ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG MINH CHÂU
(Thích Bảo Nghiêm)
M
M
Ố
Ố
I
IQ
Q
U
U
A
A
N
NH
H
O
OV
V
À
ÀT
T
Í
Í
N
NN
N
G
G
Ư
Ư
Ỡ
Ỡ
N
N
G
G
N
N
A
A
M
M(
(
Q
Q
U
U
A
AN
N
G
G
H
H
I
I
Ê
Ê
N
N
I
IC
C
H
H
Ủ
ỦV
V
Ù
Ù
N
N
G
GĐ
Đ
Ồ
Ồ
N
N
G
G
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG MINH CHÂU
(Thích Bảo Nghiêm)
M
M
Ố
Ố
I
I
H
H
Ậ
Ậ
T
TG
G
I
I
Á
Á
O
OV
V
À
ÀT
T
Í
Í
N
N
N
NV
V
I
I
Ệ
Ệ
T
TN
N
A
A
M
M(
(
Q
Q
U
U
A
A
S
S
Ố
ỐN
N
G
G
Ô
Ô
I
IC
C
H
H
Ủ
ỦV
V
Ù
Ù
C
CB
B
Ộ
Ộ
)
)
Chuyên ngành
:
Tôn giáo học
Mã số
:
60.22.90 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
1.3. Sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian ở Việt Nam 42
Ch-ơng 2: Đặc điểm của các ngôi chùa vùng đồng bằng
Bắc Bộ và sự thể hiện mối quan hệ giữa Phật giáo và tín
ng-ỡng dân gian trong chúng 52
2.1. Đặc điểm của các ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ 52
2.2. Sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian qua nghi l, giỏo lý
ca Pht giỏo 63
2.2.1. Biu hin qua giỏo lý ca Pht giỏo 63
2.2.2. Biu hin qua nghi l ca Pht giỏo 71
2.3. Sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian qua kiến trúc nghệ
thuật của phật giáo 85
2.3.1. Qua kiến trúc 85
130
2.3.2. Qua nghÖ thuËt bµi trÝ t-îng thê trong chïa 91
2.4. Xu hướng biến đổi và một số giải pháp phát huy những giá trị văn hóa
trong mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam 96
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 112
1
Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phật giáo du nhập vào đất Việt từ khá sớm và đã nhanh chóng hoà nhập
với tín ng-ỡng bản địa để trở thành một tôn giáo mang sắc thái Việt. Trong
quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể vào
phm vi nh chựa. Cng do thớch ng vi tớn ngng bn a m ngay trong
chựa cng th vong linh ngi ó khut, cỏc tng Thnh Hong hoc anh
hựng dõn tc hay nh c Thỏnh Trn nh hu ng. Sự ra đời và phát
triển của những dạng chùa này không chỉ đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật
kiến trúc dân gian Việt, mà còn phản ánh những chuyển biến về mặt t- t-ởng
của ng-ời dân và đời sống tôn giáo, tín ng-ỡng của họ trong những giai đoạn
lịch sử nhất định. Ngi dõn i chựa l Pht li va cỳng Mu, cỳng Thỏnh.
V nh vy, o Pht dõn gian ó hỡnh thnh trong dõn chỳng bt ngun t
o Pht chớnh thng, nhng ó gt b phn trit lý xa xụi, khú hiu tr v vi
cuc sng trn th hng ngy. Kt hp vi tớn ngng bn a, o Pht v tớn
ngng dõn gian ó thm thu vo nhau mang sc thỏi vn húa Pht giỏo Vit
Nam nng t tng nhp th, x th, to cho Pht giỏo gn bú vi dõn tc,
gúp phn to nờn nhng thnh qu dng nc v gi nc ca dõn tc m
Pht giỏo Vit Nam cú cõu:
Dự xõy chớn cp Phự
Khụng bng lm phỳc cu cho mt ngi.
