®¹i häc quèc gia Hµ Néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
PHAN THỊ HỘI
(THÍCH ĐÀM MAI)
MỘT SỐ TƯ TƯỞNG TRONG PHONG TRÀO
CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở MIỀN BẮC NƯỚC TA
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2010
®¹i häc quèc gia Hµ Néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
PHAN THỊ HỘI
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ______________________________ 5
4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu _______________________________ 6
5. Ph-ơng pháp nghiên cứu ______________________________________ 6
6. Đóng góp của luận văn _______________________________________ 6
7. Y ngha ca lun vn ________________________________________ 7
8. Kết cấu của luận văn_________________________________________ 7
BC
K NU TH K XX _____________________________________ 8
1.1 Sự ra đời phong trào chấn h-ng Phật giáo ở miền Bắc _______________ 8
1.1.1. Nguyên nhân quốc tế dẫn tới phong trào Chấn h-ng Pht giáo ở miền
Bắc ________________________________________________________ 8
1.1.2. Nguyên nhân chính trị - xã hội và tôn giáo trong n-ớc tác động tới
sự ra đời phong trào Chấn h-ng Pht giáo ở miền Bắc _______________ 11
1.1.3. Nguyên nhân nội tại của phong trào Chấn h-ng Pht giáo ở miền
Bắc _______________________________________________________ 14
1.2 Diễn biến của phong trào chấn h-ng Phật giáo ở miền Bắc __________ 19
1.2.1. Quá trình vận động Chấn h-ng Phật giáo ở miền Bắc ___________ 19
1.2.2. Xu h-ớng vận động Chấn h-ng Phật giáo trên báo chí _________ 22
HAI. MT S KNG TRONG
T MIN BC -
CH S VIT NAM ________ 26
2.1. Một số khuynh h-ớng t- t-ởng trong phong trào chấn h-ng phật giáo ở
miền bắc ___________________________________________________ 26
2.1.1. Chấn h-ng về tổ chức giáo hội ____________________________ 26
phỏt trin ca Pht giỏo Vit Nam _______________________________ 72
2.2.2. ý nghĩa của phong trào Chấn h-ng Pht giáo ở miền Bắc trong lịch
sử t- t-ởng Việt Nam _________________________________________ 79
KT LUN __________________________________________________ 88
U THAM KHO ______________________________________ 94
L
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
nhị đấng song thân và gia đình cũng như đàn na thí chủ. Kính chúc chư
liệt vị pháp thể khinh an, đạo lộ tấn phát, chúng sinh dị độ, Phật đạo viên
thành. Giáo sư - Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng, người thầy khả kính đã tận tụy
giúp đỡ và hướng dẫn cho em hoàn thành luận văn này. Cầu Tam Bảo gia
hộ cho thầy cùng gia đình được vô lượng bình an, vô lượng cát tường cho
hàng hậu học chúng em được nương nhờ.
các điều kiện hiện thực đang biến đổi.
Trước thực tế đó, một sự hiểu biết đầy đủ về thể trạng Phật giáo Việt
Nam hiện nay rất cần thiết cho việc huy động Tăng Ni, Phật tử tham gia công
cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và cho việc hoàn
thiện chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và nhà nước. Nhưng để nắm
bắt được Phật giáo Việt Nam hiện nay thì phải hiểu được những giai đoạn
phát triển trước đây của Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là phải có sự tìm hiểu
sâu sắc về Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến
giai đoạn phát triển hiện nay của Phật giáo Việt Nam. Trong sự phát triển của
Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, phong trào Chấn hưng Phật giáo có một vị trí
và vai trò hết sức quan trọng. Sự xuất hiện và phát triển của phong trào này
mang tính chất như một cuộc”, với sự đổi mới trên nhiều phương diện căn bản
như: đổi mới nghiên cứu“ Cách mạng Phật giáo”, lý giải kinh điển và giáo lý
của Phật giáo, đổi mới nội dung, hình thức và quy mô đào tạo Tăng tài, đổi
mới tổ chức và cơ chế vận hành giáo hội… Tất cả những điều đó đã ảnh
hưởng rất lớn đối với sự phát triển của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XX và
không nghi ngờ gì nữa còn để lại dấu ấn rõ nét trong tình hình Phật giáo Việt
Nam hiện nay.
