ĐẶT VẤN ĐỀ
ưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm
đến sức khoẻ của nhân dân lao động, đặc biệt là của học sinh, sinh viên
trong các trường học. Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, trong lời
kêu gọi toàn dân tập thể dục, Bác Hồ đã viết:”Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước
nhà, gây đời sống mới việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công” (Lời kêu
gọi toàn dân tập thể dục của Hồ Chủ Tịch ngày 27 tháng 3 năm 1946).[59,60]
D
Năm 1954 sau ngày hoà bình lập lại, đặc biệt là sau khi đất nước thống
nhất năm 1975, cả nước ta đã hình thành một phong trào tập luyện TDTT rộng
rãi, với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, trong đó có học sinh, sinh
viên. Phong trào này diễn ra liên tục trong suốt 40 năm qua và nó đã góp phần
to lớn vào sự nghiệp củng cố, nâng cao sức khoẻ phục vụ sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam XHCN.
Ở các trường học, từ bậc mẫu giáo, phổ thông đến bậc đại học, Bộ Giáo
dục và đào tạo đã quy định một chương trình GDTC bắt buộc, nhằm đào tạo
con người mới - con người XHCN, phát triển toàn diện về các mặt đức, trí,
thể, mỹ. Tuy nhiên, sau nhiều năm chiến tranh liên tục, do điều kiện kinh tế
còn gặp nhiều khó khăn, nên cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, chưa được
thoả mãn nhu cầu tập luyện TDTT, ở hầu hết các trường Đại học còn nhiều
khó khăn về kinh phí, cơ sở vật chất, chưa thoả mãn nhu cầu tập luyện của
sinh viên. Hơn nữa, ở các trường đại học trong cả nước, chương trình GDTC
chỉ mới tập trung ở hai năm đầu, bao gồm những nội dung chính của môn điền
kinh, thể dục và một số môn thể thao tự chọn, thời gian còn lại của hai năm
cuối sinh viên không bị những điều kiện ràng buộc nên hầu hết sinh viên ít
hoặc không tham gia luyện tập TDTT.[20,22,25]
Những năm gần đây, trong chương trình nghiên cứu khoa học của các
tác giả Vũ Đức Thu, Lưu Quang Hiệp (1986, 1990), Trần Văn Tác, Bùi Hoàng
Phúc (1998), Phạm Thị Nghi, Phạm Thu Thái (1999), Trần Thuỳ Linh, Phạm
1
Tất Thắng (2002), đều xác nhận tình trạng thể lực của sinh viên cuối khoá ở
luyện ở hai năm đầu và nâng cao hiệu quả môn tập tự chọn ở hai năm cuối cho
sinh viên.
Trên cơ sở ý nghĩa của công tác GDTC cho sinh viên, nhất là sinh viên
nữ, do tầm quan trọng của môn thể dục tổng hợp cổ truyền đối với đối tượng
tập luyện này, chúng tôi nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu hiệu quả của chương trình thể dục tổng hợp
cổ truyền đối với việc nâng cao sức khoẻ cho nữ sinh
trường đại học Dân Lập Thăng Long”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở đánh giá sự phát triển thể chất nữ sinh viên của trường đại
học Dân Lập Thăng Long, chúng tôi biên soạn chương trình tập luyện thể dục
dưỡng sinh tổng hợp cổ truyền được thực hiện bắt buộc nhằm nâng cao trình
độ thể chất cho nữ sinh viên.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để giải quyết đề tài nghiên cứu trên đây, các nhiệm vụ sau đây được đặt
ra:
1.Điều tra sự phát triển thể chất của nữ sinh viên trường đại học Dân
Lập Thăng Long Hà nội.
2. Nghiên cứu hiệu quả chương trình thể dục dưỡng sinh tổng hợp cổ
truyền đối với sự phát triển thể chất của nữ sinh viên trường đại học Thăng
Long Hà nội.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục thể chất cho học sinh,
sinh viên các trường học.