Vì vậy, việc nghiên cứu mi quan h gia Pht giỏo v tớn ngng dõn
gian Vit Nam c th hin qua nhng ngụi chựa em li cho ta hiu rừ cỏc
lớp văn hóa bồi tụ, lắng đọng trong thần tích và lễ hội liên quan tới các nhân
3
vật đ-ợc phối thờ cùng các nhân vật của Phật giáo, trong cùng một không gian
kiến trúc. Đó cũng chính là nét độc đáo riêng có của Phật giáo Việt Nam.
Hn na, nghiờn cu mi quan h gia Pht giỏo v tớn ngng dõn gian
Vit Nam cũn nhm khng nh cn tớnh c thự ca Pht giỏo Vit Nam,
khng nh giỏ tr vn húa, lch s ca nhng ngụi chựa Vit, gi gỡn v phỏt
huy truyn thng, bn sc dõn tc, gúp phn xõy dng nn vn húa tiờn tin
m bn sc dõn tc Vit Nam trong thi k i mi, hi nhp v phỏt
trin.
ng Bng Bc B l vựng t mang du n tiờu biu cho i sng vn
Phật, đặc biệt là quá trình du nhập, dung hội và những đặc điểm nổi bật của
Phật giáo Việt Nam.
2.2. Những công trình nghiên cứu về tín ng-ỡng dân gian
Có thể điểm qua một số công trình và tác giả tiêu biểu nh-: Đạo Mẫu
ở Việt Nam, Tín ng-ỡng và văn hoá tín ng-ỡng ở Việt Nam của Ngô Đức
Thịnh [59 và 60], Đạo Thánh ở Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh [23], Tục
thờ Mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam cùa Đinh Gia
Khánh [22], Tiếp cận tín ng-ỡng dân dã Việt Nam cùa Nguyễn Minh San
[28], hay Thần, ng-ời và đất Việt của Tạ Chí Đại Tr-ờng[66],
Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích đ-ợc một số nét độc
đáo của tín ng-ỡng dân gian Việt Nam, những biểu hiện cụ thể của chúng
trong đời sống ng-ời Việt cũng nh- cách tiếp cận việc nghiên cứu tín ng-ỡng
dân gian ở n-ớc ta.
2.3. Các công trình nghiên cứu về một số ngôi chùa
Về giá trị của loại di tích chùa tháp ở Việt Nam nói chung, vùng đồng
bằng Bắc Bộ nói riêng đã đ-ợc nhiều nhà khoa học quan tâm. Dù nhìn nhận,
đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, song họ vẫn có điểm chung khi thống
5
nhất cho rằng: chùa là nơi bảo tồn, l-u giữ những giá trị văn hoá vật thể và phi
vật thể tiêu biểu của ng-ời Việt qua các giai đoạn lịch sử.
Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu chuyên khảo và bài viết đơn
lẻ giới thiệu về diễn trình phát triển của ngôi chùa Việt nói chung, về những
đặc điểm chung của loại di tích chùa tháp ở Việt Nam hay về một giá trị kiến
trúc, điêu khắc, lễ hội tiêu biểu, độc đáo của một ngôi chùa nào đó (đặc biệt
là những ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam). Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu
biểu nh-: Chùa Việt cùa Trần Lâm Biền [5], Chùa Việt Nam cùa H Văn
Tấn [49], hay Sáng giá chùa x-a - Mỹ thuật Phật giáo cùa Chu Quang Trử
[65] Một số tác giả khác lại đi vào nghiên cứu, giới thiệu từng ngôi chùa cụ
thể, nh- Nguyễn Thế Long trong cuốn Chùa Hà Nội [28] đã giới thiệu những
nhừng tập tũc dân gian chịu nh hờng Phật gio Đi Thúa l chuyên
nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo (Đại thừa) và những tập tục (song
chủ yếu là ở vùng Nam Bộ). Trong mt s bài viết của Trần Lâm Biền, Chu
Quang Trứ, Hà Văn Tấn, Nguyễn Quốc Tuấn đều có nhắc tới sự dung
hội/kết hợp này Nh: Qua b-ớc đi của di tích Hà Nam Ninh ca Trần Lâm
Biền; Về một vài yếu tố mang tính triết học của kiến trúc cổ truyền Việt của
Trần Lâm Biền và Nguyễn Hồng Kiên cũng đã b-ớc đầu phân tích sự kết hợp
này, nhng mi ch dng nhng phõn tớch ri rc, c th.
