Ảnh hưởng của dân ca dân tộc Mông trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN TỊNH THỦY
ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN CA DÂN TỘC MÔNG
TRONG TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC DÂN GIAN
Hà Nội -2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


4. Phƣơng pháp nghiên cứu: 4
5. Cấu trúc luận văn: 5
NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1: TRUYỆN THƠ VÀ CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN
CA DÂN TỘC MÔNG VÀ TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU 6
1.1. Khái niệm truyện thơ và sự hình thành truyện thơ trong văn học
dân gian 6
1.1.1. Khái niệm truyện thơ 6
1.1.2. Các nhóm truyện thơ tiêu biểu 7
1.1.3. Sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian Việt Nam 9
1.2. Cơ sở của mối quan hệ giữa dân ca dân tộc Mông và truyện thơ
Tiếng hát làm dâu 12
1.2.1. Cơ sở lịch sử - xã hội 13
1.2.2. Cơ sở nội tại văn học 17
Tiểu kết 25
CHƢƠNG 2: SỰ TIẾP NHẬN NỘI DUNG THẨM MĨ DÂN CA DÂN TỘC
MÔNG TRONG TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU 27
2.1. Đề tài, chủ đề, giá trị nội dung và ý nghĩa tƣ tƣởng 28
2.1.1. Đề tài và chủ đề 28
2.1.2. Giá trị nội dung và ý nghĩa tư tưởng 39
2.2. Phong tục, tập quán và không gian sinh hoạt văn hóa miền núi . 41
2.2.1. Những luật tục, hủ tục lạc hậu, hà khắc trong nghi thức hôn nhân –
cƣới hỏi 41

2.2.2. Không gian sinh hoạt văn hóa miền núi 54
2.3. Quan niệm về số phận và tâm lí đặc trƣng của con ngƣời trong xã
hội Mông 57
2.4. Tâm trạng nhân vật trữ tình: 60
Tiểu kết 70
CHƢƠNG 3: SỰ CHUYỂN HÓA CÁC YẾU TỐ THI PHÁP DÂN CA DÂN

Danh mục các bảng biểu
STT
Tên bảng
Nội dung khảo sát
1
2.1
Đề tài ba truyện thơ Tiếng hát làm dâu, A Thào – Nù Câu,
Nhàng Dợ - Chà Tăng
2
2.2
Số lượng câu thơ tiếp nhận nội dung thẩm mĩ từ bốn loại dân
ca dân tộc Mông trong ba truyện thơ Tiếng hát làm dâu, A
Thào – Nù Câu, Nhàng Dợ - Chà Tăng
3
2.3
Các cung bậc tâm trạng nhân vật trữ tình
4
2.4
Tần suất xuất hiện hình ảnh nước mắt
5
2.5
Tần suất xuất hiện các từ ngữ trực tiếp bộc lộ tâm trạng nhân
vật trữ tình
6
3.1
Hình ảnh, từ ngữ biểu trưng cho cái chết
7
3.2
Âm hưởng kết thúc tác phẩm
8

mang tính chất giai đoạn nữa mà ngay trong sự nội tại phát triển của từng thể loại
cũng dẫn dắt người tiếp nhận đến với thế giới của sự sáng tạo tập thể. Không chỉ
đến với văn học viết ta mới thấy có sự ảnh hưởng của nhóm văn học dân gian trong
phong cách sáng tạo nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà văn, mà quan trọng
hơn, ngay chính bản thân văn học dân gian cũng là một quá trình kế thừa và phát
triển, là một quá trình ảnh hưởng, giao thoa giữa các thể loại văn học.
Như vậy có thể khẳng định một điều văn học dân gian có sức ảnh hưởng
mạnh mẽ đến dòng văn học Việt Nam. Từ giai đoạn văn học trong xã hội cổ đại đến
văn học trong xã hội Nho giáo và hiện đại. Từ văn học của người Việt đến văn học
của các dân tộc thiểu số ít người. Điều đó cho thấy sự ảnh hưởng và sức lan toả
mạnh mẽ của văn học dân gian trong hiện thực sinh hoạt tinh thần của con người.

