử dụng trong chương sau.
-Một câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm có hai phần: phần “gốc” và phần “lựa
chọn”.
9
+Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất). Yêu cầu phải
tạo căn cứ cho sự lựa chọn, bằng cách đặt vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng
giúp cho người làm bài hiểu rõ câu hỏi ấy muốn hỏi gì để lựa chọn câu trả lời
thích hợp.
+ Phần lựa chọn: Gồm có nhiều giải pháp có thể lựa chọn, trong đó có một lựa
chọn được dự định là đúng hay đúng nhất, còn những phần còn lại là những “mồi
nhử”. Điều quan trọng là làm sao cho những mồi nhử ấy được hấp dẫn ngang
nhau với những học sinh chưa học kĩ hay chưa hiểu kĩ bài.
Trong đề tài này chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn vì theo
chúng tôi nếu ít lựa chọn hơn sẽ không bao quát được khả năng sai lầm của học
sinh và nhiều lựa chọn hơn sẽ có những “mồi” thiếu căn cứ.
Ưu điểm Nhược điểm Phạm vi sử dụng
-Độ tin cậy cao
-Học sinh phải xét đoán
và phân biệt kĩ càng khi
trả lời câu hỏi.
-Tính chất giá trị tốt
hơn.
- Có thể phân biệt được
tính chất “mồi” câu hỏi
-Tính khách quan khi
chấm.
-Khó soạn câu hỏi.
-Chiếm nhiều trang giấy
kiểm tra.

Bên cạnh các mục đích nói trên có thể dùng TN với mục đích tập luyện giúp
học sinh hiểu thêm bài học và có thể làm quen với lối thi TN.
Tóm lại, trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều lợi ích. Người soạn trắc nghiệm
phải biết rõ mục đích của mình thì mới có thể soạn thảo được bài trắc nghiệm giá
trị vì mục đích chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm.
1.2.2.2. Phân tích nội dung môn học
-Tìm ra nghững khái niệm cơ bản, quan trọng trong nội dung môn học để đem
ra khảo sát trong các câu trắc nghiệm.
-Phân loại hai dạng thông tin được trình bày trong môn học (hay chương):
+ Một là những thông tin nhằm mục đích giải nghĩa hay minh họa.
+ Hai là những khái niệm quan trọng của môn học, lựa chọn những gì học sinh
cần nhớ, hiểu và biết vận dụng.
1.2.2.3 Thiết lập dàn bài trắc nghiệm
11
Sau khi nắm vững mục đích của bài TN và phân tích nội dung môn học ta lập
dàn bài cho TN. Lập một bảng ma trận hai chiều; một chiều biểu thị nội dung và
chiều kia biểu thị các quá trình tư duy( mục tiêu nhận thức) mà bài trắc nghiệm
muốn khảo sát. Số câu hỏi cần được đưa vào trong mỗi loại phải được xác định
rõ và ma trận nàyphải được chuẩn bị xong trước khi các câu hỏi trắc nghiệm
được viết ra.
Một mẫu dàn bài:
Mục tiêu nhận thức
Nội dung
kiến thức
Ghi
nhớ
(số câu)
Hiểu
( số câu)
Vận

+ Chồng 3 : 27% những bài điểm thấp
Sau đó tính số lượng bài đã làm đúng từng câu để tính độ khó và độ phân biệt
của từng câu hỏi theo công thức:
- Độ khó của câu hỏi : Số học sinh trả lời đúng
P =
Tổng số học sinh tham dự
-Độ phân biệt của câu hỏi : D =
n
LH −
H : Số người trả lời đúng nhóm điểm cao
L : Số người trả lơi đúng nhóm điểm thấp
n : Số người trong mỗi nhóm
Một câu trắc nghiệm đảm bảo dùng được thì phải thỏa mãn 2 điều kiện:
Độ phân biệt

0.32 và 0.25 ≤ Độ khó ≤ 0.75
1.2.4.2. Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm :
- Độ khó của bài trắc nghiệm : Độ khó =
c
x
. 100%
Trong đó :
x
: Điểm trung bình thực tế
c : Điểm tối đa (Bằng số câu của bài)
- Xác định độ tin cậy : Độ tin cậy là 1 số đo về sự sai khác giữa điểm số quan sát
được và điểm số thực.
13
Hai tác giả Kuder và Richardson đã đưa ra công thức tính toán độ tin cậy dựa
trên mối quan hệ giữa các câu hỏi. Công thức này như sau:

khúc xạ ánh sáng ở lớp 12 THPT Dương Xá- Gia Lâm- Hà Nội:
Thông qua các hoạt động tìm hiểu trình độ học sinh, qua các tiết dự giờ, trò
chuyện với giáo viên, học sinh, nghiên cứu các bài kiểm tra dưới hình thức
TNKQNLC thực hiện tại lớp 12A3,12A4 (lớp thuộc diện đại trà) trường trung
học phổ thông Dương Xá- Gia Lâm- Hà Nội, thực tế dạy học của bản thân trong
đợt thực tập sư phạm từ ngày 26/02/2007 đến ngày 20/04/2007 đã dẫn chúng tôi
đến một số nhận xét sau:
Chương sự phản xạ và sự khúc xạ ánh sáng cần vận dụng kiến thức hình học
phẳng. Ở đây kiến thức hình học không khó lắm nên học sinh vận dụng khá tốt.
Đây là năm đầu tiên thực hiện thi trắc nghiệm tốt nghiệp và tuyển sinh cao
đẳng, đại học môn vật lý bằng hình thức thi trắc nghiệm nên ở các trường phổ
thông hình thức dạy và kiểm tra cũng có nhiều thay đổi.
14
Trong giảng dạy giáo viên chú ý nhiều hơn đến việc rèn cho học sinh cách tư
duy nhanh và tính nhẩm, cách vận dụng các công thức để tính sao cho đạt kết
quả nhanh nhất.
Vì phạm vi kiểm tra rộng hơn nên tình trạng đoán dạng đề, học lệch, học tủ đã
giảm hẳn.
Tuy nhiên đây là năm đầu tiên thực hiện thi trắc nghiêm nên học sinh vẫn
chưa rèn được khả năng tư duy nhanh do đó có nhiều em làm bài còn chậm, vẽ
hình chậm nên chưa đáp ứng được yêu cầu.
Còn có tình trạng học sinh lười học bài, không nắm được bài nên khi làm
kiểm tra chỉ chọn ngẫu nhiên một trong các phương án lựa chọn.
15
3. Mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản chương V. Sự phản xạ và sự
khúc xạ ánh sáng
3.1. Sự truyền ánh sáng:
- Định luật truyền thẳng của ánh sáng: Trong môi trường trong suốt và đồng
tính, ánh sáng truyền theo đường thẳng A
- Nguyên lý về tính thuận nghịch của chiều

mở
ϕ
- Chùm tia tới song song với trục chính OC cho chùm phản xạ hội tụ tại F trên
trục chính, F là tiêu điểm chính của gương cầu lõm. Nếu chùm phản xạ kéo dài
gặp nhau tại điểm F trên trục chính, f là tiêu điểm chính ảo của gương cầu lồi.
- Khoảng cách từ tiêu điểm F tới đỉnh gương O gọi là tiêu cự OF = f, f =
2
R

-Mặt phẳng vuông góc với trục chính qua tiêu điểm gọi là mặt phẳng tiêu diện
- Giao của mặt phẳng tiêu diện với trục phụ gọi là tiêu điểm phụ F
P
- Điều kiện tương điểm:Gương có góc mở
ϕ
nhỏ, góc tới của các tia sáng trên mặt
gương nhỏ để ảnh của một điểm là một điểm chứ không phải một vết.
3.4.2. Đường đi của tia sáng qua gương cầu
Tuân theo định luật phản xạ ánh sáng
-Tia tới song song với trục chính OC cho tia phản xạ qua F(hoặc có phần kéo dài
qua F)
-Tia tới qua F (hoặc có phần kéo dài qua F) cho tia phản xạ song song với trục
chính
-Tia tới qua tâm C (hoặc hướng tới C) cho tia phản xạ trở lại theo hướng cũ
-Tia tới đỉnh gương O cho tia phản xạ theo phương đối xứng với tia tới qua trục
chính
17
-Tia tới xiên bất kì cho tia phản xạ ( hoặc đường kéo dài) qua tiêu điểm F
p
.F
p

+
/
1
d

Độ phóng đại ảnh: là tỉ số giữa chiều cao của ảnh và chiều cao của vật:
k =
AB
BA
//
; k = -
d
d
/
=
fd
f


= -
f
fd −
/
18
* Quy ước dấu
- k > 0 ảnh cùng chiều với vật : k < 0 ảnh ngược chiều với vật
-Gương cầu lõm : R > 0 , f > 0
-Gương cầu lồi : R > 0 ; f < 0
-Vật thật d > 0 ; vật ảo d < 0, d =