Từ trước tới nay, trung thành với học thuyết Mác - Lê Nin, Đảng, nhà
nước ta và Hồ Chủ Tịch rất chú ý đến giáo dục toàn diện cho thế hệ thanh
thiếu niên, học sinh, sinh viên trong các trường học từ phổ thông đến đại học,
thường xuyên quan tâm đến TDTT, coi đó là một mục tiêu quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thanh thiếu niên. Với tư tưởng chỉ đạo
toàn miền Bắc. Trong thư Người dạy: “Giữ Gìn dân chủ, xây dựng nước nhà,
gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công”, và
Người đã chỉ rõ muốn có sức khoẻ thì: “Nên luyện tập “Muốn lao động, sản
xuất và học tập tốt, thì cần có sức khoẻ. Muốn có sức khoẻ thì nên thường
xuyên luyện tập TDTT. Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào TDTT cho
rộng khắp. Đồng thời, Bác còn luôn qua tâm đến sức khoẻ của nhân dân, Bác
rất tin yêu và luôn quan tâm đến sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ. Về thăm
trường đại học TDTT TW I năm 1961, Bác đã căn dặn: “Các cháu học TDTT
ở đây không phải đạt ông kiện tướng này, bà kiện tướng kia mà cái chính là
làm người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhân dân, đem hiểu biết của mình
hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nâng cao sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật”.
[59,60]
Đề cập về tầm quan trọng của thể dục thể thao khi phê phán tình trạng
yếu kém về GDTC trong nhà trường của nước ta thời Pháp thuộc, Phan Bội
Châu - một nhân sỹ yêu nước lỗi lạc đã viết: “Các môn trong trường tiểu học,
không có môn gì quan trọng hơn môn thể dục, thế mà trong trường không có
môn học đó. Thể dục tay không, thể dục với vũ khí, thể dục giải trí cho đến các
thứ vận động khác, đều không được đưa vào trong chương trình giảng dạy. Lạ
5
hơn nữa, là các trường tiểu học của trẻ em người Pháp thì có sân thể dục, sân
vận động, mà trường tiểu học của con em người Việt Nam thì ngược lại vì trẻ
em người Việt Nam mà khoẻ mạnh thì người Pháp “không ưa”, nên môn thể
dục phải là môn “nghiêm cấm”.
Sau Cách Mạng Tháng Tám thành công, Đảng và nhà nước ta luôn quan
tâm đến nền TDTT cách mạng. Đảng lãnh đạo công tác TDTT bằng việc
hoạch định dường lối, quan điểm, chính sách, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện
kế hoạch, đưa công tác TDTT lên một tầm cao mới. Trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội năm 2001 – 2002, Đảng ta chủ trương: “Đẩy mạnh hoạt
động thể thao, nâng cao thể trạng và tầm vóc người Việt Nam”.[7]
Đường lối quan điểm của Đảng được thể hiện ở nhiều nghị quyết, chỉ thị
cho lĩnh vực này còn kém hiệu quả, chưa phát huy được vai trò chủ động, sáng
tạo của nhân dân, nhằm phát triển TDTT.
Trước tình hình mới, sự nghiệp TDTT cần phát triển theo định hướng đã
nêu rõ: “TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế
xã hội của Đảng và nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.
Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe thể lực, giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh
thần của nhân dân, nâng cao năng xuất lao động của xã hội và sức chiến đấu
của các lực lượng vũ trang” (trích chỉ thị 36 CT/TW, ngày 24.3, Năm1994 của
Ban Bí Thư Trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới) [9,18].
Chỉ thị 36 CT/TW còn khẳng định: “Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công
tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao
sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của nhân dân. Thực hiện
GDTC trong tất cả các trường học, nhằm mục tiêu làm cho việc tập luyện
TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết sinh viên” [18].
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp TDTT nước nhà,
Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 133/TTG về việc xây dựng quy
7
hoạch ngành TDTT, trong đó ghi rõ: “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng
phát triển có tính chất chiến lược, trong đó quy định các môn thể thao và các
hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo
thành phong trào tập luyện rộng rãi của thể thao quần chúng, khoẻ để xây dựng
và bảo vệ tổ quốc”. Bộ giáo dục và đào tạo cần đặc biết coi trọng việc GDTC
trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khoá, quy
định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp học, phải có sân bãi,
nhà tập TDTT, có định biên hợp lý và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ
giáo viên TDTT, đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học. Bộ giáo dục và đào tạo
cần có một thứ trưởng chuyên trách chỉ đạo công tác TDTT trường học” [21].
Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng chính phủ, ngày 21.4.1997, Bộ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo và Tổng cục TDTT (nay là Bộ văn hóa, thể thao và du
vật chất tối thiểu để phục vụ việc thực hiện chương trình ngoại khoá; phát
động phong trào tập luyện rộng khắp trong các nhà trường, với mục tiêu: “Mỗi
sinh viên biết chơi một môn thể thao”; Chỉ đạo việc cải tiến chương trình, hình
thức hoạt động TDTT ngoại khoá, mở rộng mạng lưới câu lạc bộ TDTT sinh
viên. Tập trung hỗ trợ về cán bộ, cơ sở vật chất để củng cố, thành lập câu lạc
bộ TDTT mới, để thu hút nhiều sinh viên tham gia tập luyện.[20,21,22]
Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo, đã ban hành quy chế 931/RLTC về
công tác GDTC trong nhà trường là: “Các trường từ mầm non đến đại học phải
đảm bảo thực hịên dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh, sinh viên”.
GDTC bao gồm nhiều hình thức và có liên quan chặt chẽ với nhau. Giờ học
thể dục, tập luyện thể thao theo chương trình, giờ tự tập luyện của học sinh,
sinh viên, giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường. TDTT là phương tiện
quan trọng để giáo dục thể chất. Chương trình thể dục và các hình thức GDTC
khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khoẻ, giới tính và lứa tuổi. Hàng
năm, sinh viên tự tập luyện thể thao ngoại khoá ở trường, ở nhà (ở ký túc xá
đối với các trường có học sinh nội trú). Nhà trường phải có kế hoạch hướng
dẫn học sinh, sinh viên tập luyện thường xuyên, tổ chức ngày hội thể thao của
9
trường và xây dựng thành nề nếp truyền thống. Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện
thân thể theo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo
quy định của chương trình GDTC”.[25]
GDTC trong các trường đại học và cao đẳng có tác dụng tích cực trong
việc hoàn thiện phẩm chất đạo đức, lối sống, nhân cách của người sinh viên.
Tăng cường và phát triển thể chất, phục vụ tốt cho công tác học tập, nghiên
cứu khoa học, đồng thời trang bị cho sinh viên kiến thức và phương pháp khoa
học tập luyện thể thao, củng cố và trau dồi sức khoẻ góp phần xây dựng phong
trào TDTT lớn mạnh trong nhà trường. Để đáp ứng với yêu cầu, mục tiêu đào
tạo, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chương trình GDTC trong các trường
đại học, nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục: Trang bị kiến thức, kỹ năng
về rèn luyện thể lực cho học sinh, sinh viên.
bệnh tật phát sinh.
- Thúc đẩy phát triển thể hình lành mạnh.
Sự phát triển của thể hình chủ yếu dựa vào sự phát triển (lớn mạnh) của
từng tế bào và các chất gian bào, chính sự phát dục lại chỉ sự biến đổi về chức
năng và hình thái của các hệ thống và cơ quan trong cơ thể. Hai khái niệm
trên, có chỗ giống nhau và khác nhau, tuy chúng đều chỉ sự chi phối của các
yếu tố di truyền, dinh dưỡng, sự lớn mạnh tự nhiên và điều kiện sống. Tập
luyện TDTT có thể đẩy mạnh, nâng cao hơn thể trạng và duy trì được lâu hơn,
làm chậm quá trình suy giảm khi tuổi cao.
Sự hoàn thiện về thể hình và tư thế thân thể, làm cho ngoại hình thêm
đẹp, phần nào cũng phản ánh mức hoàn thiện về chức năng. Ngày nay, người
ta còn coi đó cũng thể hiện một phần bộ mặt tinh thần, văn minh của dân tộc.
Mặt khác, một cơ thể cường tráng lại là cơ sở vật chất của các năng lực chức
năng khác.[50,55]
- Phát triển toàn diện các năng lực thể chất.
Năng lực thể chất bao giờ cũng gắn chặt chẽ với chức năng của cơ thể.
Khi ta tập luyện chạy bền, thì đồng thời nâng cao được khả năng hoạt động lâu
11
dài của các hệ thống tim mạch, hô hấp, cơ bắp. Do đó, phát triển toàn diện các
năng lực thể chất cũng là một nhân tố quan trọng, thúc đẩy sự cải thiện về hình
thái chức năng và ngược lại. Đồng thời năng lực thể chất còn là điều kiện tất
yếu, đầu tiên cho sự tiếp thu, nâng cao trình độ thể thao của người tập.
- Nâng cao năng lực thể chất của cơ thể.
