Nghiên cứu nhu cầu học tập của gia đình trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NHƯ CHÍNH
NGHIÊN CỨU NHU CẦU HỌC TẬP CỦA
GIA ĐÌNH
TRONG XU HƯỚNG HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Hà Nội - 2010ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

người phải học tập để nâng cao trình độ tri thức 36
1.4. Các mặt biểu hiện cụ thể nhu cầu học tập của gia đình 38
1.4.1. Nhu cầu học tập của các thành viên 38
1.4.2. Động cơ chi phối xu hướng hăng say học tập của các thành viên và
của cả gia đình 39
1.4.3. Phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập của các thành viên và của
cả gia đình 41
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1. Tổ chức nghiên cứu 43
2.1.1. Nghiên cứu lý luận 43
2.1.2. Nghiên cứu thực tiễn 43
2.1.3. Giai đoạn nghiên cứu 44
2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 45
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 45
2.2.2. Phương pháp quan sát 45
2.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 46
2

2.2.4. Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn cá nhân, nhóm gia đình 47
2.2.5. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động 47
2.2.6. Phương pháp thống kê toán học 47
2.2.7. Phương pháp phân tích trường hợp điển hình (case study) 48
2.3. Khái quát các đặc điểm tâm lý xã hội của các gia đình trong diện
khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội 49
CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
3.1. Kết quả khảo sát nhu cầu học tập của các thành viên 52
3.1.1. Nhận thức về vai trò của học tập của các thành viên gia đình 52
3.1.2. Mong muốn có trình độ học vấn cao hơn 56
3.1.3. Mong muốn bù đắp những kiến thức bị thiếu hụt 59
3.1.4. Thái độ sẵn sàng đầu tư cho giáo dục của gia đình 66

Tỷ lệ
4
TTHTCĐ
Trung tâm học tập cộng đồng

PDF Merger
Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF
Merger! To remove this page, please
register your program!
Go to Purchase Now>>
 Merge multiple PDF files into one
 Select page range of PDF to merge
 Select specific page(s) to merge
 Extract page(s) from different PDF
files and merge into one

đình
59
Bảng 3.5
Thái độ sẵn sàng đầu tư cho hoạt động giáo dục
của các gia đình
65
Bảng 3.6
Các khía cạnh thuộc động cơ chính trị- xã hội
67
Bảng 3.7
Các khía cạnh thuộc động cơ nhận thức
69
Bảng 3.8
Các khía cạnh thuộc động cơ nghề nghiệp
71
Bảng 3.9
Các khía cạnh thuộc động cơ lợi ích riêng của gia đình
74
Bảng 3.10
So sánh động cơ chi phối hoạt động học tập của gia đình
76
Bảng 3.11
Địa điểm học tập được các gia đình lựa chọn
78
Bảng 3.12
Hình thức học tập mà các gia đình lựa chọn
84
Bảng 3.13
Hình thức chi trả học tập được các gia đình lựa chọn
87

các gia đình vì chỉ có thông qua học tập thì con người mới có thể biết, làm,
cùng chung sống và cùng tồn tại trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế. Việc tìm hiểu, làm rõ nội dung nhu cầu học tập của gia đình,
phân tích thực trạng, những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này nhằm kích
thích tinh thần học tập của các gia đình trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa
quan trọng và mang tính thời sự.
Trên thực tế, cho tới nay chưa có đề tài nào đề cập, làm rõ nhu cầu học
4

tập của gia đình trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách có hệ thống
và sâu sắc. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề: "Nghiên cứu nhu cầu học tập
của gia đình trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế " làm đề tài nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Làm rõ thực trạng nhu cầu học tập của gia đình trên địa bàn nghiên cứu,
trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy nhu cầu học
tập của người dân trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên
cứu.
3.2. Khảo sát thực trạng nhu cầu học tập của gia đình trên các mẫu lựa
chọn. Làm rõ một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu học tập của các gia đình
hiện nay.
3.3. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần thúc đẩy
nhu cầu học tập của người dân trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu học tập của gia đình, một hiện tượng tâm lý xã hội.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các người dân và gia đình hiện đang sinh sống tại 03 phường thuộc 03
quận nội thành Hà Nội là: Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng. Tổng số

