KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ CHẤT CỦA NỮ SINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP THĂNG LONG - Pdf 72

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ CHẤT CỦA NỮ
SINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP THĂNG LONG.
3.1. Đánh giá trình độ thể lực chung của nữ sinh trường Đại học Dân Lập
Thăng Long.
Ngày nay, đánh giá trình độ thể lực chung được nhiều tác giả trong và
ngoài nước xem xét trên 3 mặt: Về mặt hình thái học (các chỉ số bên ngoài cơ
thể); các chỉ số về chức năng (trạng thái chức năng của các hệ cơ quan trong
cơ thể như hô hấp, tuần hoàn) và các chỉ số biểu thị tố chất thể lực chung bao
gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ dẻo và sự khéo léo (xem bảng 3.2).
Trên bảng 3.2 trình bày các số liệu đo được từ nghiên cứu.
Để đánh giá trạng thái chức năng, chúng tôi lựa chọn 2 chỉ số dung tích
sống (lít) và chỉ số Harvard, các chỉ số hình thái được chọn là chiều cao (cm),
cân nặng (kg); chu vi lồng ngực (cm), chỉ số Pinhê. Các tố chất thể lực chung
được đánh giá gồm 6 test (bài thử): sức nhanh (chạy 50m); sức bền C(chạy
500m); sức mạnh (bật xa tại chỗ, nằm sấp chống đẩy); độ dẻo (gập với sâu về
trước) và khéo léo (phối hợp động tác).
3.1.1.Đánh giá trạng thái chức năng cơ thể:
a)Về dung tích sống: Trị số dung tích sống thay đổi theo năm học, thay
đổi lớn nhất là từ năm thứ nhất đến năm thứ hai. Nếu năm thứ nhất, dung tích
sống trung bình của nữ sinh là 2,54 lít - 0,16, thì ở năm thứ hai là 5,65 lít -
0,13. Năm thứ ba, giảm đi là 2,54 lít - 0,14 và ở năm thứ tư dung tích sống
trung bình đạt 2,55 lít - 0,19. Khi so sánh thống kê học chỉ thấy khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa nhóm nữ sinh viên năm thứ nhất so với năm thứ hai, tính
được t = 2,18, P < 0,05 (5%). các trường hợp còn lại có khác biệt theo chiều
giảm dần, song không đạt được độ tin cậy thống kê cần thiết, t < 2, P > 5%.
b)Chỉ số Harvard (công năng tim):
Cũng giống như ở các chỉ số dung tích sống; chỉ số Harvard tăng chủ
yếu từ năm thứ nhất đến năm thứ hai, nghĩa là từ 64,80 - 3,88 (nhóm nữ sinh
năm thứ nhất) đến 73,10 - 3,77 (nhóm nữ sinh năm thứ hai). Sau đó, các chỉ số
1
1

2
nằm sấp chống đẩy (đánh giá sức mạnh); bài thử tập với sâu (đánh giá độ dẻo)
và bài thử phối hợp động tác (đánh giá sự khéo léo). Các bài thử chạy 50m
đánh giá sức nhanh và chạy 500m đánh giá sức bền có khác biệt về hình thức,
song về thống kê học không thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê.
- Ở chỉ số bật xa tại chỗ: nếu năm thứ nhất thành tích trung bình của nữ
sinh đạt được là 155,60 cm ± 5,8, thì ở năm thứ hai thành tích trung bình là
166,17 cm ± 4,48, có giá trị t = 3,57, P < 0,01 (1%).
- Ở bài thử nằm sấp chống đẩy: Nếu thành tích trung bình ở năm thứ
nhất là 8,90 lần ± 2,16 thì ở năm thứ hai đạt được 12,35 lần ± 3,05 có giá trị t =
3,84; P < 0,01 (1%).
- Ở bài thử gập với sâu: Thành tích trung bình năm thứ nhất là 14,65 cm
± 5,06 thì ở năm thứ hai thành tích trung bình của nhóm là 2,26 cm ± 4,45, có
giá trị t = 3,90, P < 0,01 (1%).
- Ở bài thử phối hợp động tác: Thành tích trung bình ở năm thứ nhất đạt
được là 6,67 điểm ± 1,80, ở năm thứ hai là 7,85 điểm ± 0,67, có giá trị t =
2,25 P < 0,05 (5%).
Như vậy đối với các tố chất thể lực chung, trong số 5 tố chất, chỉ có sức
mạnh, độ dẻo, sự khéo léo có khác biệt giữa năm thứ nhất và năm thứ hai; hai
tố chất là sức nhanh, sức bền chỉ khác biệt về mặt hình thức, chưa thấy sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê; ở các năm sau các chỉ số thu được cả 5 tố chất đều có
xu hướng giảm dần so với năm thứ hai, song không thấy sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê.
Nhận xét sơ bộ: Từ kết quả nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực chung
của nữ sinh có thể nhận thấy:
- Sự khác biệt đều xảy ra ở các mặt trạng thái chức năng, chỉ số hình
thái và tố chất thể lực chung.
- Song sự khác biệt diễn ra rõ hơn giữa năm thứ hai so với năm thứ nhất.
Đa số các chỉ số tính được của năm thứ hai đều hơn hẳn năm thứ nhất và có ý
nghĩa thống kê từ mức 5% - 1%.