Nh- vậy, dù đã nhiều công trình nghiên cứu đến các khía cạnh khác
nhau của đề tài, tuy nhiên, nghiên cứu về sự kết hợp giữa Phật giáo với tín
ng-ỡng dân gian thể hiện qua một số ngôi chùa vẫn còn khá lẻ tẻ và thiếu tính
khái quát, hệ thống. Ch-a có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một
cách hệ thống sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian Việt Nam thể
hiện ở các ngôi chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ đó có những đánh giá một
cách khách quan và khoa học về vai trò, vị thế của Phật giáo trong đời sống
văn hoá - xã hội Việt Nam nói chung và tín ng-ỡng dân gian Việt nam nói
7
riêng từ góc nhìn của khoa học Tôn giáo. Đây cũng là mục đích chính mà luận
văn h-ớng tới trong quá trình nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hoá một số nội dung lý luận về mối quan hệ giữa
Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian ở Việt Nam, luận văn tập trung phân tích sự
thể hiện mối quan hệ này qua một số ngôi chùa tiêu biểu ở vùng đồng bằng
Bắc Bộ, từ đó chỉ ra xu h-ớng biến đổi và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát
huy những giá trị văn hoá của mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ng-ỡng dân
gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ n-ớc ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá một số nội dung lý luận cơ bản về Phật giáo và tín
- Chỉ ra mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian qua một số
ngôi chùa tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. ý nghĩa lý luận
Góp phần làm rõ hơn giá trị bản sắc văn hoá dân tộc của những ngôi chùa
cổ truyền qua việc tìm hiểu sự kết hợp giữa Phật giáo v tín ng-ỡng dân gian
biểu hiện trong các lĩnh vực nh-: nghi l, ngh thut kin trúc, Kết quả của
luận văn đặt ra vấn đề đối với các nhà quản lý tôn giáo, quản lý văn hoá đối
với việc bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của ng-ời Việt
trong sự nghiệp bảo tồn nền văn hóa truyền thống và xây dựng đời sống văn
hóa đ-ơng đại.
7.2. ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy và học tập về tôn giáo.
9
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn đ-ợc bố cục thành 2 ch-ơng, 7 tiết. Ngoài ra, trong luận văn còn có
phần Phụ lục nh minh ha.
dit tn kh au.
Từ khi ra đời cho đến khi xác lập đ-ợc vị trí ở ấn Độ và trở thành một
trong những tôn giáo lớn của thế giới, Phật giáo đã trải qua 4 lần kết tập kinh
điển để xây dựng một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh.
Sau lần kết tập thứ t-, Phật giáo suy tàn dần ở ấn Độ, nh-ng lại phát triển
ra bên ngoài một cách nhanh chóng về phía Bắc, đến các vùng Trung á, Mông
Cổ, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên về phía Nam, đến Sri
Lanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Inđônêxia, Malaixia và trở
thành một tôn giáo mang tính quốc tế.
Phật giáo có đặc điểm khác với các tôn giáo khác, đó là: đức Phật giảng
dạy các ph-ơng pháp và các giáo lý thực hành chứ không phải là các tín điều,
giáo điều. Giáo lý ấy không phải là những gì để tin, để suy luận mà là để thực
hành. Đức Phật đã dựa trên cơ sở thực hành để nói về pháp và theo ng-ời mọi
11
kết luận chỉ có thể là đúng khi nó đ-ợc kiểm chứng bởi tự thân mỗi ng-ời.
