ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA TRẺ LANG THANG TRÊN
ĐỊA BÀN HÀ NỘI ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG MA TÚY LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Mã số: 5 06 07
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Ngọc Phú
HÀ NỘI - 2003
- 1 -
PHẦN I
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ .
, nhưng chưa có một nghiên cứu nào dưới góc độ tâm lý học nói chung , cũng
như chưa có một nghiên cứu nào nói riêng quan tâm tới thái độ của trẻ em lang
thang đối với việc sử dụng ma túy . Nghiên cứu thái độ của trẻ em lang thang đối
với việc sử dụng ma túy nhằm tìm hiểu nhận thức , xúc cảm tình cảm , hành động
của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy , xác định các yếu tố tác động
nhằm thay đổi thái độ . Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp những số liệu
thực tế cho những người làm công tác chăm sóc , bảo vệ trẻ em .Trên cơ sở đó
giúp cho việc bảo vệ chăm sóc trẻ em có thêm những thông tin cập nhật về
thái độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy ,và là cơ sở khoa học đề ra
các biện pháp , kiến nghị cần thiết đối với Đảng , nhà nước , các tổ chức xã hội ,
điều chỉnh hoạt động của mình trong việc giáo dục trẻ em nói chung , trẻ em
lang thang nói riêng vì sự tiến bộ , phồn vinh hạnh phúc của đất nước trong
giai đoạn cách mạng mới .
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thái độ của trẻ em lang thang đối với việc sử dụng ma túy
nhằm tìm hiểu nhận thức , cảm xúc , hành động của trẻ lang thang đối với việc sử
dụng ma túy , xác định các yếu tố tác động dẫn tới sự thay đổi thái độ và trên cơ
sở đó đề ra các kiến nghị và giải pháp , góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận và
những số liệu thực tiễn cho người làm công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em , đặc
- 3 -
biệt là trẻ em lang thang , thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và nhà nước ta
hiện nay trong vấn đề này .
- 4 -
III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
_. Làm rõ thái độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy .Trên cơ
sở đó chỉ ra cấu trúc tâm lý của thái độ , các tác động xã hội -tâm lý thay đổi thái
độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy_Vạch ra bức tranh thực trạng về
trẻ lang thang trên địa bàn Hà Nội và vấn đề trẻ lang thang trên địa bàn Hà Nội sử
dụng ma túy hiện nay .
_Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu , chỉ ra một số giải pháp , kiến nghị cần
Dựa trên ý kiến thu thập được qua trò chuyện ,xây dựng bảng hỏi điều tra
tìm hiểu thái độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy .
5.4.PHƢƠNG PHÁP TOẠ ĐÀM, PHỎNG VẤN.
Tiến hành toạ đàm phỏng vấn với trẻ em lang thang để phát hiện những
khía cạnh tâm lý liên quan tới cấu trúc tâm lý của thái độ ,đến thái độ của trẻ đối
với việc sử dụng ma tuý.
Toạ đàm phỏng vấn đối với một số người lớn tuổi xung quanh khu vực trẻ
lang thang sinh sống nhằm tìm hiểu các khía cạnh tâm lý của trẻ trước Tiến tác
hại của tệ nạn xã hội .
Đặc biệt chúng tôi có tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng (cả trẻ em
và người lớn ) trong khách thể nghiên cứu nhằm tìm ra những lời giải đáp cần
thiết minh hoạ thêm cho những con số thu được qua các khoả sát, điều tra bằng
bảng hỏi.
5.4. PHƢƠNG PHÁP THỐNG KÊ TOÁN HỌC
Sử dụng những tri thức về toán học thống kê để xử lý số liệu điều tra .
- 6 -
VI/ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC .
Có thể giả định rằng thái độ của trẻ lang thang đối với việc sử dụng ma túy
có một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm các thành tố nhận thức ,cảm xúc và ý
chí . Nếu chỉ ra các thành tố tâm lý này cũng như các yếu tố tham gia làm thay
đổi thái độ của trẻ (Các đặc điểm nhân cách liên quan ,môi trường ,hoàn cảnh
kinh tế xã hội ,các mối quan hệ nhóm xã hội ) thì có cơ sở khoa học đề xuất
các giải pháp , kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng trẻ lang thang sử dụng ma
túy trên địa bàn Hà Nội trong điều kiện hiện nay , góp phần to lớn vào việc nâng
cao hiệu quả các chương trình chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong
giai đoạn cách mạng mới .
- 7 -
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
thức " đã đi đến quan điểm cho rằng con người có thể xuất hiện trạng thái khó
chịu ,căng thẳng khi thái độ và hành vi của bản thân có sự mâu thuẫn.Cần phải
nhận thấy là theo ý hướng của Festinger đã có rất nhiều các công trình trong
nhiều năm từ thập kỷ 60 đến 80 của thế kỷ tập trung vào làm rõ thêm vấn đề này:
Các nghiên cứu về những " công nhân quý tộc "ở Anh doGoldthorpe và
Lockwood tiến hành đã cho thấy thái độ trong công việc của người công nhân
liên quan đến các định hướng mà người công nhân này đem đến lao động của họ.
Các định hướng có thể được biến đổi từ người này sang người khác trong cùng
một công việc ,theo một cung cách mà nếu chỉ quy chiếu vào những chỉnh hợp kỹ
thuật và các điều kiện lao động khác thì sẽ không đủ để giải thích sự thoả mãn
hay bất mãn của người công nhân đối với lao động nghề nghiệp mà họ thực hiện
hàng ngày.
Năm 1985, William MC Guire cũng đi sâu nghiên cứu về "thái độ và sự
thay đổi thái độ "và đã đi đến nhận định rằng thái độ và và các vấn đề liên quan
đến sự thay đổi thái độ ,kiểm soát và thay đổi hành vi người thuộc loại đề tài
được quan tâm nhiều nhất trong tâm lý học nói chung và tâm lý học xã hội nói
riêng. Đây là vấn đề rất khó vì bản thân phạm trù này còn nhiều khía cạnh cần
phải tiếp tục bàn cãi.
Nghiên cứu về thái độ ở Liên Xô trước đây chủ yếu dựa trên nền tảng của
tâm lý học hoạt động và trường phái tâm thế ,hoặc trong tâm lý học nhân cách .
- 9 -
Khái niệm thái độ chủ quan của cá nhân lần đầu tiên được đặt ra trong tâm lý học
A.F.Laguski đề xuất khi nghiên cứu tính cách .Trong những bài viết năm 1909 -
1910 về năng lực và trong những cuốn sách sau đó của ông như ""Công trình
nghiên cứu nhân cách trong quan hệ với môi trường""(1912)và trong cuốn" Phân
loại nhân cách " (1917-1924) ,"Bút ký khoa học về tính cách "(1916) ông đã đưa
ra quan niệm về thái độ chủ quan của con người với môi trường .Theo ông khi
phân tích nhân cách không chỉ dừng lại ở góc độ tâm lý tâm sinh lý mà còn phải
lưu ý cả góc độ tâm lý -xã hội. Ông cho rằng thái độ là khía cạnh quan trọng của
nhân cách .Ông đặc biệt quan tâm tới thái độ của cá nhân đối với nghề nghiệp
thuyết hệ thống định vị điều chỉnh hoạt động xã hội của cá nhân , khắc phục các
sai lầm của các phương pháp nghiên cứu thái độ và tâm thế như chỉ nghiên cứu
trong phòng thí nghiệm, trong nhóm nhỏ. Thuyết này đã đưa ra cách tiếp cận hệ
thống vào các công trình nghiên cứu thái độ . Theo thuyết này thì hành vi xã hội
của cá nhân dược điều chỉnh bởi hệ thống định vị (Tâm thế, tâm thế xã hội , xu
hướng cơ bản của hứng thú, hệ thống định hướng giá trị). Hệ thống định vị này
được xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, điều chỉnh hành vi xã hội của cá nhân
tương ứng với các điều kiện hoạt động ngày càng được mở rộng và ổn định như
các định vị ở thứ bậc cao hơn sẽ quy định các định vị ở thứ bậc thấp hơn.