2
Nhận thấy vai trò quan trọng của văn học dân gian đối với văn chương – đặc biệt là
sự ảnh hưởng của truyền thống thơ ca trữ tình dân gian đến các thể loại văn học- đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này. Tuy nhiên cũng mới chỉ
dừng lại trong tiến trình tìm hiểu và nghiên cứu đậm đặc đối với nền văn học của
người Việt. Nền văn học của các dân tộc thiểu số khác với sự ảnh hưởng của văn
học dân gian, của dân ca trữ tình vẫn còn là một khoảng trống dường như là vô tận.
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dân tộc thiểu số Mông cũng là một
trong những tộc người có nền văn học khá phát triển. Và có thể nói sự ảnh hưởng
của folklore đến nền văn học của đồng bào là rất lớn. Bởi người Mông cũng như
nhiều dân tộc thiểu số khác, họ không có giai đoạn văn học trung đại đóng vai trò
trung gian như người Việt. Vì thế nên văn học dân gian của tộc người này có những
nét biến thiên rất đặc biệt, nó vận động từ nội tại của chính ngã và thai nghén nên
nhiều thể loại văn học dân gian mới, làm giàu và phong phú cho kho tàng folklore
dân tộc mình.
Truyện thơ Tiếng hát làm dâu là một tuyệt tác văn học dân gian của người
Mông. Truyện thơ này là tiếng lòng của người dân với những cung bậc cảm xúc và
tâm trạng hướng đến nội dung phản ánh, hình thức phản ánh trong mối quan hệ giao

như nhiều tác phẩm truyện thơ hoặc các thể loại văn học dân gian khác của người
Mông. Chỉ duy nhất có một bài viết của tác giả Phan Nhật có đưa ra những vấn đề
khái quát trong nhận định của tác giả về sự hình thành của truyện thơ Tiếng hát làm
dâu từ dân ca Tiếng hát làm dâu và dân ca Tiếng hát tình yêu.
Bài viết này có tên là Tìm hiểu quá trình hình thành của truyện thơ Tiếng hát làm
dâu, lần đầu tiên công bố năm 1972 trong tạp chí văn học số 3. Trong bài viết với
dung lượng 11 trang, từ trang 62 đến trang 73, tác giả Phan Nhật đã đưa ra những
nhận định của mình về sự hình thành truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Ông kết luận
rằng: quá trình hình thành truyện thơ Tiếng hát làm dâu là một quá trình “tiếp thu
dân ca Tiếng hát làm dâu, là một sự tiếp thu có lựa chọn, nâng cao, hệ thống hóa,
một quá trình chuyển hóa từ khái quát đến cụ thể, từ phiếm chỉ đến cá thể hóa, từ
rời rạc đến hệ thống. Đó là quá trình từ trữ tình đến tự sự, hay nói đúng hơn là quá
trình tự sự hóa dân ca trữ tình.” [18, tr. 67 - 68].
Tác giả Phan Nhật cũng tổng kết lại 6 kiểu kết cấu cơ bản của nội dung dân ca
Tiếng hát làm dâu cùng khái lược kết cấu của truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Ông
cho rằng các yếu tố tự sự đã có ngay từ kiểu 3,4,5,6 trong dân ca Tiếng hát làm dâu.
Bên cạnh đó các tình tiết của truyện thơ thường giống trong dân ca, cả dân ca Tiếng

4
hát tình yêu và dân ca Tiếng hát làm dâu, tuy nhiên được tác giả dân gian kể lại chi
tiết và cụ thể hơn rất nhiều. Tác giả Phan Nhật cũng khẳng định sự kế thừa các yếu
tố nội dung và thi pháp từ dân ca trong quá trình hình thành truyện thơ Tiếng hát
làm dâu là một quá trình tất yếu dựa trên nền tảng nội sinh của chính nền văn học.
Tuy nhiên phần này Phan Nhật mới chỉ dừng lại ở những nhận định mang tính chất
khái quát mà chưa đi sâu vào cụ thể, phân tích và khảo sát toàn diện. Trong bài viết,
tác giả Phan Nhật cũng có đề cập đến phương thức sáng tác và lưu truyền cũng như
một vài nhận xét đánh giá của ông với truyện thơ Tiếng hát làm dâu. Những nhận
xét đó là những trăn trở của ông về mảng nghiên cứu, tìm hiểu truyện thơ Tiếng hát
làm dâu nói riêng và toàn bộ văn học dân gian Mông nói chung còn là một khoảng
trống, còn nhiều câu hỏi cần được giải đáp trong những công trình nghiên cứu tiếp

