1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CHU THỊ HƯƠNG NGA
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Xuân Mai
Hà Nội – 2010 4
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 10
1. Lý do chọn đề tài 10
2. Mục đích nghiên cứu 11
3. Đối tƣợng nghiên cứu 11
4. Khách thể nghiên cứu 11
2.1.4. Giai đoạn 4: Phân tích kết quả điều tra 51
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 51
2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (ankét) 52
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 53
2.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm 54
2.2.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp 55
2.2.6. Phương pháp thống kê toán học 55
2.3. VÀI NÉT VỀ KHÁCH THỂ VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 56
2.4. TIẾN ĐỘ NGHIÊN CỨU 59
Chƣơng 3 60
KẾT QUẢ NGHHIÊN CỨU 60
3.1. Thực trạng những kho
́
khăn sinh viên thƣờng gặp phải trong cuộc sống và
cách thức giải quyết. 60
3.1.1. Những khó khăn trong cuộc sống của sinh viên. 60
3.1.2. Cách thức giải quyết những khó khăn gặp phải trong cuộc sống của sinh
viên. 67
3.2. Nhận thức của sinh viên về tham vấn tâm lý. 71
3.3. Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên. 73
3.4.1. Nhu cầu được tham vấn về các quan hệ xã hội của sinh viên. 73
3.4.2. Nhu cầu được tham vấn về học tập của sinh viên. 82 6
3.4.3. Nhu cầu được tham về phát triển năng lực cá nhân và định hướng nghề
nghiệp của sinh viên. 90
3. 4. Hành vi tham vấn tâm lý của sinh viên 95
3.5. Các yếu tố ảnh hƣởng tới việc thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh
HTĐ: Hoàn toàn đu
́
ng
ĐNHS: Đu
́
ng nhiều hơn sai
SNHĐ: Sai nhiều hơn đu
́
ng
HTS: Hoàn toàn sai 8
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Như
̃
ng khó khăn sinh viên thường gặp phải trong cuộc sống
Bảng 3.2: So sánh mức độ gặp khó khăntâm lý của sinh viên theo giới,
khoá học và khu vực.
Bảng 3.3: Ý kiến về việc thành lập phòng tham vấn tâm lý trong trường
của sinh viên.
Bảng 3.4: Nhu cầu được tham vấn về các quan hệ xã hội của sinh viên
Bảng 3.5: Nhu cầu được tham vấn về các quan hệ xã hội của sinh viên
theo giới, khoá học và khu vực (ĐTB).
Bảng 3.6: Nhu cầu được tham vấn về học tập của sinh viên.
Bảng 3.7: So sánh nhu cầu được tham vấn về học tập của sinh viên
theo giới tính, khóa học, khu vực (ĐTB).
Bảng 3.8: Nhu cầu được tham về phát triển năng lực cá nhân và định
10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh viên là những ngƣời trẻ tuổi, có trình độ, năng lực sáng tạo, có khả năng
tiếp nhận cái mới nhanh chóng. Sinh viên có nhiệm vụ chính là học tập, trang bị
những hành trang cần thiết để sau này tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ
đất nƣớc. Sinh viên các trƣờng Cao đẳng, Đại học hiện nay có rất nhiều cơ hội để
hoàn thiện bản thân cũng nhƣ phát triển nghề nghiệp. Sự đa dạng và phong phú về
thông tin trong thời kỳ hội nhập và mở cửa tạo cho sinh viên nhiều cơ hội tiếp thu,
học hỏi những điều tốt đẹp cũng nhƣ tinh hoa từ nhân loại.
Mặt khác, thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của cả nƣớc,
tập trung rất nhiều trƣờng đại học lớn, có nhiều điều kiện thuận lợi để sinh viên học
tập, giao lƣu và phát triển. Cũng chính vì vậy, sinh viên phải đối mặt với nhiều
thách thức từ cuộc sống thực tiễn nhƣ áp lực học tập, áp lực từ các mối quan hệ đa
chiều, những thay đổi của môi trƣờng sống, khiến cho sinh viên lúng túng và gặp
không ít khó khăn trong học tập, trong việc định hƣớng nghề tƣơng lai và định
hƣớng con đƣờng đi của mình.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, có nhiều sinh viên chán học, bỏ học sa
vào tệ nạn ma tuý, cờ bạc, hiện tƣợng sinh viên tự tử, giết ngƣời cũng không phải
là không có. Những ảnh hƣởng tiêu cực từ trạng thái tâm lý đã tác động đến hoạt
động sống của các em. Bên cạnh đó, có những sinh viên gặp khó khăn, trở ngại về
giao tiếp, ứng xử với bạn bè, cha mẹ, thầy cô. Chính điều này làm cho các em bị
căng thẳng, lo âu, trầm cảm, có những biểu hiện rối nhiễu hành vi.