Gần đây khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trù cơ bản của tâm lý
học, các nhà tâm lý học Xô viết đã đề cập tới thái độ sử dụng chủ quan của
nhân cách, sự hình thành thái độ chủ quan qua hoạt động và giao tiếp.
- 11 -
Ở Việt Nam cũng có các công trình nghiên cứu về thái độ . Thái độ là
khái niệm tâm lý khó xác định và gây nhiều tranh cãi, do đó cũng là khái niệm
được quan tâm nghiên cứu nhiều. Các tác giả đã nghiên cứu theo nhiều quan
điểm và hướng đi khác nhau nhằm : chỉ ra cấu trúc tâm lý của thái độ , mối quan
hệ giữa thái độ và hành vi, những yếu tố tác động tới thái độ,tuy nhiên phần lớn
lại tập trung nghiên cứu thái độ học tập của học sinh , sinh viên.Những nghiên
cứu này đã xác định được một số quan hệ cơ bản về vị trí vai trò của thái độ trong
hoạt động dạy và học tại các nhà trường . Đồng thời cũng đã khẳng định thái độ
học tập là bộ phận cấu thành , cũng là thuộc tính cơ bản của ý thức học tập , là
yếu tố qui định tính tự giác học tập và biểu hiện bằng cảm xúc và hành động
tương ứng. Có thể kể tới một số đề tài nghiên cứuvề thái độ như :
+ Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hoa :"Nghiên cứu thái độ đối
với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng mầm non Thanh
Hoá." Trong luận án , ngoài việc chỉ ra thái độ của sinh viên đối với việc rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm , tác giả đã làm rõ các mối quan hệ của thái độ và các
thuộc tính tâm lí khác của nhân cách như : ý thức , nhu cầu , hứng thú và đặc
biệt là với hoạt động.
đối với vấn dề sử dụng ma tuý, do đó ngoài việc tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu
thái độ, cũng cần làm rõ các nghiên cứu vấn đề trẻ lang thang và thái độ của trẻ
lang thang đối với việc sử dụng ma tuý.
Đã có rất nhiều nghiên cứu, khảo sát về vấn đề trẻ lang thang của các tổ
chức phi chính phủ như UNICEF. Plan của các cơ quan làm công tác chăm sóc,
bảo vệ trẻ em của các viện nghiên cứu như viện nghiên cứu Thanh niên Như
- 13 -
nghiên cứu về đặc điểm của trẻ lao động sớm tại Thành phố Hồ Chí Minh của
Viện nghiên cứu Thanh niên, trong đó đã đề cập tới nguyên nhân, hoàn cảnh, kinh
tế xã hội và điều kiện lao động của trẻ lang thang lao động sớm.
Nghiên cứu về hành vi giao tiếp của trẻ lang thang do nhóm tác giả Viện
Khoa học Giáo dục kết hợp với Uỷ ban chăm sóc – bảo vệ trẻ em Hà Nội tiến
hành. Nghiên cứu này đã chỉ ra những đặc điểm trong quan hệ giao tiếp của trẻ
lang thang. Trên cơ sở đó đề ra những nội dung và biện pháp giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hoá cho trẻ lang thang. Từ nghiên cứu này tác giả Hoàng Bích
Hường – chuyên viên UB bảo vệ chăm sóc trẻ em Hà Nội đã phát triển và bảo vệ
thành công Luận án tiến sĩ của mình.
Khảo sát về thực trang trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Nội do Unicep
tài trợ kinh phí năm 1998. Khảo sát này đã đợc tổng kết số trẻ, độ tuổi, trình độ
văn hoá, quê quán, giới tính, nghề nghiệp…. của trẻ lang thang tại địa bàn Hà
Nội.