Phật giáo hấp dẫn nhiều tầng lớp, từ trí thức đến nông dân chính bởi những nội
dung cực kỳ phong phú. Nghĩa lý chính pháp trong đạo Phật cao siêu mà vẫn
gần gũi, phù hợp với nền tảng đạo đức, văn hoá và khoa học nên đã đáp ứng
đ-ợc nhu cầu tâm linh của đông đảo chúng sinh. Theo Albert Einstein, Phật
giáo là khoa học vì nói lên bản chất của sự vật đúng lẽ thật. Và nếu khoa học
mỡi chỉ biết đến nhừng quy luật tơng tc cùa vật vỡi vật thì Phật gio tú lâu
đ tìm hiểu quy luật về sữ tơng tc giừa tâm v vật, giừa tâm v tâm.
Thực chất của đạo Phật là học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát. Phật chỉ rõ sự
thật và nguyên nhân khổ đau của con ng-ời, chỉ dạy con đ-ờng để có thể giải
thoát, chấm dứt sự khổ đau. Vì thế, toàn bộ triết lý của đạo Phật đặt trên hai
trụ cột: tử diệu đế v bt chính đo. Mói cch gii thích khc nhau cùa
sách Phật giáo hầu hết đều chỉ là sự giải thích nông, sâu, rộng, hẹp của hai
phạm trù này mà thôi. Tứ diệu đế nói về nỗi khổ, nguyên nhân và con đ-ờng
để diệt trừ nỗi khổ. Bát chính đạo là tám con đ-ờng hay tám ph-ơng tiện màu
C-ơng L-ơng, Đàm Hoàng
Đến thế kỷ V, Phật giáo đã đ-ợc truyền đến nhiều nơi trên đất n-ớc và
đã xuất hiện những nhà s- Việt Nam có danh tiếng nh- Huệ Thắng, Thích
Đạo Thiền v.v
Từ thế kỷ VI đến thế kỷ X vẫn đ-ợc xem là giai đoạn truyền đạo của
Phật giáo. Nếu ở giai đoạn này, ảnh h-ởng của các nhà truyền giáo ấn Độ
giảm dần thì ảnh h-ởng của các nhà truyền giáo Trung Quốc lại tăng lên.
Đáng chú ý hơn cả là việc các phái thiền Trung Quốc du nhập vào Việt Nam,
nh- phái Tỳ-ni-đa-l-u-chi (Vinitaruci ở Việt Nam 580 - 594), phái Vô Ngôn
Thông (đến Việt Nam năm 820). Sang thế kỷ X, Việt Nam b-ớc vào kỷ
nguyên độc lập tự chủ sau một ngàn năm Bắc thuộc đã tạo điều kiện cho Phật
giáo phát triển sang một b-ớc mới, các vị vua thời Đinh và Tiền Lê (968-
1009) đã có những chính sách nâng đỡ Phật giáo. Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên
13
ngôi hoàng đế đã triệu tập các vị cao tăng để định rõ phẩm trật cho tăng già.
Vua Lê Đại Hành cử những phái đoàn sang Trung Quốc thỉnh kinh để về
truyền bá Phật pháp. Đặc biệt, vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành đã
trọng dụng và phong th-ởng cho những nhà s- có công giúp vua lo việc triều
chính.