2
Những thành công và hạn chế của phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu
thế kỷ XX là những bài học quý báu đối với Phật giáo Việt Nam hiện nay
trong việc giải quyết những yêu cầu đã và đang đặt ra cho giáo hội như: Sự
đổi mới về phương thức tu tập và hành trì của các tu sĩ phù hợp với sự phát
triển và biến đổi của xã hội, sự phối hợp giữa hàng tu sĩ xuất gia và hàng cư sĩ
tại gia trong việc hình thành một đội ngũ tăng già cốt cán đủ mạnh để dẫn dắt
Phật giáo Việt Nam.
Tuy nhiên nhiều công trình nghiên cứu về Phật học, lịch sử Phật giáo
Việt Nam, đặc biệt là về lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX được xuất bản
Năm 2003 tác giả Đặng Đình Thái hoàn thành luận văn thạc sĩ Triết
học (Đại học Khoa Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) với đề tài:
“Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX: Một số vấn đề triết học và
ý nghĩa của nó”. Tiếp thu quan điểm và phương pháp tiếp cận của Trần Văn
Giàu và Nguyễn Tài Thư trong các công trình khoa học trước đó, nội dung
chính của luận văn tập trung giới thiệu và phân tích những tư tưởng triết học
Phật giáo được bàn luận sôi nổi trong phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt
Nam.
Năm 2006,tác giả Nguyễn Quốc Tuấn trong đề tài khoa học cấp bộ do
ông làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Đặc điểm và vai trò của Phật giáo Việt Nam
thế kỷ XX”. Với những lập luận của mình tác giả đã chỉ ra mối quan hệ mật
thiết giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo quốc tế trong việc xuất hiện
phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Việc phân kỳ
của tác giả theo tôi thấy rất hợp lý bởi nó dựa vào chính các sự kiện nổi bật
của lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX chứ không hoàn toàn phụ vào các
sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc như nhiều nhà nghiên cứu trước đây. Tuy
4
nhiên những sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc thế kỷ XX vẫn được tác giả
tham chiếu để tránh một cách phân kỳ mang tính phiến diện một chiều.
Một công trình nữa, vào ngày 17 tháng 10 năm 2008, tại viện Nghiên
cứu Tôn giáo đã diễn ra lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp nhà nước của nghiên cứu
sinh Lê Tâm Đắc( phòng Phật giáo) với đề tài: “ Phong trào Chấn hưng Phật
giáo ở Bắc kỳ”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu nguyên nhân
chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo trong nước và quốc tế dẫn đến sự ra đời
của phong trào Chấn hưng Phật giáo giai đoạn trước năm 1934; tìm hiểu
những nội dung cơ bản của phong trào Chấn hưng, bước đầu nêu và phân tích
một số đặc điểm cũng như vai trò của phong trào này trong sự phát triển của
Phật giáo nói riêng và sự nghiệp giải phóng dân tộc nói chung nửa đầu thế kỷ
khảo không được đầy đủ, nên luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót,
ngưỡng mong các nhà khoa học, các quý vị giáo sư, các nhà nghiên cứu Phật
học, các bậc cao minh hoan hỉ lượng thứ và chỉ dạy.
3. Mc ch v nhim v nghin cu
3.1. Luận văn làm rõ nội dung của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở
miền Bắc, nêu vai trò và ý nghĩa của nó trong sự phát triển của Phật giáo Việt
Nam thế kỷ XX và sự nghiệp giải phóng dân tộc nửa đầu thế kỷ XX, từ đó
góp phần nâng cao thêm một bước nhận thức về tình hình Phật giáo ở nước ta
hiện nay.
3.2. Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những nguyên nhân chính trị, văn hoá xã hội, tôn giáo trong
nước và ngoài nước dẫn đến sự ra đời của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở
miền Bắc.
- Tìm hiểu những nội dung cơ bản của phong trào Chấn hưng Phật giáo
ở miền Bắc.
6
- Nêu vai trò và ý nghĩa của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở miền
Bắc với sự phát triển của Phật giáoViệt Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc
nửa đầu thế kỷ XX.
4. i tng v phm vi nghin cu
Phong trào Chấn hưng Phật giáo từ khi ra đời cho đén lúc hết vai trò
lịch sử, chính thức từ năm 1934 đến năm 1954, trong phạm vi các tỉnh thành
Bắc Bộ mà trung tâm của phong trào là Hà Nội.