Chính vì những lý do đó, sinh viên tại các trƣờng Cao đẳng và Đại học, đặc
biệt là các trƣờng tại thủ đô Hà Nội cần đƣợc tham vấn và trợ giúp kịp thời của các
chuyên gia tham vấn tâm lý để có sự tự tin và khả năng giải quyết những khó khăn
trong cuộc sống, tạo ra sự cân bằng tâm lý, học tập đạt kết quả tốt, mở rộng giao lƣu
và hoàn thiện nhân cách.
4. Khách thể nghiên cứu
- 496 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tƣ ở 3 trƣờng Đại học: Trƣờng
ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trƣờng ĐH Lao Động – Xã hội, và Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội.
- 5 cán bộ tham vấn (3 cán bộ tham vấn ở một số trung tâm tham vấn ở Hà
Nội và 2 cán bộ tham vấn trong trƣờng Đại học). 12
- 3 giảng viên
- 3 cán bộ làm công tác quản lý sinh viên
5. Giả thuyết nghiên cứu
Sinh viên ở một số trƣờng Đại học có nhu cầu tham vấn tâm lý để giải quyết
những khó khăn trong cuộc sống. Trong những vấn đề tâm lý gặp phải, sinh viên có
mong muốn đƣợc tham vấn khá cao về học tập và định hƣớng nghề nghiệp. Tuy
nhiên, do một số yếu tố nhƣ nhận thức về vai trò của tham vấn, văn hoá ngại chia sẻ
và một số yếu tố khác tác động cho nên việc thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của
sinh viên còn hạn chế.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó
xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của đề tài: Nhu cầu, Tham vấn tâm
lý, nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên.
- Điều tra nhằm phát hiện thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên ở
một số trƣờng Đại học ở Hà Nội.
- Phân tích nguyên nhân, những yếu tố ảnh hƣởng đến việc thoả mãn nhu cầu
tham vấn tâm lý của sinh viên.
- Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị nhằm
làm cho nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên phát triển ngày càng cao.
7. Phạm vi nghiên cứu
14
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Sơ lƣợc một số công trình nghiên cứu về nhu cầu, nhu cầu tham vấn ở
nƣớc ngoài.
Nhu cầu là một vấn đề quan trọng đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm ở các
khía cạnh khác nhau. Dƣới góc độ tâm lý học, nhu cầu đã đƣợc nhiều nhà tâm lý
học nghiên cứu từ rất lâu. Sau đây, chúng tôi xin khái quát một số công trình nghiên
cứu về nhu cầu và nhu cầu tham vấn tâm lý trong và ngoài nƣớc.
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về nhu cầu ở nước ngoài.
Maslow đã chia nhu cầu thành 5 loại, đó là các nhu cầu sau:
- Nhu cầu thể chất - nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của cá nhân. Nhu cầu này
còn đƣợc gọi là nhu cầu cơ thể, nhu cầu sinh lý. Thứ bậc đầu tiên này rất cơ bản và
đặc biệt quan trọng. Đó là nhu cầu nguyên thuỷ nhất của con ngƣời. Nhu cầu này
bao gồm: thức ăn, nƣớc uống, quần áo, nhà ở, không khí, tình dục…Nếu những nhu
cầu cơ bản này không đƣợc đáp ứng, con ngƣời sẽ khó có thể tồn tại.
- Nhu cầu an toàn - an ninh bao gồm các mặt sau: an toàn sinh mệnh, an toàn
môi trƣờng, an toàn lao động, an toàn kinh tế, an toàn sức khoẻ, an toàn tâm lý, an
toàn ở và đi lại. Trong đó, cơ bản nhất là an toàn sinh mệnh. Nhu cầu an toàn nếu
không đƣợc đảm bảo thì cuộc sống sẽ bị đe doạ, công việc của mọi ngƣời sẽ không
đƣợc tiến hành bình thƣờng và các nhu cầu khác sẽ không đƣợc thực hiện.