Phật giáo đặc biệt phát triển ở thời Lý và thời Trần. Lúc này, trong
n-ớc, từ vua quan đến thứ dân đều tôn sùng Phật giáo, t- t-ởng của Phật giáo
đ-ợc lấy làm một hệ t- t-ởng xã hội và chính sách ngoại giao. Chùa tháp đ-ợc
xây dựng nhiều, kể cả những vùng biên c-ơng hẻo lánh và nơi c- trú của các
dân tộc thiểu số. Thiền uyển tập anh còn ghi lại vai trò của các thiền s- thời
Lý: Khi vua Thái Tổ lên ngôi, th-ờng mời s- Đa Bảo vào cung hỏi han về đạo,
ân lễ rất hậu. Đến cả việc chính sự trong triều, s- đều đ-ợc tham dự quyết
định Nh-ng từ khoảng giữa thế kỷ XIV, Phật giáo bắt đầu b-ớc vào thời kỳ
suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau: tầng lớp ủng hộ Phật giáo mạnh
mẽ là quí tộc họ Trần mất dần uy lực chính trị và kinh tế bởi chế độ sở hữu
nỗi thống khổ triền miên, những nỗi ngang trái, oan khuất đã khiến con ng-ời
tìm đến vỡi t tờng, tình cm cùa đo Phật. Theo Nguyễn Lang thì, trong
đau khổ cùng cực, ng-ời ta lại quay trở về với đạo Phật - một đạo lấy đức từ bi
lm gỗc v kỳ thuật trị thế chỉ l thử yếu [25, tr.114]. Các chúa Trịnh cũng
nh- các chúa Nguyễn đều không phải là những ng-ời học Phật uyên thâm và
có ý chí tu học nh- các vua Trần, nh-ng đã quy h-ớng về đạo Phật và lấy đó
làm nơi n-ơng tựa tinh thần, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo dựng công đức và
uy thế cho dòng họ Kết quả là khắp các vùng Hải D-ơng, Kinh Bắc, Sơn
Tây , các ngôi chùa cũ đ-ợc trùng tu, mở rộng, chùa mới đ-ợc xây dựng khá
nhiều. Và, khoảng giữa thế kỷ XVII, một số cao tăng từ Trung Hoa đã qua Đại
Việt để hành đạo sau một thời gian dài vắng bóng, cũng là một nguyên nhân
dẫn tới sự phát triển trở lại của Phật giáo ở thế kỷ XVII.
15
Thời kỳ nhà Nguyễn cũng nh- thời kỳ Pháp thuộc, Phật giáo li suy vi,
cho nên những năm m-ơi của thế kỷ XX, khá nhiều nhà s- và nhân sỹ trí thức
có tinh thần dân tộc và mến đạo, đứng ra vận động chấn h-ng Phật giáo, Phật
giáo từ đó mới bắt đầu khởi sắc. Cũng từ đây, một bộ phận Phật giáo đi vào
hoạt động có tổ chức, một số tổ chức Phật giáo và một số cơ sở đào tạo tăng ni
lần l-ợt ra đời.
Sau 1954, đất n-ớc bị chia cắt, tình hình Phật giáo ở hai miền có sự
khác nhau: ở miền Bắc, năm 1958, Hội Phật gio thỗng nhất Việt Nam ra
đời đã quy tụ giới Phật giáo miền Bắc trong một tổ chức duy nhất, vừa hoạt
động tôn giáo vừa hoạt động yêu n-ớc. ở miền Nam, trong những năm 1954 -
1975, một bộ phận nhỏ Phật giáo ở miền Nam bị chi phối bởi những khuynh
h-ớng tiêu cực, song đại đa số tăng ni, Phật tử vẫn đứng về phía dân tộc, tích
cực h-ởng ứng, ủng hộ và tham gia cách mạng. Chính những nỗ lực cũng nh-
đóng góp của đông đảo tăng ni, Phật tử đã duy trì đ-ợc ảnh h-ởng của Phật
giáo với dân tộc.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất n-ớc hoà bình, độc lập, thống nhất đã
ng-ỡng truyền thống Việt Nam lại thờ phụng các vị thần trong đền, miếu và
thờ Mẫu trong phủ; nh-ng trong hầu hết các ngôi chùa (nhất là chùa ở miền
Bắc hiện nay), ngoài t-ợng Phật, Bồ tát còn có nhiều các loại t-ợng khác nh-
t-ợng Thần, t-ợng Thánh, t-ợng Mẫu Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất
cho rằng: ở thời kỳ ch-a có sự ảnh h-ởng của Phật giáo, những vị thần phổ
biến nhất trong đời sống tâm linh của ng-ời Việt cổ chính là 4 hiện t-ợng của
tự nhiên, đó là: mây, m-a, sấm và chớp (thần Mây, thần M-a, thần Sấm và
thần Chớp). Các vị thần này th-ờng đ-ợc thờ trong những ngôi đền. Khi Phật
giáo du nhập vào đất Việt và cùng với ảnh h-ởng của chữ Hán, 4 vị thần này
đ-ợc Phật hoá và đ-ợc thờ trong chùa. Trong thần tích về Tứ pháp, ta thấy hết
sức rõ nét sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ng-ỡng truyền thống. Hũn ỏ cu
ma cú dỏng hỡnh mt sinh thc khớ nam t khi thy n nay vn cũn
17
trong chựa Dõu vi danh hiu c Thch Quang (Pht). Cỏc ph tớnh thiờng
liờng ca thn tr thnh cỏc Pht: Phỏp Võn, Phỏp V, Phỏp Lụi, Phỏp in.