Nghiên cứu xã hội học về tình trạng trẻ em lang thang sử dụng ma tuý do
Viện Nghiên cứu thanh niên tiến hành.
Khảo sát về tình trạng trẻ em lang thang và lao động sớm trên địa bàn
Quận Hai Bà Trưng do UB dân số – gia đình và trẻ em Quận Hai Bà Trưng thực
hiện với sự giúp đỡ về kinh phí của tổ chức nhân đạo Quốc tế Plan International .
Khảo sát này đã chỉ ra thực trạng về số trẻ em lang thang và lao động sớm trên
đại bàn Quận Hai Bà Trưng ( về độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp).
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu chỉ tập trung tìm hiểu nguyên
nhân để trẻ đi lang thang , đặc điểm tâm lý của trẻ lang thang và tình trạng trẻ
Số trẻ bán hàng rong và giúp việc gia đình, bán hàng chủ yếu là trẻ gái.
- Tỷ lệ trẻ em lang thang làm việc quá sức mình khá lớn:46.4% trẻ làm việc
trên 8 giờ/ngày, tập trung ở nhóm trẻ ngủ vỉa hè, chợ, bến xe. Tuy phải lao động
vất vả, nặng nhọc như vậy nhưng thu nhập của các em lại không cao, khoảng
44.2% có thu nhập thấp hơn 5.000 đồng/ngày. Mức thu nhập từ 5.000-10.000
đồng/ngày khoảng 41.2%, từ 10.000-20.000 đồng/ngày khoảng 6.1%, trên 20.000
đồng/ngày khoảng 0.8%. Tuy thu nhập của các em còn quá ít ỏi nhưng do nhu
cầu sinh hoạt thấp nên đa phần các em đủ ăn và một số còn để dành tiền giúp đỡ
gia đình. Phần đông các em có thu nhập sau khi đã trừ ăn uống còn lại 500
0đồng/ngày. Đây là mức thu nhập các em chấp nhận vì dẫu sao cũng không thể có
thu nhập như thể ở quê. Vì vậy khi hỏi nguyện vọng đã có 94.3% trẻ em muốn ở
lại Hà Nội và có việc làm ổn định.
Các em sống xa gia đình, ban ngày lang thang kiếm sống bằng đủ mọi nghề
trên đường phố, buổi tối thì ngủ ở nhà trọ, hoặc ngủ ở vỉa hè, bến tàu bến xe. Đa
số các em ngủ ở nhà trọ hay nhà chủ thuê làm việc (76.6%) số trẻ được thu hút
vào các mái ấm tình thương chỉ có 5.1%. Trẻ lang thang và trẻ vi phạm pháp luật
có ranh giới rất mỏng manh. Tuy nhiên theo thống kê, tỷ lệ trẻ em lang thang bị
mắc các tệ nạn xã hội chưa nhiều (11%) song cũng đáng báo động do môi trường
sống và làm việc của trẻ luôn tiếp xúc với các tệ nạn xã hội. Số trẻ hút thuốc lá là
8,6%, đánh cờ bạc 1,39%, sử dụng ma tuý: 0,4%, trộm cắp: 0,5%, số trẻ vi phạm
pháp luật và đã bị xử phạt như cảnh cáo, phạt tiền, giam giữ là 3,3%.
Tóm lại số trẻ lang thang ở Hà nội ngày càng gia tăng và tập trung chủ yếu
là các nghề như đánh giầy, bán báo, bán hàng rong, giúp việc. Các em đều có
trình độ văn hoá thấp và có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các em thường trọ và
- 16 -
làm việc ở những môi trường có nguy cơ cao, mắc phải các tệ nạn xã hội. Mặt
khác, các em ít có cơ hội tiếp xúc với các thông tin tuyên truyền, giáo dục về
quyền trẻ em, và về các tệ nạn xâm hại đến trẻ em. Vì vậy đã có một số các em đã
tham gia vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc và đặc biệt là sử dụng, vận
chuyển, mua bán chất ma tuý.
bị cho hoạt động của chủ thể? Theo quan niệm này thì một thái độ tích cực đối
với việc phòng tránh ma tuý của một cá nhân sẽ làm cho cá nhân đó có thiên
hướng tham gia tích cực vào các hoạt động mà ở đó thái độ tích cực trên được thể
hiện.