(cm)
Pinhê
Chạy
50m
(giây)
Chạy
500m
(phút)
Bật xa
tại chỗ
(cm)
Nằm sấp
chống
đẩy
(lần)
Gập với
sâu
(cm)
Phối hợp
động tác
(điểm)
1
Năm thứ 1
N = 58
2.54
±0.16
64.80
±3.88
152.88
±3.18

±3.05
32.26
±2.80
9.28
±0.60
2.30
±0.68
166.17
±4.48
12.35
±3.05
20.26
±4.45
7.85
±0.67
3
Năm thứ 3
N = 56
2.58
±0.14
68.95
±4.05
153.50
±2.48
46.30
±2.97
76.60
±3.10
33.80
±3.44

±0.599
157.16
±4.90
9.15
±3.14
16.37
±4.80
7.14
±0.54
5
Sự
Khác
Biệt
Thống

t2 – 1
2.18 2.85 1.05 2.75 3.40 2.76 1.16 0.70 3.57 3.84 3.90 2.25
P
0.05 0.05 >0.05 0.05 0.01 0.05 >0.05 >0.05 0.01 0.01 0.01 0.05
6
t3 – 2
0.38 0.64 0.11 0.10 0.37 0.14 0.08 0.13 0.48 0.70 0.47 0.50
P
>0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05
7
t4 – 3
0.26 0.30 0.050 0.87 0.90 0.33 0.17 0.18 1.30 1.38 1.42 0.37
P
>0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05 >0.05
5

6
6
tập luyện và do bệnh tật chiếm tỷ lệ rất thấp tương ứng là 9,63% và 3,61%. Do
đó, có thể khẳng định là sinh viên đa số có nhận thức đúng đắn với việc phát
triển thể lực, rất ít sinh viên lười biếng. Điều này, sẽ được thể hiện ở câu hỏi
thứ 3.
Câu hỏi thứ 3: Nhận thức của sinh viên về việc nâng cao sức khỏe và
phát triển thể lực. Có bốn mức độ được đặt ra: rất quan trọng, quan trọng, bình
thường và không quan trọng. Ý kiến thu được như sau: có 80 sinh viên trả lời
là rất quan trọng, chiếm tỷ lệ 37,03%; mức quan trọng có 116 sinh viên, chiếm
tỷ lệ 53,70%; mức bình thường có 14 sinh viên, chiếm tỷ lệ 6,48% và mức
không quan trọng có 6 sinh viên, chiếm tỷ lệ 2,77%. Như vậy, tỷ lệ 90,73% số
người được hỏi có mức quan trọng trở lên. Các nhận thức khác, chiếm tỷ lệ
thấp là 9,25%.
Câu hỏi thứ 4: Về nguỵên vọng của sinh viên với công tác GDTC trong
nhà trường. Chúng tôi chuẩn bị 8 phương án gồm: nghiên cứu tăng chất lượng
giờ nội khóa; tăng cường giờ học ngoại khóa (nhất là ngoại khóa bắt buộc);
đảm bảo sân bãi dụng cụ tập luyện đầy đủ; thường xuyên cung cấp thông tin,
tài liệu tham khảo; quy định bắt buộc kiểm tra thể lực hàng năm; có người
hướng dẫn tập luyện; xây dựng CLB thể thao môn tự chọn và tổ chức các giảit
thi đấu thể thao thường xuyên. Kết quả thu được từ phỏng vấn sinh viên có
198/216 sinh viên trả lời cần tăng các giờ ngoại khóa bắt buộc, chiếm tỷ lệ
91,66%. Nguyện vọng xây dựng CLB thể thao môn tập tự chọn cóa 196 người,
chiếm 90,74%. Có 184 người đề nghị nên thường xuyên tổ chức các giải thi
đấu thể thao chiếm tỷ lệ 85,18%. Có 160 người mong muốn nâng cao chất
lượng các giờ tập luyện các giờ thể dục nội khóa, tỷ lệ 74,07%. Có 153 người
đề nghị được cung cấp thông tin, tài liệu tham khảo về bài tập và phương pháp
tập chiếm 70,83%. Các nguyện vọng đảm bảo về sân bãi dụng cụ tập luyện, có
quy định bắt buộc kiểm tra thể lực hàng năm, có người hướng dẫn tập luyện,
có tỷ lệ phần trăm tương đối cao (từ 60,18% đến 68,05%).