5. Phng php nghin cu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo, tác giả luận văn đã sử dụng một số phương pháp
liên ngành và chuyên ngành như: sử học, triết học, văn hoá học, cùng các
8
Chương một
PHONG CHN PHT BC K
NA U TH K XX
1.1. S ra i phong tro chn hng Pht gio min Bc
1.1.1. Nguyên nhân quốc tế dẫn tới phong trào Chấn hưng Phật giáo ở
miền Bắc
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX , phong trào Chấn hưng Phật
giáo đã diễn ra ở nhiều nước châu Á . Do vậy , khi tìm hiểu nguyên nhân ra
đời của phong trào này ở từng nước cần phải xem xét nhiều khía cạnh quốc tế
của vấn đề, tức là phải xem xét bối cảnh chung tiêu biểu cho nhiều quốc gia
châu Á .
Nhìn một cách khái quát, cho đến nửa sau thế kỷ XIX, đa số các quốc
gia ở Châu Á rơi vào hoàn cảnh bị chủ nghĩa thực dân xâm chiếm, nô dịch,
mất chủ quyền và trở thành các quốc gia nửa thuộc địa phong kiến với những
mức độ khác nhau.
Trước thế kỷ XX, chính trị, văn hoá và tôn giáo (chủ yếu là đạo Công
giáo) Châu Âu ào ạt truyền vào các nước Châu Á. Trong bối cảnh đó, tương
tự như nhiều tôn giáo bản địa châu Á khác, Phật giáo đứng trước một tình
trạng phức hợp, cả những cơ hội thuận lợi và những yêu cầu phải đối diện nếu
xã hội của Hoà thượng Thái Hư (Trung Quốc). Nội dung bài giảng pháp này
cho thấy Thái Hư đã nghiên cứu kĩ sự phát sinh và phát triển của chủ nghĩa xã
hội từ không tưởng đến khoa học. Trong nghiên cứu của mình, nhà sư này
cũng đã phân biệt rõ sự khác biệt giữa những người xã hội dân chủ và những
người cộng sản.
10
Như vậy từ SriLanka, Ấn Độ, Trung Quốc, với sự hoạt động tích cực
của các nhân vật Phật giáo xuất chúng nêu trên, ngọn gió Chấn hưng Phật
giáo, bằng nhiều con đường và nhiều yêu cầu, đã thổi sang các nước ở Châu
Á khác như: Nhật Bản, Myanmar, Việt Nam” Phong trào Chấn hưng Phật
giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và trực tiếp nhất từ phong
trào Chấn hưng đạo Phật ở Trung Quốc, đặc biệt là những tư tưởng cải cách
Phật giáo của Hoà thượng Thái Hư.“ Thiền sư Thái Hư và Phật giáo Trung
Quốc là nguồn lực kích thích chủ yếu cho phong trào Chấn hưng Phật giáo ở
Việt Nam, những tư tưởng Phật giáo nhân gian của Thái Hư cũng thấm sâu
đời sống tri thức và Phật pháp của Phật tử Hà Nội”.[35, tr.113].
Ở Việt Nam có Thiền Sư Thích Trí Hải là người có công đầu trong
việc vận động thành lập Hội Bắc Kỳ Phật giáo. Tư tưởng Chấn hưng Phật
giáo xuất hiện trong suy nghĩ của Thiền sư vào năm 1924, khi Ông mới 24
tuổi. Nhà sư trẻ này nhận ra một thực tế của Phật giáo Việt Nam đương thời
rằng: Ngoại trừ rất ít các vị cao Tăng trí thức, phần nhiều Tăng Ni thất học,
không biết Hán văn nên không hiểu kinh sách Phật giáo đọc tụng hằng ngày.
Bên cạnh đó hầu hết các chùa đã bị biến tướng không còn thuần túy Phật giáo.
Cho nên từ nơi thờ tự cho đến nghi thức lễ bái không đâu giống đâu. Các chùa
không những thờ Phật, Bồ Tát mà còn thờ cả hổ, rắn, chó đá, bình vôi… trong
nhà thờ không hết thì đem ra cả ngoài sân, gốc cây. Do đó một hệ quả tất yếu
là Phật giáo ngày càng đi vào con đường suy thoái và mê tín.