Tập luyện lâu dài, có hệ thống trong các điều kiện đa dạng, thay đổi về
thời tiết, khí hậu, địa thế sẽ có lợi cho nâng cao năng lực thích ứng trước các
điều kiện tự nhiên khác nhau. Mặt khác, cũng làm tăng cường khí huyết lưu
thông và khả năng tạo máu, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, do đó sẽ nâng
cao được sức đề kháng với vi khuẩn gây bệnh, bệnh tật và kịp thời góp phần,
trị được cả những căn bệnh của nền văn minh (động mạch vành, béo phì huyết
áp, tâm thần).
rèn luyện thân thể hàng ngày, giữa chúng có những nét chung và khác biệt.
Nhiệm vụ ưu thế, tính chất, mức độ, yêu cầu và cách thức thực hiện có chỗ
khác nhau.
Rèn luyện thân thể hàng ngày là một quá trình hoạt động TDTT trong
quần chúng có nhiệm vụ chính là tăng cường thể chất.
Huấn luyện thể thao là một quá trình GDTC đặc biệt, nhằm không
ngừng nâng cao trình độ các tố chất vận động, kỹ - chiến thuật chuyên môn,
đạo đức, ý chí chiến đấu thể thao, lại là một biện pháp quan trọng để kiểm tra,
thúc đẩy, nâng cao hiệu quả của GDTC, rèn luyện thân thể, huấn luyện thể
thao.
Do đó, khi thực hiện các nhiệm vụ TDTT trên từng bộ phận, từng người,
cần nắm rõ chức năng chuyên môn cụ thể của mình, không thể lẫn lộn, thay
thế hoặc bỏ qua. Nếu từng bộ phận nhỏ thực hiện tốt theo đúng chức năng của
mình, sẽ góp phần thực hiện các nhiệm vụ lớn chung của TDTT trong cả nước.
1.2.2 Những nguyên tắc giáo dục thể chất cho sinh viên.
1.2.2.1 Nguyên tắc phát triển hợp lý con người toàn diện và cân đối
13
Bác Hồ nói: “Muốn xây dựng CNXH trước hết phải có con người mới
XHCN”. Câu nói đó, có ý nghĩa sâu sắc với công tác TDTT của chúng ta.
Ngay từ bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ hiện nay, TDTT trước hết và chủ
yếu gắn với và phục vụ cho sự nghiệp đào tạo con người, từng bước góp phần
giải quyết một mâu thuẫn của xã hội cũ để lại – nhu cầu của những tiến bộ
trong sản xuất xã hội với con người và điều kiện phát triển hạn chế của họ. Đó
không chỉ là một mong muốn, tiềm năng, mà là một sự cần thiết thật sự cho
tiến bộ xã hội. Có hai yêu cầu chính khi quán triệt nguyên tắc này trong TDTT.
[59,60]
Thứ nhất khi thực hiện các nhiệm vụ khác nhau trong TDTT (hình thành
các kỹ năng vận động, phát triển các tố chất cận động…) phải chú ý bảo đảm
sự thống nhất giữa các mặt giáo dục, nhằm bồi dưỡng sinh viên thành con
người phát triển toàn diện, hợp lý. Tiền đề tự nhiên của mối tương quan giữa
tự nhiên mà còn cả xã hội”.[56]
Song, những yêu cầu, tiêu chuẩn về phát triển thể chất toàn diện, cần
được cụ thể hoá, căn cứ vào đặc điểm cá nhân, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,
môn thể thao… Nói một cách khác, mức phát triển này phụ thuộc vào những
nhân tố di truyền – cá biệt và một phức hợp những điều kiện thay đổi trong đời
sống và hoạt động. Không nên hiểu đó là sự phát triển dàn đều, đồng loạt như
nhau, theo một phương thức cứng nhắc.
Về nguyên tắc, sự phát triển cân đối các tố chất vận động, không chỉ có
ý nghĩa là không cho phép. Trên cơ sở đó, ưu thế phát triển những tố chất,
phẩm chất trội theo yêu cầu của hoạt động chuyên môn, đồng thời vẫn đảm
bảo mối quan hệ hợp lý với các tố chất, phẩm chất khác. Có thể thấy rõ hơn
điều này trong chuẩn bị thể lực cho VĐV các môn thể thao khác nhau cho
những người làm các nghề đặc biệt. Ở đây, cần kết hợp giữa chuẩn bị thể lực
chung và chuyên môn. Nhưng cái gốc, cơ bản, phổ thông, ban đầu nhất đối với
mọi người dân phải là tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Đó là quy định về yêu cầu
phát triển thể chất toàn diện với mọi người.