-Trung bình
-Kém
-Rất kém
16
34
88
70
8
7,40
15,7
4
40,7
4
8
8
32,4
0
3,70
2
Nguyên nhân dẫn đến sức khỏe trung bình,
yếu kém
-Do giờ nội khóa ít thời gian
-Do không có thời gian ngoại khóa
-Do cơ sở vật chất, dụng cụ tập thiếu
-Do thiếu người hướng dẫn
-Do thiếu thông tin và tài liệu
-Do lười tập luyện
-Do không quy định kiểm tra thi lại
-Do bệnh tật
14

thuộc
diện
sức
khỏe
này
3
Nhận thức về sức khỏe
-Rất quan trọng
-quan trọng
-Bình thường
-Không quan trọng
80
11
6
14
66
37,0
3
53,7
0
6,48
2,77
9
9
4
Nguyện vọng với công tác GDTC
-Nâng cao chất lượng giờ nội khóa
-Tăng giờ ngoại khóa bắt buộc
-Đảm bảo sân bãi, dụng cụ tập luyện đủ
-Cung cấp thông tin, tài liệu tham khảo

60,1
8
90,7
4
5,18
5 Lựa chọn môn thể thao tự chọn
- Thể dục tổng hợp cổ truyền
- Bóng đá
- Bóng rổ
- Bóng chuyền
-Điền kinh
-Bơi lội
-Các môn võ
-Cầu lông
-Bóng bàn
-Bóng ném
19
5
41
36
84
78
11
4
12
3
15
90,2
7
18,9

14
8
4
8,33
21,9
9
68,5
1
1,85
Nhận xét: Từ kết quả phỏng vấn nữ sinh viên về các vấn đề có liên quan
đến trạng thái thể lực và nguyện vọng phát triển thể lực của nữ sinh, thấy tình
hình sức khỏe thể lực của nữ sinh trường đại học Dân Lập Thăng Long Hà nội
đa số ở mức trung bình và dưới mức trung bình. Nhất là số có tình hình sức
khỏe yếu kém tương đối lớn (36,10%). Nguyên nhân của tình hình sức khỏe
nói trên có rất nhiều (6/8 nguyên nhân đặt ra trong phiếu phỏng vấn). Tuy
nhiên, sinh viên ngày nay đã nhận thức rõ vai trò của việc nâng cao sức khỏe
phát triển thể lực. Đa số được mong muốn có giờ tập luyện thêm TDTT; được
xây dựng thêm các CLB TDTT tự chọn; được tổ chức thường xuyên các giải
thi đấu; được nâng cao chất lượng các giờ thể dục nội khóa, cung cấp thông tin
và tài liệu tham khảo. Các môn tự chọn ở hai năm học cuối cùng được đa số nữ
sinh lựa chọn là môn Thể dục tổng hợp cổ truyền, (90,27%) và một số môn tập
hợp với sức khỏe và giới tính, đó là cầu lông, bóng bàn. Đa số nữ sinh mong
muốn có 3 buổi tập/tuần (68,51%) ý kiến. Điều này, hoàn toàn phù hợp với số
buổi tập luyện trong một tuần để nâng cao sức khỏe.
11
11
3.3. Phân tích mối quan hệ giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập
môn GDTC nội khóa của nữ sinh viên trường đại học Dân Lập Thăng
Long
Để phân tích mối quan hệ giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập

hình thái cơ thể và tố chất thể lực chung với kết quả thi môn GDTC ở cuối
năm thứ nhất thì 10/12 chỉ số thu được mối tương quan đồng biến với kết quả
học tập mon GDTC nội khóa, trong đó bật xa tại chỗ có mối tương quan cao r
= 0,72.
Nhận xét: Từ kết quả phân tích tương quan có thể nhận thấy giữa các chỉ
số biểu thị trình độ thể lực chung với kết quả học tập môn GDTC ở năm thứ
nhất đa số các trường hợp tính được biểu thị mối tương quan thuận r đạt từ
0,50 trở lên.
Bảng 3 .3: Mối tương quan giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập
môn GDTC của nữ sinh năm thứ nhất (n = 216)
TT Các chỉ số
Mối tương quan
với kết quả học tập
Ghi chú
1
Chức năng:
-Dung tích sống
-Công năng tim
(HW)
0,605
0,589
Điểm thi GDTC cuối
học kỳ 2, năm thứ nhất
2
Hình thái:
-Chiều cao
-Cân nặng
-Chu vi vong ngực
-Chỉ số Pinhê
0.336


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status