Trước thực trạng đó Thiền sư Trí Hải đã cùng các cộng sự trên cơ sở
thế kỉ XVIII như Rousseau, S. Montesquieu, F. Voltaire truyền vào Việt Nam
làm sáng tỏ thêm nhận thức ấy. Thêm vào đó, sự kiện nhờ sức mạnh của Duy
Tân mà Nhật Bản đã đánh bại Đế quốc Nga làm cho niềm tin kia thêm mãnh
liệt. Phong trào Duy Tân ở Việt Nam phát sinh từ những nguyên do đó. Mục
12
đích của phong trào này là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất,
giàu mạnh (theo chế độ quân chủ lập hiến - quan điểm của Phan Bội Châu,
theo lý tưởng dân chủ nhưng không rõ hình thức chế độ - quan điểm của Phan
Chu Trinh). Hình thức hoạt động của phong trào Duy Tân ở Việt Nam diễn ra
khá toàn diện, vừa công khai, vừa bí mật, rộng khắp 3 miền đất nước.
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà nho sĩ đánh giá cao vai trò của tôn giáo
đối với sự phát triển của xã hội, sự tự cường của một dân tộc. Trong các tôn
giáo truyền thống của Việt Nam, Phật giáo được đánh giá cao nhất. Cho nên,
việc Chấn hưng Phật giáo được các nhà cách mạng ủng hộ. Theo họ, cùng với
những nỗ lực cải cách văn hoá, xiển dương quốc học Chấn hưng Phật giáo
cũng là một hình thức đấu tranh ôn hoà trong khuôn khổ “thỏa hiệp” với phe
thống trị. Mục tiêu của các hoạt động này về hình thức là khai hoá dân trí, giữ
gìn bản sắc dân tộc, nhưng thực chất là những hoạt động âm thầm tìm cách
đòi lại chủ quyền và thoát khỏi nô dịch thực dân .
Trong suy nghĩ của một số nhà cách mạng của phong trào Duy Tân,
Phật giáo hưng thịnh thì đất nước cũng sẽ hưng thịnh. Phan Chu Trinh trong
một lần diễn thuyết từng nói :
“Nước Đại Nam chúng ta ngày nay sở dĩ yếu hèn là vì thiếu tinh thần
tôn giáo. Tôn giáo luyện cho ta đức hi sinh, coi nhẹ tính mạng, phá sản vì đạo.
Không có tinh thần tôn giáo chúng ta không biết cương thường, xả thân vì
nghĩa, chỉ bo bo giữ cái lối riêng của mình. Nay bà con thử xét, đời Trần sao
dân tộc ta hưng thịnh như vậy! Quân Nguyên thắng cả Á cả Âu, nuốt trọn
Trung Hoa mà qua đến nước ta thì lại bại tẩu; nào bị cướp giáo ở Chương
Đông Dương Anbert Sarraut ban hành Sắc lệnh Điều lệ chung của Bộ Quốc
Dân Giáo năm 1919, ở Trung Kỳ, với sự chấp thuận của toàn quyền Anbert
Sarraut, Triều đình Huế đã ban Chiếu chỉ Hoàng gia sáp nhập nền giáo dục
14
truyền thống vào nền giáo dục Pháp quốc - bản xứ, là những dấu hiệu rõ nét
sự suy thoái trầm trọng của Nho giáo. Đây có lẽ là một trong những điều kiện
thuận lợi, cả về khách quan lẫn chủ quan, để Phật giáo trỗi dậy như ưu tiên và
lựa chọn hợp lý để duy trì truyền thống văn hoá dân tộc trước nguy cơ bị văn
hoá thực dân làm cho suy yếu và tiến hành công cuộc chấn hưng.