21
3.5.3 Chiết suất.
-Chiết suất tuyệt đối của một môi trường là chiết suất tỉ đối của nó đối với chân
không.
19
-Chiết suất tuyệt đối của môi trường trong suốt cho biết vận tốc ánh sáng truyền
trong chân không lớn hơn vận tốc ánh sáng truyền trong môi trường đó n lần n=
v
c
; n > 1.
-Chiết suất tuyệt đối của các môi trường trong suốt tỉ lệ nghịch với vận tốc của
ánh sáng truyền trong các môi trường đó :
1
2
n
n
=
2
1
v
v
3.6.Hiện tượng phản xạ toàn phần.
-Hiện tượng khi ánh sáng truyền từ môi trường trong suốt này sang môi
trường trong suốt khác, tia sáng bị phán xạ trở lại hoàn toàn gọi là hiện tượng
phản xạ toàn phần.
-Điều kiện để có phản xạ toàn phần:
+ Hiện tượng phản xạ toàn phần chỉ có thể xảy ra trên mặt phân cách giữa hai
môi trường trong suốt khi tia sáng truyền theo chiều từ môi trường chiết quang
sang môi trường kém chiết quang hơn.
+Góc tới của tia sáng trên mặt phân cách phải lớn hơn hoặc bằng góc giới hạn

)
-Chỉ xét những tia sáng đi qua lăng kính nằm trong một tiết diện thẳng nhất định
và chiết suất tỉ đối n của chất làm lăng kính đối với môi trường ngoài đặt lăng
kính n > 1.
3.7.2. Đường đi của tia sáng đơn sắc qua lăng kính
- Điều kiện khảo sát: Chiết suất của lăng kính
lớn hơn chiết suất môi trường và tia sáng đơn sắc đi
theo hướng xiên lên so với đáy.
-Sau khi qua lăng kính hướng của tia ló bị lệch
về phía đáy của lăng kính so với hướng của tia tới
-Góc hợp bởi phương của tia tới SI và tia ló JR
gọi là góc lệch D.
3.7.3.Các công thức về lăng kính:
sini
1
= nsinr
1
;
sini
2
= nsinr
2
;
A = r
1
+ r
2
;
D = i
1

<< R
1
R
2
- Hai loại thấu kính: thấu kính có phần giữa dày hơn phần rìa gọi là thấu kính
hội tụ( hay thấu kính rìa mỏng), thấu kính có phần giữa mỏng hơn phần rìa gọi là
thấu kính phân kì ( hay thấu kính rìa dày).
-Chỉ xét các thấu kính mỏng khoảng cách giữa đỉnh các mặt cong là rất nhỏ coi
như trùng nhau, trùng tại O. O được gọi là quang tâm của thấu kính.
-Đường nối tâm của các mặt cong với quang tâm O là trục chính, các đường
khác kẻ qua quang tâm được gọi là trục phụ.
-Chùm sáng tới song song với trục chính chùm ló khỏi thấu kính hội tụ tại điểm
F trên trục chính, F được gọi là tiêu điểm ảnh chính của thấu kính. Nếu chùm
phân kì kéo dài cắt nhau tại F trên trục chính thì F là tiêu điểm ảnh chính ảo của
thấu kính phân kì.
-Khoảng cách từ tiêu điểm tới quang tâm OF=f được gọi là tiêu cự. mỗi thấu
kính có tiêu điểm vật chính đối xứng với tiêu điểm ảnh chính qua quang tâm.
-Mặt phẳng vuông góc với trục chính qua tiêu điểm gọi là mặt phẳng tiêu diện.
Giao của mặt phẳng têu diện với trục phụ gọi là tiêu điểm phụ F
P
3.8.2. Đường đi của tia sáng qua thấu kính
-Tia tới song song với trục chính cho tia ló( hoặc có đường kéo dài) qua tiêu
điểm ảnh.
-Tia tới qua tiêu điểm vật (hoặc có đường kéo dài qua tiêu điểm vật) cho tia ló
song song với trục chính
-Tia qua quang tâm sẽ cho tia ló truyền thẳng.
-Tia xiên bất kì cho tia ló (hoặc có phần kéo dài) qua tiêu điểm phụ F
P
, F
P

.
3.8.4.Công thức thấu kính

d
1
+
/
1
d
=
f
1

k =
AB
BA
//
; k = -
d
d
/
=
fd
f


= -
f
fd −
/

-Thấu kính phân kì D < 0; f < 0
-Vật thật d > 0 ; vật ảo d < 0, d =

chùm tới song song.
-Ảnh thật d
/
> 0 ; ảnh ảo d
/
< 0, d
/
=

chùm phản xạ song song
- Mặt phẳng R =

; mặt lồi R > 0 ; mặt lõm R < 0
* Sơ đồ ôn tập tổng kết
sin
2
min
AD +
= nsin
2
A
d
1
+
/
1
d

1
+ r
2
D = i
1
+ i
2
-A
Tia (chùm) sáng truyền mặt phân cách giữa hai môi
trường trong suốt, đồng tính và đẳng hướng
Hiện tượng phản xạ ánh sáng
i = i
/
Hiện tượng khúc xạ ánh sáng
= n
21
Gương cầu
Lăng kính
Thấu kính
24
Gương
phẳng
d = -d
/
Gương
cầu lõm
Gương
cầu lồi
Thấu kính
hội tụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status