V tt c dự cú uy v n õu cng phi chu tụn xng Man Nng l t, dự
rng th B nay ch cũn l chựa lng. Hn na, t Buddha c phiờn õm
Hỏn Vit l Pht , gi tt l Pht thay th dn t Bt. T Bt ch cũn
trong tớn ngng dõn gian. Trong ú Tri Pht Thn gn lin v hũa ng
lm mt. Ngi Vit thng cú cõu cu tri khn Pht hoc ly tri, ly
Pht nhng khi gp khú khn, bt trc. c Pht trong Pht giỏo dõn gian ó
mang nột c trng ca mt v thn quyn nng. ú l hỡnh nh ụng Bt trong
nhng cõu chuyn c tớch thng xut hin lỳc con ngi au kh giỳp h.
Còn trong nghệ thuật điêu khắc, các pho t-ợng Tứ pháp đều đ-ợc điêu khắc
theo tiêu chuẩn của mt pho t-ợng Phật, nghĩa là đủ 32 hảo t-ớng, ngồi trên
toà sen, đầu đội mũ tỳ l- hay thất Phật
Ngoài ra, các vị anh hùng dân tộc cũng đ-ợc đ-a vào thờ trong chùa.
Thậm chí, đa số các chùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã
khuất. Điều này cho thấy sự hoà hợp một cách rất tự nhiên giữa Phật giáo và
Trúc Lâm Đại Đầu Đà (vua Trần Nhân Tông) đặt ở tháp Hụê Quang - Yên Tử,
với nếp áo mang đậm phong cách của phái Tiểu Thừa.
Nh- vậy, trong một ngôi chùa Việt, ta có thể thấy rõ sự kết hợp của
nhiều tông phái, hệ phái Phật giáo trong việc thờ phụng cũng nh- thực hiện
các nghi lễ.
- Sự dung hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác.