15
1.2.2.2. Nguyên tắc TDTT kết hợp và phục vụ cho lao động, quốc phòng.
Trong một xã hội nhân đạo, sự phát triển con người toàn diện và cân đối
không mâu thuẫn với những mục đích thực dụng của TDTT, mà ngược lại
chúng gắn liền và hòa nhập với nhau. Bởi vậy, sau nguyên tắc đầu tiên trên,
còn có một nguyên tắc về tính thực dụng của hoạt động TDTT. Nguyên tắc về
mối liên hệ giữa TDTT và cuộc sống thực tế xã hội, trước hết phải gắn với lao
động và quốc phòng.
Trong lý luận TDTT, khi bàn về nguồn gốc của TDTT, đã có trình bày
phần nào về chức năng thực dụng, phục vụ cho lao động và quốc phòng trong
lịch sử loài người. Đặc điểm của sự thực hiện chức năng này và ảnh hưởng của
chúng đến phát triển nhân cách con người, chủ yếu phụ thuộc vào phương thức
kinh tế - xã hội. Cũng có người cho đó là quan điểm thiển cận, vụ lợi, đối
nghịch với sự phát triển tự nhiên của con người, làm sai lệch bản chất vốn có
Có thể có người tuy rất khoẻ, nhưng ít có ích, hoặc thậm chí làm hại cho
xã hội, nếu họ không có định hướng, đạo đức không tốt. Bởi vậy, đó cũng là
một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu.
1.3 Vấn đề nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực của sinh viên.
Từ kết quả nghiên cứu lý luận, phân tích về trình độ thể lực và trên cơ
sở phân tích tổng thể các công trình nghiên cứu cho thấy: Các tác giả khái
niệm trình độ thể lực không hoàn toàn giống nhau. Do đó, khi nghiên cứu đánh
giá, các tác giả tiến hành theo những cách tiếp cận khác nhau. Có thể thấy các
tác giả đã giải quyết vấn đề nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực theo hai định
hướng cơ bản:
- Nghiên cứu từng yếu tố, thành phần riêng biết của trình độ thể
lực.
- Nghiên cứu trình độ thể lực mang tính tổng hợp, theo tất cả
thành tố của nó.
17
Theo định hướng thứ nhất: Dưới góc độ hình thái học, khi nghiên cứu
các tác giả đã đi sâu khai thác các chỉ tiêu nhân trắc: dưới góc độ tâm - sinh lý
các nhà nghiên cứu lại dựa vào quan điểm y sinh học là chủ yếu. Do đó, họ có
thiên hướng đi sâu đánh giá chức năng tâm - sinh lý của từng cá thể. Trong lúc
đó, theo quan điểm sư phạm, các tác giả cho rằng, trình độ thể lực là những
biểu hiện bên ngoài của khả năng vận động cao hay thấp. Vì vậy, các tác giả
đánh giá từng tố chất vận động của đối tượng nghiên cứu.
Theo định hướng thứ hai: Các tác giả cho rằng, để kết quả đánh giá đảm
bảo chuẩn xác và khách quan, thì quá trình đánh giá cần được tiến hành đầy đủ
theo các yếu tố cấu thành của trình độ thể lực. Một trong những phương pháp
tương đối thuận lợi, khoa học và được nhiều nhà nghiên cứu tin dùng hiện nay
là phương pháp đánh giá “định hướng tổng hợp theo điểm” của một số nhà
nghiên cứu nước ngoài.
1.3.1 Quan điểm đánh giá trình độ thể lực mang tính tổng hợp.
Kết quả nghiên cứu ở mục 1.2.1 cho thấy trình độ thể lực là một tổ hợp
thể lực của học sinh các tỉnh Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Thái Bình,
Bình Trị Thiên, Thành phố Hồ Chí Minh, Hậu Giang. Mẫu điều tra gồm 6.867
học sinh từ 7 đến 17 tuổi. Tổ hợp chỉ tiêu sử dụng: chiều cao, cân nặng, độ dài
lớp mỡ dưới da. Độ dài các chi, kích thước một số vòng (về hình thái); chạy
30m xuất phát cao, nắm bắt gậy, bật xa tại chỗ, lực bóp cổ tay phải, trái, test
Cooper, đứng gập chân (về tố chất thể lực). Kết quả nghiên cứu, các tác giả đã
phát hiện: nếu đối với học sinh ở thành phố, có ưu thế phát triển về sức nhanh
và yếu về sức bền, thì ngược lại, các học sinh ở vùng núi có ưu thế phát triển
về sức bền, nhưng lại kém học sinh thành phố về sức nhanh.