- Nhu cầu đƣợc giao lƣu tình cảm và đƣợc trực thuộc. Nhu cầu đƣợc thuộc
về nhóm xã hội nào đó, đƣợc yêu thƣơng và thừa nhận của ngƣời khác. Nếu không
đƣợc giao tiếp và quan hệ với ngƣời khác thì con ngƣời khó có thể tồn tại. Tình yêu
thƣơng và sự chấp nhận đến với con ngƣời qua mối quan hệ trong gia đình, bạn
bè, hàng xóm, cộng đồng và thậm chí qua các tổ chức xã hội khác. Nhu cầu
đƣợc quan hệ và đƣợc thừa nhận gồm có các vấn đề tâm lý nhƣ: đƣợc dƣ luận xã
hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thƣởng, ủng hộ…
Tình yêu là nội dung cao nhất của nhu cầu này. Lòng thƣơng, tình yêu,
tình bạn, tình thân ái là nội dung lý tƣởng mà nhu cầu đƣợc thừa nhận luôn theo
đuổi. Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con ngƣời trong quá trình phát
triển của nhân loại. 16
- Nhu cầu đƣợc tôn trọng gồm hai loại: lòng tự trọng và đƣợc ngƣời khác tôn
trọng. Nhu cầu đƣợc ngƣời khác tôn trọng gồm khả năng có đƣợc uy tín, đƣợc thừa
nhận, đƣợc tiếp nhận, có địa vị, có danh dự, đƣợc biết đến.
- Nhu cầu tự hoàn thiện - cơ hội thể hiện bản thân. Đây là bậc cuối cùng
trong hệ thống năm thứ bậc nhu cầu của Maslow, là bƣớc phát triển nhất về tâm lý
thoả mãn nhu cầu đó, đấy chính là cách nảy sinh hành vi.
X.L. Rubinstein (1889- 1960) là một trong những nhà tâm lý học ngƣời Nga
đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu. Trong lý thuyết của mình, ông đã đề
cập tới nhu cầu nhƣ một yếu tố thúc đẩy hoạt động để đảm bảo cho sự tồn tại và
phát triển của con ngƣời. Nhu cầu của con ngƣời thể hiện sự liên kết, phụ thuộc của
con ngƣời với thế giới xung quanh. Để tồn tại và phát triển, con ngƣời luôn phải
hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định. Những đòi hỏi ấy là nhu cầu.
A.N.Lêonchiev (1903-1979) với lý thuyết nổi tiếng về hoạt động của con
ngƣời đã nghiên cứu về động cơ và nhu cầu. Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò
của động cơ và nhu cầu trong sự hình thành hoạt động ở cá nhân. Trong nghiên cứu
của mình, A.N. Lêônchiev đã chỉ ra nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tƣợng: nhu
cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó. Trƣớc khi thoả mãn nhu cầu, đối
tƣợng của nhu cầu phải đƣợc phát lộ ra. Nhờ kết quả của sự phát lộ này mà nhu cầu
mới có tính đối tƣợng của nó, còn vật đƣợc hình dung qua tƣ duy thì có sức thúc
đẩy, hƣớng dẫn hoạt động, đó là động cơ. Nhu cầu của con ngƣời không chỉ đƣợc
sản xuất ra mà còn đƣợc cải biến ngay trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, và đấy là
mấu chốt để hiểu đƣợc bản chất của các nhu cầu của con ngƣời [13, tr.322-328].
B.PH. Lomov (2000), khi nghiên cứu về nhân cách, ông đã đề cập khá nhiều
đến nhu cầu. Ông cho rằng nhu cầu nhƣ là một thuộc tính của nhân cách. “Nhu cầu
cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phƣơng tiện nhất định cho
việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra
có tính khách quan, trong đó cá nhân tham dự vào suốt đời sống của mình. Dĩ nhiên,
nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhƣng nhu cầu là một cái gì đó nằm ngoài cá
nhân” [14, tr.479].
Nhƣ vậy, có khá nhiều tác giả nƣớc ngoài đã quan tâm và nghiên cứu về
nhu cầu và ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đều có điểm chung
đó là nghiên cứu nhu cầu gắn với hoạt động của cá nhân, nghiên cứu vai trò của 18