Việt Nam l mốt trong nhừng quỗc gia cõ đặc điểm tam gio đọng
nguyên (c 3 tôn gio cõ cợng 1 gỗc) v Tam gio đọng quy (c 3 tôn gio
có cùng 1 mục đích): đó là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Ba tôn giáo này
trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con ng-ời,
Phật giáo lo tâm linh, kiếp sau của con ng-ời. Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh
Tam gio tồ s vỡi Thích Ca Mâu Ni ờ giừa, Lo Tụ ờ bên tri, Khồng Tụ ờ
19
bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi ng-ời Việt. Đặc điểm này đ-ợc biểu hiện
ngay trong tiểu sử của nhiều vị thiền s- nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt
Nam nh- thiền s- Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, D-ơng Không Lộ,
Nguyễn Bình An ở đó, ta thấy có sự kết hợp không chỉ giữa Phật giáo với
tín ng-ỡng dân gian mà còn cả giữa Phật giáo với Đạo giáo trong từng chi tiết
liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của những thiền s- này. Sự kết hợp ấy
nhuần nhuyễn đến mức, chúng ta khó có thể nhận ra, đâu là ảnh h-ởng của
Phật giáo (Mật tông), đâu là Đạo giáo hay tín ng-ỡng bản địa. Cũng t-ơng tự
nh- vậy, trong các ngôi chùa hiện nay th-ờng có bộ t-ợng Ngọc Hoàng - Nam
Tào - Bắc Đẩu đặt tại chính điện. Các tín đồ Phật tử cũng quen thuộc tới mức
d-ờng nh- mặc định, đó là t-ợng của Phật giáo, mà ít ng-ời biết rằng, đó vốn
l nhừng nhân vật trong thần điện cùa Đo gio. V, c nhừng dịp lễ cầu an,
gii sao m cc chùa thực hiện vào những dịp đầu năm lại cũng cơ bản là bởi
nh hờng cùa Đo gio vỡi bố cụu diệu tinh quân v cc vị thần khc.
- Phật giáo Việt Nam có sự kết hợp giữa đạo và đời.
Có thể thấy rằng mặc dù là một tôn giáo xuất thế nh-ng vào Việt Nam
nờn i tng th cỳng cú phn thiờn v n tớnh. Mt nhân vật đã trở nên hết
sức quen thuộc với ng-ời Việt Nam là Phật Bà Quan Âm/Quan Âm Bồ tát.
Nh-ng khi đến Việt Nam, hình dáng duy nhất của Ngài là t-ớng nữ, dù đ-ợc
tạc ở nhiều t- thế, cách thức khác nhau. Ta có thể tìm đ-ợc nhiều cách thức
biểu hiện của Ngài nh-: Quan Âm chuẩn đề, Quan Âm toạ sơn, Quan Âm
Nam Hải, Quan Âm Thị Kính v tất cả đều ở dạng nữ - một ng-ời phụ nữ
với nét mặt hiền hậu mà ta có cảm giác đã gặp đâu đó trong cuộc sống th-ờng
nhật và hết sức gần gũi. Ngoài ra, ng-ời Việt còn có những vị Phật riêng của
mình nh-: Man N-ơng Phật Mẫu, Quan Âm Diệu Thiện/bà chúa Ba và có
lẽ, không có quốc gia nào trên thế giới lại gọi những nhân vật trong thế giới
Phật giáo bằng ngôn từ hết sức bình dân nh-ng cũng rất thân mật: Phật ông -
Phật bà.
21
Thứ ba, tính linh hoạt
Đặc tính ny đớc nh Phật gói l: Tuứ duyên bất biến, bất biến m
vẫn tuứ duyên nghĩa l tuứ thuốc vo tình huỗng cũ thể m ngội ta cõ thể tu,
giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau, nh-ng vẫn không xa rời giáo lý
cơ bản của nhà Phật. Vì thế, ở Việt Nam việc theo đạo Phật có thể ở mọi nơi,
mọi lúc. Phật trong tâm nên ng-ời tu hành có thể không cần lên chùa mà vẫn
là Phật tử (thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa).
Việc Phật giáo kết hợp với các tôn giáo khác và tín ng-ỡng dân gian
cũng là một biểu hiện sinh động tính linh hoạt của Phật giáo. Ngôi chùa th-ờng
là nơi thể hiện sự dung hợp giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và các hình thức
tín ngởng dân gian trong xu thế ho nhi bất đọng. Chính điều ny lm cho
Phật giáo Việt Nam trở thành điển hình của tính khoan dung tôn giáo.
1.1.3. Vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam
Phật giáo là một hệ thống triết học uyên thâm, t- t-ởng rộng lớn, lý
luận phong phú với bao thế hệ tu sĩ hoằng pháp, hành đạo. Vì vậy, nói tới
vai trò của Phật giáo trong xã hội tr-ớc hết là nói tới một nền văn hoá Việt đã