Năm 1983 - 1984, Nguyễn Kim Minh và cộng sự đã thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu năng lực thể chất của người Việt Nam từ 5 - 18 tuổi”. Các tác giả
đã sử dụng các chỉ tiêu hình thái là chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đùi,
độ dày lớp mỡ dưới da, và các chỉ tiêu về tố chất thể lực là chạy 30m, bật xa
tại chỗ, lực bóp tay thuận, nằm sấp co duỗi tay trong 30 giây. Kết quả thu được
19
cho thấy: một số chỉ tuy có sự gia tăng so với hằng số sinh học người Việt
Nam cùng lứa tuổi (1975), song vẫn thấp hơn nhiều so với học sinh các nước
trong khu vực và thế giới.[53]
Trong đề tài khảo sát một số đặc điểm y - sinh học của VĐV một số
môn thể thao, tác giả Nguyễn An Quý (1993), đã sử dụng các nhóm chỉ tiêu
hình thái, chức năng sinh lý, chức năng thần kinh - tâm lý và chức năng vận
động để khảo cứu. Từ kết quả thu được, cho thấy: VĐV ở các môn thể thao
khác nhau có đặc điểm hình thái, chức năng sinh lý và tố chất thể lực khác
nhau, VĐV ở các môn khác nhau, có những đăc trưng riêng không hoàn toàn
giống nhau về các yếu tố trình độ tập luyện.[58]
Để tìm hiểu tình hình thể lực của thanh niên mới nhập ngũ, tác giả
Nguyễn Hữu Thắng (1994) đã sử dụng các chỉ tiêu về nhân trắc, các chỉ tiêu về
chức năng tim - mạch và phổi, các chỉ số Pigner và QVC, các chỉ tiêu về lực
cơ, các chỉ tiêu về thần kinh - tâm lý, test PWC 170 và các chỉ tiêu sư phạm.
Tác giả đã so sánh kết quản nghiên cứu của mình với hằng số sinh học người
tính và môn chuyên sâu.
Lê Văn Thiện (1999) và Nguyễn Thị Việt Hương (1999) khi nghiên cứu
năng lực thể chất của sinh viên, cũng đã sử dụng một số các chỉ tiêu hình thái
và tố chất thể lực để nghiên cứu. Riêng Lê Văn Thiện, còn đưa cả một số chỉ
tiêu về hoạt động chức năng tâm - sinh lý để xem xét sự biến đổi thể lực của
sinh viên ở trường Đại Học Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh.[52]
Trong đề tài nghiên cứu: “Thực trạng phát triển thể chất của học sinh,
sinh viên”, Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải và Vũ Bích Hụê
(2000), đã sử dụng các chỉ tiêu thuộc hai nhóm hình thái và tố chất thể lực để
điều tra, khảo sát. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện: Trình độ thể lực của sinh
viên ở các năm học không đồng đều, trình độ thể lực chung tốt nhất vào năm
học thứ 1, năm thứ 2 và có xu hướng giảm ở các năm cuối khoá.[42]
Năm 2001, Viện khoa học TDTT chủ trì đề tài: “Điều tra thể chất nhân
dân từ 6 đến 60 tuổi”. Đối với độ tuổi từ 6 đến 20 tuổi, điều tra trong giai đoạn
21
I (2001 – 2002), đã quy định nội dung điều tra gồm các chỉ tiêu: chiều cao
đứng, cân năng, chỉ số Quetelet, chỉ số công năng tim, lực bóp tay thuận, bật
xa tại chỗ, độ dẻo gập thân, nằm ngửa co gối gập thân thành ngồi, chạy 30 m,
chạy 4x10 m, chạy (đi bộ) 5 phút tính quãng đường.
Một điểm chú ý là, những nghiên cứu trước đây đa phần chỉ dừng lại
trong việc đánh giá từng chỉ tiêu riêng lẻ, mà chưa chú ý đánh giá một cách
toàn diện, tổng hợp các chỉ tiêu. Ở nước ta, những năm gần đây mới xuất hiện
đánh giá tổng hợp bằng các thang độ đánh giá trung gian. Theo hướng đó,
những đánh giá năng lực thể chất gắn liền với việc xem xét mức độ tác động
của từng yếu tố, từng chỉ tiêu đến năng lực thể thao của từng người.