Đồng tình với quan niệm trên, Newcome cho rằng thái độ bao giờ cũng có
đối tượng cụ thể. Thái độ của một cá nhân là “thiên hướng, hành động, nhận thức,
tư duy, cảm nhận của chủ thể với khách thể có liên quan”. Định nghĩa này cũng
quy thái độ về sự sẵn sàng phản ứng.
Uznatze cũng cho rằng thái độ là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt
động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn của chủ thể. Theo ông
thái độ là phản ứng cơ bản đầu tiên của chủ thể đối với tác động của tình huống,
trong đó chủ thể phải đặt ta và giải quyết nhiệm vụ. Thái độ là trạng thái toàn vẹn
nhất định của chủ thể, không phải là nội dung riêng nào đó của tâm lý bị tách rời
khỏi các trạng thái tâm lý khác. Theo ông, tâm thế hay thái độ chỉ xuất hiện khi
có nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu. Cá nhân chỉ có thái độ đối với một
đối tượng nào đó khi anh ta có nhu cầu với đối tượng đó và ở trong hoàn cảnh có
thể thoả mãn nhu cầu đó.
Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ do sự khác nhau khi xuất
phát, nhưng những quan điểm trên đều khẳng định:
- 18 -
*Thái độ là trạng thái tinh thần có tính chất đặc trưng của con người.
*Thái độ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng và là trạng thái luôn gắn bó với
một đối tượng, một tình huống nào đó có liên quan tới chủ thể.
* Thái độ có được dựa trên kinh nghiệm có trước.
*Thái độ có chức năng điều khiển, tác động tới hành vi con người.
Qua những quan điểm ,định nghĩa nói trên theo chúng tôi quan niệm thì
thái độ là trạng thái tâm lý của cá nhân về một đối tượng nào đó quy định tình
sẵn sàng biểu hiện hành động của cá nhân theo một hướng nhất định nào đó .
B. Những đặc điểm cơ bản của thái độ:
Theo các nhà tâm lý học, không phải tất cả các thái độ đều giống nhau mà
ăn ngủ trên đường phố.
• Có em hàng ngày kiếm sống trên đường phố, song vẫn có liên hệ với
gia đình.
• Có em ban ngày lang thang trên đường phố, tối lại về với gia đình.
1.3.3. Khái niệm về ma tuý và các chất gây nghiện
Ma tuý là một chât độc gây nghiện tác hại tới hệ thần kinh, tạm thời gây
kích thích tạo cảm giác sảng khoái, kích động tình dục, nhưng sau đó suy kiệt,
khép kín cảm giác, tri giác, cản trở học tập và phát triển trí tuệ cuối cùng
thường là dẫn chủ thể tới tai nạn, phạm tội.
Các chất ma túy thƣờng gặp là :
+Heroin : hay bạch phiến , chất bột trắng kết tinh gây nghiện ,chiết xuất từ
cây thuốc phiện (morphin) đầu tiên được dùng để giảm đau và an thần . Bắt
nguồn từ chữ Hi Lạp Hero nghĩa là anh hùng ,vì nó tạo cảm giác hùng mạnh hân
hoan .
- 21 -
+Cocain: chất kết tinh có vị đắng lấy từ lá cây Coca có tác dụng gây tê cục
bộ và gây kích thích . Ngày nay còn được điều chế thành Crack ,một chất ma túy
có tác dụng cao hơn gây nghiện rất mạnh đang lan tràn trong khắp thành phố Mĩ
.Cocain có tác dụng mạnh ,gây nghịên hơn Heroin.