Phụ lục 6

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề nhu cầu, nhu cầu học tập
Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu học tập của gia đình trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay với tư cách là động lực thúc đẩy gia
đình học tập, nâng cao nhận thức, góp phần tạo ta của cải vật chất cho chính
gia đình mình và cho sự phồn vinh của toàn xã hội nên cần thiết phải điểm
qua các nghiên cứu đã được tiến hành trong và ngoài nước về vấn đề nhu cầu
cũng như nhu cầu học tập.
1.1.1. Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu về nhu cầu
- Nghiên cứu của các nhà tâm lý học phương Tây
Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý chi phối một cách mạnh
mẽ đời sống tâm lý cũng như hành vi của con người được nhiều ngành khoa
học nghiên cứu và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như
quản lý, kinh doanh, giáo dục Trong tâm lý học phương Tây, vấn đề nhu
cầu được khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới, trong đó có thể kể đến
một số lý thuyết tiêu biểu sau:
+ Lý thuyết bản năng về nhu cầu:
Đại diện tiêu biểu cho thuyết này là trường phái Phân tâm học do bác sĩ
thần kinh người Áo S.Freud sáng lập với quan điểm cho rằng tâm lý con

hội, thế nhưng "đặc điểm của các mức độ nêu trên hết sức vô định hình. Điều
đó nảy sinh do Maslow đưa ra nhu cầu của một cá nhân trừu tượng, tách nó ra
khỏi hệ thống quan hệ xã hội, đặt nhu cầu cá nhân nằm ngoài mối liên hệ với
xã hội". Và cũng theo Lomov thì lý thuyết này chưa lí giải được "trong những
điều kiện xã hội nào nhu cầu đó được thỏa mãn và những nguyên nhân chuyển
8

tiếp nào từ mức độ này sang mức độ khác ông không khắc phục sự đối kháng
giữa cá nhân và xã hội được phổ biến trong tâm lý học phương Tây" lúc đó.
[14, tr.472- 473].
Mặc dù còn có hạn chế song cần phải thừa nhận lý thuyết của Maslow
là một trong những lý thuyết về nhu cầu được nhắc đến nhiều nhất trong các
sách giáo khoa và tài liệu tham khảo tâm lý học đồng thời được sử dụng khá
rộng rãi trong đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý, sản xuất,
tham vấn Các doanh nghiệp rất quan tâm ứng dụng lý thuyết này trong thực
tiễn thể hiện ở việc chăm lo đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người lao động (cả
vật chất và tinh thần), cải thiện mối quan hệ giữa con người với con người
nhằm thúc đẩy năng suất, tiết kiệm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận cho
đơn vị mình.
Từ góc độ tiếp cận của thuyết phân cấp nhu cầu Maslow có thể thấy nhu
cầu học tập của gia đình nằm trên một phổ khá rộng, từ bậc thang nhu cầu an
toàn ở gần cuối tháp cho tới các bậc thang phía trên như nhu cầu về sự liên kết
và chấp nhận, nhu cầu về sự tôn trọng, nhu cầu hiện thực hóa cái tôi.
+ Lý thuyết nhu cầu có điều kiện do David McCelland (1960) và cộng
sự là John Atkinson xây dựng đã nghiên cứu và xác định ba loại nhu cầu cơ
bản ở con người là: nhu cầu về quyền lực (nPow), nhu cầu liên kết (nAff),
nhu cầu thành đạt (nAch). Theo McCelland, những người có nhu cầu học tập
để trở nên thành đạt được nhận ra qua các biểu hiện bên ngoài như sự lo lắng,
chuyên tâm tìm kiếm, bổ sung tri thức và hoàn thiện kĩ năng làm việc để hoàn
thành nhiệm vụ được giao vì vậy nhu cầu học tập, tự học, tự bồi dưỡng là một

Thuyết này có thể khái quát bằng sơ đồ:
Sức mạnh = Mức ham mê × Hy vọng
Sức mạnh: là cường độ thúc đẩy con người.
10