Mặt khác, thúc đẩy mạnh mẽ sự xuất hiện phong trào Chấn hưng Phật
giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX còn bởi sự ra đời của nhiều hiện tượng tôn
giáo mới, mà tiêu biểu là đạo Cao Đài. Năm 1925, Cao Đài chính thức khai
đạo ở chùa Gò Kén (Tây Ninh). Sau đó, hiện tượng tôn giáo này đã nhanh
chóng lan ra một số địa phương khác trong cả nước. Ngay sau khi ra đời,
những hoạt động rầm rộ của đạo Cao Đài thu hút được đông đảo nhân dân
vùng Nam Bộ, trong đó nhiều người trước đó từng là tín đồ Phật giáo. Không
những thế, đạo Cao Đài còn lớn tiếng tuyên bố: Các tôn giáo lớn mang tính
truyền thống của Việt Nam như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đương thời đều
đã đến thời kì mạt pháp. Do vậy, đạo Cao Đài được lập ra để cứu đời. Trước
tình hình đó, các nhà sư và nhà Phật học đều có phản ứng mạnh mẽ. Tuy
nhiên, muốn đương đầu với đạo Cao Đài, thì Phật giáo cần phải được chỉnh
đốn, cần phải được chấn hưng, đặc biệt là việc loại bỏ những tệ lậu nơi cửa
Phật.
1.1.3. Nguyên nhân nội tại của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở miền
Bắc
Về bản chất, Phật giáo là tôn giáo không có chủ trương có một Đại Ngã
(Thượng Đế toàn năng) và Tiểu Ngã (Linh hồn bất tử), không chủ trương một
niềm tin giáo điều và nghi thức xa hoa. Giáo pháp của Đức Phật Thích Ca
chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp tán cho già, nay lãnh
đám này, mai lãnh đám khác, cũng tràng hạt, cũng cà sa, thử lật mặt trái của
họ mà xem thì có khác nào người trần tục trong Phật giáo, họ tưởng học thế là
16
đủ rồi, nói bậy, nói càn quên mất giá trị, hoặc có người hỏi đến Phật pháp là
gì, ôi, tuyệt nhiên không biết. Thật là một điều tai hại rất lớn trong Phật giáo
vậy. Ta thử nghĩ một nước mà không có tổ chức thì nước ấy không có trật tự,
trật tự đã không thì khó bề trị an được. Tôn giáo cũng vậy, nếu không có đoàn
thể tổ chức, ở sự tín ngưỡng đã bị sự truyền bá thôi còn giá trị thì còn mong gì
đến sự phổ cập cho nhân quần xã hội. Nhất là về phái Tăng già lại càng khó
bề đoàn kết liên hợp nhau hơn nữa, cứ hay chia thành đảng phái không chịu
hợp nhất thành một đoàn thể có hệ thống để tổ chức việc hoằng pháp lợi sinh,
thật không trách gì Phật giáo nước ta suy đồi cũng phải Phật giáo nước ta
hiện thời chỉ còn cái xác mà không có hồn, suy đồi quá tệ” [45].
Cùng quan điểm với ý kiến trên, Dương Bá Trạc đã có sự phân tích kỹ
lưỡng và cụ thể những tệ lậu của tăng già miền Bắc. Theo ông:“Ngôi nhà tăng
giới” từng được dựng lên, nguy nga đồ sộ ở cái đất sông Lô, núi Tản, hiện
đang trong tình trạng “tường xiêu, nóc dột, cột mục, kèo long” nguyên nhân
hiện tượng này chủ yếu do sự chia rẽ của các sơn môn, sự xuống cấp của
Tăng già, sự dốt, hư và mục ruỗng của Tăng đồ ở miền Bắc.
“Than ôi, nói thì không nỡ, mà không nói thì không đành cái ngọn lửa
Phật pháp phập phù le lói, cho tới ngày nay, chỉ còn cái xác sơn môn mà cái
hồn sơn môn như mất hẳn, chỉ còn cái tiếng Tăng mà cái thực Tăng hầu như
không có. Mỗi một sơn môn chia lìa sẻ rẽ thành năm bảy chục sơn môn khác.
Mà trong một sơn môn ngoài sự lễ bái quan hệ, đi lại thù ứng với nhau cũng
chẳng có kỷ luật chung gì phải giữ, chẳng có lãnh tụ chung nào phải phục
tùng, cứ ai ở chùa nào biết chùa nấy, thân ai nấy no, việc ai nấy làm, quy luật
Thiền gia, ai tuân thủ hay là không tuân thủ chẳng có ai đốc thúc ai kiểm xét,
“Phật giáo ở miền Bắc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX suy thoái vì
nhiều vị trụ trì nhận chúng xuất gia một cách ồ ạt, thiếu cân nhắc và thiếu
nhiều phương diện. Đồ chúng được nhận chủ yếu để lao động kiếm sống,