+Cần sa: lá và hoa cây cần sa được quấn hút như thuốc lá, có tác dụng gây
ảo giác ,được ưa chuộng trong giới sinh viên đại học các nước ,cũng như ở nước
ta các quầy rong đã bán thuốc hút bồ đà cho học sinh phổ thông và cả trẻ nhỏ
dưới 15 tuổi .
+Bụi thiên thần: tiếng lóng của Phecyclidine, một loại an thần dùng cho
gia súc và cũng dùng cho người để gây ảo giác .
+LSD: viết tắt của Lyergic Acia Điethylamie, là một chất kết tinh cho cảm
giác lâng lâng rất mạnh ,gây ảo giác và tâm thần hoang tưởng .
Các chất ma túy trực tiếp hoặc gián tiếp gây hại cho não và thần kinh ,
riêng Methadone ,chất cùng họ với Heroin còn gây tác hại cho xương ,tủy xương
gây tình trạng suy kiệt Canxy nghiêm trọng .Các chất ma túy có tác dụng gây
duy, tưởng tượng). Nhận thức cảm tính cho ta biết về những thuộc tính bên ngoài
của sự vật. Nhận thức lý tính cho ta biết bản chất của sự vật. Trí nhớ là quá trình
trung gian giữa 2 quá trình nhận thức. Trí nhớ lưu giữ các kết quả của cảm giác
và tri giác. Nhờ đó nhận thức phân biệt được các tác động trước và sau để có thể
ứng xử thích hợp tức thì với hoàn cảnh sống. Nhận thức đóng vai trò quan trọng
trong việc hình thành thái độ. Có thể nói thái độ được hình thành trên cơ sở nhận
- 23 -
thức đối tượng. Người ta sẽ không có thái độ đối với một đối tượng nào đó nếu
như không có những hiểu biết về đối tượng đó.
Nhận thức về thực chất là quá trình lĩnh hội ,ở đây không đơn giản là sự
tiếp nhận mà còn có cả quá trình nhận biết điều tra, khám phá ra bản chất của vấn
đề. Nhờ những tri thức có được về đối tượng mà chủ thể có cảm xúc, đánh giá về
đối tượng đó. Từ những nhận thức và tình cảm đó, chủ thể sẽ xác định được cách
ứng xử với đối tượng. Quá trình lĩnh hội này phụ thuộc rất nhiều vào các đặc
điểm nhân cách của cá nhân. Loại hình thần kinh, khả năng tư duy, ghi nhớ tái
hiện, khả năng phân tích logic của mỗi người đều khác nhau và dẫn tới sự sâu sắc
của bản chất sự vật hay chỉ là nhận thức cảm tình bề ngoài trước cùng một sự vật
hiện tượng.
Những đặc điểm khác nhau về khí chất cũng sẽ tạo nên sự khác nhau trong
hứng thú hoạt động, hứng thú tìm hiểu khám phá ra bản chất sự vật, hiện tượng.
Người có hứng thú sẽ có sự tìm tòi khám phá ra bản chất sự vật hiện tưượng. Như
vậy họ sẽ nhận thức sâu và đúng đắn hơn về sự vật, hiện tượng.
Thái độ được hình thành bởi các thông tin. Muốn có nhận thức về một đối
tượng nào đó thì chủ thể phải có những thông tin về đối tượng đó. Một người sẽ
không thể có thái độ về đối tuợng nào đó nếu người đó không biết được hoặc biết
rất ít về khách thể đó. Nếu một người chưa có hiểu biết gì về tác hại của ma tuý
hoặc chưa bao giờ được tiếp xúc với các thông tin tuyên truyền về tác hại của ma
tuý thì anh ta sẽ không có thái độ với nó. Nhưng khi anh ta được cung cấp thông
tin về tác hại của ma tuý và căn bệnh này tức là đã có nhận thức về nó, thì anh ta
sẽ có thái độ đúng trong việc quyết tâm tự ngăn cản mình không bị lôi kéo các tác