Mức ham mê: là cường độ ưu ái của một người dành cho kết quả.
Hy vọng: là xác suất mà một hoạt động riêng lẻ sẽ dẫn tới một kết quả
mong muốn.
Lý thuyết của Vroom được đánh giá là thực tế hơn, tránh được đặc
trưng đơn giản hoá trong cách tiếp cận của Maslow và Herzberg và phù hợp
với toàn bộ hệ thống quản lý theo mục tiêu.
Ngoài ra, cũng cần kể đến một số lý thuyết khác như thuyết Nhu cầu
biểu lộ của H.A.Murray, thuyết Động năng nhân cách của K.Lewin, lý thuyết
Hai yếu tố động cơ - vệ sinh của Federick Herzberg
Những lý thuyết về nhu cầu của các học giả phương Tây đều thừa nhận
tính chất xã hội của nhu cầu, coi trọng nhu cầu tinh thần của con người. Tuy
nhiên, họ chưa chỉ ra được cơ chế hình thành cũng như nguyên tắc của việc
hình thành và phát triển nhu cầu.
- Nghiên cứu của các nhà tâm lý học Xô Viết
Nhắc đến nhu cầu thì không thể không đề cập đến các nghiên cứu về
vấn đề này trong tâm lý học Hoạt động, nền tâm lý học được thành lập ở nước
Nga Xô Viết sau Cách mạng tháng Mười. Dòng phái tâm lý học này lấy triết
học mác xít, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương
pháp luận trong nghiên cứu tâm lý con người. Vấn đề nhu cầu được các nhà
tâm lý học Hoạt động quan tâm xem xét theo một số hướng chủ yếu sau.
+ D.N.Uznatze - tác giả của thuyết tâm thế - là người đã khám phá ra sự
liên quan giữa nhu cầu với hành vi của con người, tương ứng với mỗi kiểu
hành vi là một loại nhu cầu cơ bản. Ông khẳng định nhu cầu là yếu tố tạo ra
tính tích cực của con người, không có nhu cầu thì không thể có tính tích cực;
nhu cầu xác định xu hướng và tính chất của hành vi, giữa nhu cầu và hành vi

điều kiện thỏa mãn nhu cầu. Khi cách thức thỏa mãn nhu cầu được chủ thể ý
thức đầy đủ thì nhu cầu sẽ chuyển sang mức độ cao hơn nữa, đó là ý định.
12

Ý định
Đến giai đoạn này, chủ thể ý thức đầy đủ cả về đối tượng lẫn cách thức,
điều kiện nhằm thỏa mãn nhu cầu, xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và
sẵn sàng hoạt động. Nhu cầu đã có hướng và đã được “động cơ hóa”, xuất
hiện tâm thế sẵn sàng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu trở thành sức
mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm thỏa mãn nó. Đồng
thời, lúc này chủ thể có khả năng hình dung về kết quả của hoạt động.
Rubinxtêin cũng khẳng định nhu cầu của con người thể hiện mối quan
hệ của họ với thế giới xung quanh. Để tồn tại và phát triển con người luôn
phải hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định. Nhu cầu của con
người vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụ động. Tính tích cực của nhu
cầu thể hiện: nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động tìm kiếm các cách
thức, phương tiện, đối tượng để thỏa mãn nó. Tính thụ động thể hiện ở chỗ
khả năng thỏa mãn nhu cầu lệ thuộc vào chính thế giới đối tượng tồn tại trong
hiện thực khách quan. Tính tích cực của nhu cầu thể hiện cao hay thấp là phụ
thuộc vào các mức độ của nhu cầu (ý hướng, ý muốn, ý định).
+ Sẽ là thiếu sót khi bàn về nhu cầu mà không nhắc đến tác giả A.N.
Leonchiev. Ông là người đã xây dựng nên lý thuyết và sơ đồ hoạt động của
con người, trong đó vấn đề động cơ và nhu cầu được đưa ra, giải thích khá rõ
ràng và sâu sắc. Leonchiev khẳng định vấn đề có tính chất nguyên tắc là nhu
cầu nói riêng và tâm lí của con người nói chung có nguồn gốc từ hoạt động
thực tiễn và duy nhất chỉ có trong đó các nhu cầu mới có được tính cụ thể về
mặt tâm lí học.
Leonchiev cho rằng một nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu
về một cái gì đó. Lúc đầu, nhu cầu mới chỉ là trạng thái thiếu thốn của cơ thể
về một cái gì đó và chưa được chủ thể nhận thức một cách rõ ràng, mới chỉ là