Từ kết quả phân tích các yếu tố cấu thành trình độ thể lực và quan điểm
nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực của nhiều tác giả kể trên, cho phép đưa ra
một số nhận xét sau:
Xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau, khi lựa chọn
phương pháp và chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực có khác nhau đáng kể. Có
dụng nhiều, có đủ độ tin cậy và tính thông báo, phù hợp với điều kiện nghiên
cứu lý luận được xác định như sau:
1. Các chỉ tiêu hình thái gồm 4 test: chiều cao, cân nặng, vòng ngực
trung bình và chỉ số Pinhê.
2. Các chỉ tiêu chức năng sinh lý gồm 3 test: dung tích sống, Test
Harward (công năng tim).
Các chỉ tiêu chức năng vận động cho nữ gồm 6 test: Chạy 50m xuất phát
cao, chạy 500m, nằm sấp co duỗi tay chống trên bục cao 30cm, bật xa tại chỗ,
gập dẻo về trước, test phối hợp động tác.
1.4. Tập luyện TDTT đối với nữ sinh viên.
Cơ thể phụ nữ so với nam giới có những đặc điểm riêng về hình thái
chức năng. Khi so sánh chỉ tiêu về hình thái, thấy sự khác biệt rõ nét nhất giữa
nam giới và nữ giới là chiều cao và cân nặng: Trung bình, cơ thể phụ nữ thấp
hơn nam giới khoảng 10 - 12cm, trọng lượng cơ thể nhẹ hơn từ 10 - 11kg, chu
23
vi lồng ngực nhỏ hơn từ 10 -11cm, dung tích sống từ 1.400 - 1.600 ml, lực đẩy
từ 15 - 20kg, lực nâng từ 70 - 100kg, còn vòng đùi và hông tương đối lớn, lớp
mỡ dày hơn so với nam giới từ 2,5 - 5 mm.
Tổ chức cơ của phụ nữ chiếm từ 30 - 32% trọng lượng cơ thể. Tổ chức
mỡ của phụ nữ cao hơn 10% so với nam giới. ở phụ nữ, mỡ thường tập trung ở
vùng quanh bụng, ngực và mông, còn nam giới mỡ tập trung ở vùng dưới
bụng. Do vậy, khả năng làm việc và duy trì cơ thể trọng lượng vận động lớn ở
phụ nữ là kém hơn so với nam giới, cho nên dẫn tới sự mệt mỏi nhanh hơn. Bộ
xương của phụ nữ kém phát triển hơn so với nam giới, một số xương nhỏ hơn,
thành xương mảnh, mềm mại và tương đối nhẵn. Với cấu trúc xương như vậy,
làm cho khả năng chịu trọng tải lớn của phụ nữ dễ bị chấn thương khi mang
vác và hoạt động mạnh. Sự mệt mỏi từ quá trình vận động của phụ nữ chứng tỏ
khả năng thích nghi cơ thể kém. [50]
Phụ nữ có cấu tạo cột sống rất khác nam giới, tỷ lệ các đốt sống cổ và
ngực là ngắn so với toàn bộ cột sống của cơ thể. Trong khi các đốt sống cổ và
hiện hơn so với những người không tập luyện và thời gian hồi phục sau thử
nghiêm ngắn hơn.
Do sự ảnh hưởng của việc tập luyện, tần số hô hấp giảm từ 6 - 8
lần/phút, dung tích sống tăng lên từ 1000 - 1500 ml, thậm chí ở các nữ VĐV
tăng lên đến 5000 ml.
Ở lứa tuổi 18 - 19, hình thể các em đạt đến mức độ hoàn chỉnh nhất và
kết hợp hài hoà giữa cấu trúc cơ thể với chức năng vận động. Thời kỳ này, các
em phát triển về chiều cao đạt 9/10 và trọng lượng cơ thể trưởng thành. Trong
độ tuổi thanh niên, các em nữ hầu như đạt ở mức phát triển về hình thái, chức
năng sinh lý ở mức hoàn toàn ổn định, não bộ đã đạt trọng lượng tối đa (trung
bình 1400g) và số tế bào thần kinh phát triển đầy đủ tới 100 tỷ nơron. Ở lứa
tuổi này quan trọng hơn cả là hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức độ
trưởng thành, hình thành sự phát triển của lứa tuổi sinh viên.[31,55]
25