14

- Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng. Khi nhu cầu gặp
gỡ đối tượng có khả năng thỏa mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc
đẩy cá nhân hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng. Nhu cầu chính là nguồn gốc
của tính tích cực hoạt động của con người.
- Nghiên cứu nhu cầu phải gắn với hoạt động cụ thể. Nhu cầu được nảy sinh
và phát triển trong quá trình con người hoạt động và tương tác với môi trường.
- Bất kì nhu cầu nào cũng có một nội dung cụ thể tùy theo nó được thỏa
mãn trong những điều kiện nào và theo phương thức nào. Hay khác đi, nội
dung và tính chất của nhu cầu phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện và và phương
thức thỏa mãn nó.
1.1.1.2. Những nghiên cứu về nhu cầu học tập
Nhà giáo dục học K.D.Usinxki khẳng định nhu cầu học tập là cơ sở duy
nhất và vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả. Ông cho rằng muốn hình
thành và phát triển nhu cầu học tập phải tác động vào tự ý thức của người học
làm thay đổi từ nhận thức, thái độ đến xây dựng thói quen tích cực.
J.A.Comenxki cho rằng cần phải lôi cuốn, kích thích người học vào
chính bản thân. Ông rất coi trọng vai trò của nhu cầu học tập của người học
đối với hiệu quả dạy học nói chung và học tập nói riêng. Theo ông để hình
thành phát triển nhu cầu học tập ở người học thì việc dạy học cũng như người
giáo viên phải làm thế nào để hấp dẫn người học, từ đó lôi cuốn, thúc đẩy họ
tích cực, chủ động với vai trò là chủ thể của hoạt động học tập.
L.I.Bozovich cho rằng nhu cầu học tập được hình thành và phát triển
rất sớm ở trẻ. Ngay từ khi còn nhỏ, con người đã bị hấp dẫn bởi hiện thực
khách quan, bởi những điều mới mẻ và lạ lẫm so với kinh nghiệm của trẻ. Trẻ
luôn có ham muốn khám phá, hiểu biết thế giới xung quanh. Nhu cầu học tập
của trẻ được phát triển từ thấp đến cao. Ở mức độ cao, nhu cầu là động lực
thúc đẩy trẻ học tập chiếm lĩnh tri thức và thỏa mãn nó. Bozovich là người có
công xây dựng nền móng trong nghiên cứu nhu cầu học tập.

16

Tác giả Nguyễn Văn Luỹ khi nghiên cứu trên khách thể là 62 em học
sinh tiểu học học kém và 170 em có học lực từ trung bình trở lên tại địa bàn
thành phố Đà Nẵng cũng xác định một số đặc điểm nhu cầu nhận thức của
học sinh học kém bậc tiểu học đồng thời đề xuất biện pháp tác động sư phạm
để nâng cao mức độ phát triển nhu cầu nhận thức ở các em qua đó góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học.
Trong luận án "Nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm", tác giả Hoàng
Thị Thu Hà (2002) đã nghiên cứu làm rõ mức độ nhu cầu học tập của sinh
viên Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh ở ba mức độ: ý hướng, ý
muốn, ý định, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tác động sư phạm nâng
cao mức độ nhu cầu học tập cho người học.
Ngoài ra có luận án của tác giả Trần Thị Thìn (2004) nghiên cứu thực
trạng động cơ học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An và đề
ra một số phương hướng giáo dục động cơ học tập cho sinh viên sư phạm, kiểm
định hai tác động với mục đích tăng cường động cơ học tập, đặc biệt là động cơ
liên quan trực tiếp đến hoạt động học tập, học nghề của sinh viên.
GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú và các tác giả của cuốn Tâm lý học Sư phạm
Quân sự đã đề cập đến động cơ học tập của các sĩ quan quân đội bắt đầu từ
khởi nguồn xây dựng các nhu cầu học tập đúng đắn của các học viên: nhu cầu
mong muốn tiến bộ, trưởng thành; nhu cầu mong muốn phát triển, hoàn thiện
nhân cách; nhu cầu nhu cầu sống, chiến đấu, phục vụ cho sự nghiệp quân đội,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc; nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm
vững tiến tới làm chủ tri thức khoa học; nhu cầu nắm vững và làm chủ nghề
nghiệp quân sự mà mình sẽ theo đuổi… [19, tr.115-119]
Các nghiên cứu về nhu cầu, động cơ học tập của các tác giả kể trên đều
gắn với một lĩnh vực đã khá quen thuộc trong tâm lý học Việt Nam, đó là tâm
lý học sư phạm. Có thể nói nghiên cứu nhu cầu học tập của gia đình trong xu
17

Nam do GS.TS. Vũ Dũng chủ biên lại cho rằng hiện tồn tại nhiều quan điểm,
cách tiếp cận khác nhau đối với nhu cầu song có thể hiểu một cách khái quát:
"nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong
những điều kiện nhất định" [23, tr.568].
Tác giả A.G.Côvaliôp đã đề cập đến vấn đề nhu cầu với tư cách là
nguồn gốc tính tích cực hoạt động của con người. Theo ông, nhu cầu và sự
thỏa mãn các nhu cầu của con người là động cơ thúc đẩy hoạt động, điều
chỉnh hành vi của từng cá nhân và của cả tập thể nói chung. Từ góc độ tâm lý
học xã hội, Côvaliôp quan niệm "Nhu cầu là sự đòi hỏi của nhóm xã hội
muốn có những điều kiện sống và phát triển nhất định Nhu cầu quy định xu
hướng lựa chọn các ý nghĩ, các rung cảm và ý chí của quần chúng, nó qui
định hoạt động xã hội của giai cấp hoặc của tập thể" [12, tr.93]. Ông cũng
nhấn mạnh nhu cầu của con người là đa dạng, nó mang tính lịch sử và gắn
liền với nền sản xuất xã hội, với sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần
trong xã hội. Nhu cầu của con người vô cùng phong phú và đa dạng. Sự phát
triển của con người, loài người là quá trình đáp ứng những nhu cầu, đồng thời
cũng là quá trình nảy sinh những nhu cầu ngày càng mới. Tuy nhiên, nhu cầu
chỉ được coi là tích cực khi việc đáp ứng chúng giúp cho con người phát triển
về nhân cách.
Trên cơ sở phân tích và tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu về
nhu cầu, chúng tôi tán thành định nghĩa của tác giả Côvaliôp khi xem xét nhu
cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý xã hội. Đây là quan niệm khá hợp lý,
đầy đủ về nhu cầu của con người và chúng tôi dựa trên quan điểm này khi
xem xét nhu cầu học tập của gia đình trên địa bàn Hà Nội trong thời kì hội
nhập kinh tế quốc tế.
1.2.1.2. Đặc điểm nhu cầu
- Tính đối tượng: Theo X.L.Rubinxtein thì nhu cầu bao giờ cũng có đối
19

tượng. Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, tồn tại một cách khách quan

hạn còn nhu cầu về văn hóa tinh thần lại tăng lên, không có giới hạn. Không
những thế, con người có khả năng nhận thức được đầy đủ nhu cầu của mình
(nội dung, đối tượng, phương thức thỏa mãn nó). Trước khi thực hiện hành
động nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, con người thường đối chiếu
nó với các chuẩn mực (đạo đức, pháp luật ), từ đó tự điều khiển, điều chỉnh
hành động của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.
1.2.1.3. Phân loại nhu cầu
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng. Các nhà tâm lý học đã
căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để phân loại nhu cầu của con người.
Căn cứ vào điều kiện tồn tại của đối tượng nhu cầu chia thành nhu cầu
vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự
tồn tại của cơ thể con người (nhu cầu về thức ăn, nhà ở, quần áo để chống
rét ). Chính nó thúc đẩy hoạt động lao động và sáng tạo của con người, làm
ra của cải vật chất, tạo cơ sở của toàn bộ lịch sử tồn tại của loài người. Nhu
cầu tinh thần có liên quan trực tiếp tới những đòi hỏi về cái đẹp (cách cư xử
giữa người và người sao cho hợp đạo lý), có nguồn gốc sâu xa từ trong nền
văn minh. Chẳng hạn, nhu cầu về nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, kiến trúc ).
Căn cứ vào chủ thể của nhu cầu, phân chia thành nhu cầu cá nhân và
nhu cầu xã hội. Nhu cầu cá nhân là nhu cầu của một cá nhân riêng lẻ còn nhu
cầu xã hội là nhu cầu của một nhóm người như một chỉnh thể thống nhất. Nhu
cầu của cá nhân gắn chặt với cá tính của mỗi người.
Căn cứ vào các mức độ của nhu cầu phân thành nhu cầu bậc thấp (nhu
cầu vật chất) và nhu cầu bậc cao (nhu cầu tinh thần). Điển hình cho cách
phân loại này là nhà tâm lý học nhân văn người Mỹ A.Maslow. Khi phân chia
các mức độ của nhu cầu, ông đã xem xét nhu cầu của con người theo hình thái

Trích đoạn Phương phỏp điều tra bằng bảng hỏi Phương phỏp thống kờ toỏn học Mong muốn cú trỡnh độ học vấn cao hơn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status