tương đồng và so sánh dị biệt. So sánh những nét tương đồng của yếu tố văn hoá
dân gian có trong thực tế và trong tác phẩm, so sánh dị biệt của những yếu tố đó
được thể hiện trong truyện thơ Tiếng hát làm dâu như thế nào và nó có dụng ý nghệ
thuật gì, có tác dụng gì trong bước chuyển biến của nội tại tác phẩm.
5. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được triển khai theo ba
chương:
Chương 1: Truyện thơ và cơ sở của mối quan hệ giữa dân ca dân tộc Mông và
truyện thơ Tiếng hát làm dâu.
Chương 2: Sự tiếp nhận nội dung thẩm mĩ dân ca dân tộc Mông trong truyện
thơ Tiếng hát làm dâu.
Chương 3: Sự chuyển hóa các yếu tố thi pháp dân ca dân tộc Mông trong
truyện thơ Tiếng hát làm dâu.
Cuối cùng là phần tài liệu tham khảo và phụ lục.

6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TRUYỆN THƠ VÀ CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CA
DÂN TỘC MÔNG VÀ TRUYỆN THƠ TIẾNG HÁT LÀM DÂU

1.1. Khái niệm truyện thơ và sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian
1.1.1. Khái niệm truyện thơ
Văn học dân gian là một loại hình văn học có thể được coi là thủy tổ của các
nền văn học trên tất cả các quốc gia trên thế giới. Văn học dân gian với những đặc
trưng của nó như tính tập thể, tính truyền miệng, tính thống nhất hữu cơ của các
thành phần ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau, cùng với sự tồn tại về hình thức sinh
hoạt nghệ thuật gắn liền với cuộc sống lao động của nhân dân… đã đi sâu vào thế
giới tinh thần của đông đảo cộng đồng. Văn học dân gian Việt Nam cũng vậy. Ra
đời từ khi xã hội còn sơ khai, ngay từ khi có sự xuất hiện của con người trong xã

thủy.
1.1.2. Các nhóm truyện thơ tiêu biểu
Truyện thơ là một loại hình văn học dân gian ra đời sau các loại hình văn học
khác, như đã nói ở trên, loại hình văn học này ra đời khi xã hội đã có sự phân chia
giai cấp, tầng lớp rõ rệt, thậm chí có thể ra đời khi sự mâu thuẫn của các giai cấp xã
hội không được giải quyết. Tất nhiên, đã là một loại hình văn học dân gian, thì tự
thân truyện thơ đã bao chứa trong nó nhiều mảng đề tài khác nhau, nhiều hình thức
diễn xướng khác nhau, nhiều nét văn hóa của các vùng miền khác nhau. Vì thế, việc
phân loại truyện thơ cũng dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau tạo nên các nhóm
truyện thơ tiêu biểu.
1.1.2.1. Phân loại truyện thơ dựa trên tiêu chí không gian địa lí và không gian văn
hóa cộng đồng
Với tiêu chí phân loại truyện thơ là dựa vào không gian địa lí và không gian
văn hóa cộng đồng, các tác giả nghiên cứu văn học dân gian cho rằng, truyện thơ là
thể loại văn học được ưa chuộng của các đồng bào dân tộc thiểu số. Xét về quá trình
nghiên cứu truyện thơ, có thể thấy rằng các dân tộc thiểu số là tác giả của những tập
truyện thơ đồ sộ, có nhiều ảnh hưởng trong nền văn học Việt Nam. Đại gia đình các
dân tộc Việt Nam theo các tài liệu chính thống có khoảng 54 dân tộc anh em, còn
theo các tài liệu nghiên cứu hiện nay có khoảng hơn 60 dân tộc anh em, như vậy

8
khối lượng truyện thơ dân gian chưa được khai thác, tìm hiểu còn rất nhiều. Bên
cạnh một vài dân tộc đã có công bố về truyện thơ thì hầu hết còn lại là một ẩn số,
đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần đào sâu tìm tòi hơn nữa. Đối với dân tộc Việt- dân
tộc chiếm đa số cán cân dân số nước ta- hiện nay chỉ tìm thấy truyện thơ Nôm có
tác giả, xuất hiện trong khoảng thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, chứ chưa tìm thấy một
tác phẩm truyện thơ dân gian hoàn chỉnh nào. Vì những điểm hạn chế như vậy, cho
nên nếu phân chia truyện thơ theo tiêu chí này, chúng ta chỉ có thể có những kết quả
tương đối với những dân tộc đã công bố những tác phẩm truyện thơ dân gian được
tìm thấy. Trong tác phẩm nghiên cứu Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu

tiêu biểu:
- Truyện thơ về tình yêu.
- Truyện thơ về người nghèo khổ.
- Truyện thơ về chính nghĩa.
1.1.3. Sự hình thành truyện thơ trong văn học dân gian Việt Nam
1.1.3.1. Sự hình thành thể loại truyện thơ dựa trên nguồn gốc nội sinh trong quá
trình phát triển văn hóa tộc người [34]
Trở lại với định nghĩa truyện thơ, chúng ta thấy rằng truyện thơ là một thể loại
tự sự dân gian bằng thơ, truyện thơ rất giàu chất trữ tình, tác dụng của nó là dùng để
phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và công bằng
xã hội bị tước đoạt. Như vậy, về bản chất truyện thơ là một loại hình văn học dân
gian, đặc trưng cốt yếu nhất của truyện thơ là yếu tố tự sự. Về điểm này, truyện thơ
có sự kế thừa yếu tố tự sự trong các loại hình văn học dân gian khác như: thần thoại,
sử thi, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cười… Tuy nhiên yếu tố tự sự trong
truyện thơ lại được kể ở một hình thức đặc biệt, kể bằng thơ chứ không phải văn
xuôi. Điều đó cho thấy truyện thơ đã kế thừa yếu tố trữ tình trong các thể loại ca
dao, dân ca, hò, vè, tục ngữ, câu đố đặc biệt là trong ca dao, dân ca và lựa chọn nó
trở thành hình thức nghệ thuật biểu hiện mục tiêu nghệ thuật.
Đó là xét về mặt nghệ thuật biểu hiện, còn nếu xét về mặt giá trị nội dung,
chúng ta thấy rằng truyện thơ có mục đích phản ánh số phận và khát vọng của con
người khi hạnh phúc lứa đôi và công bằng xã hội bị tước đoạt. Điều đó chứng tỏ,
truyện thơ ra đời khi con người không còn sinh hoạt dưới hình thái ý thức xã hội
của mô hình công xã nguyên thủy. Con người không còn dùng văn học dân gian
như một hình thức nghệ thuật để lí giải những hiện tượng tâm linh hay những hiện
tượng thiên nhiên thường gặp trong thần thoại, truyền thuyết. Con người cũng

10
không dừng lại việc thể hiện ước mơ của mình về một cuộc sống tốt đẹp hơn trong
những kết thúc có hậu của truyện cổ tích, những hình tượng anh hùng ca của sử thi
hay trong những câu chuyện ngụ ngôn ngắn gọn, bao hàm nhiều ý nghĩa. Con người

giải quyết dựa trên những thể loại văn học cũ, cần hướng tới một thể loại mới nhằm
đáp ứng được những mâu thuẫn trong đời sống tâm lí. 1.1.3.2. Sự hình thành thể loại truyện thơ dựa trên nguồn gốc ngoại sinh trong quá
trình tiếp biến văn hóa tộc người [34]
Nếu xét đến quá trình hình thành truyện thơ dựa trên yếu tố ngoại sinh, tức là
do những ảnh hưởng từ các nền văn học, các nền văn hóa khác đến từ các dân tộc
khác, có lẽ phải kể đến sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hai yếu tố Nho giáo và Phật
giáo. Trong Văn học dân gian do Đinh Gia Khánh chủ biên, tác giả Võ Quang Nhơn
đã cho biết những lập luận của mình về vấn đề này. Ông cho rằng: “ Đồng thời còn
có yếu tố khá quan trọng không thể không chú ý tới khi xét đến sự tiến triển của quá
trình văn hóa xã hội ở các dân tộc ít người: đó là sự chi phối, sự ảnh hưởng của môi
trường xã hội – văn hóa ở miền xuôi lên, ngày càng mạnh mẽ, ngày càng thấm sâu
hơn vào đời sống của nhân dân các dân tộc. Ngoài ra sự giao lưu văn hóa với các
dân tộc láng giềng ngày càng được mở rộng và đẩy mạnh hơn, do các biến động của
lịch sử, đặc biệt là việc truyền bá đạo Phật, đạo Bà-la-môn, đạo Hồi và theo đó là
nền văn hóa của các tôn giáo ấy. Những đổi mới về mặt xã hội đó, những tác động
về mặt văn hóa đó tất nhiên dẫn đến sự nảy sinh những nhu cầu mới trong sinh hoạt
tinh thần ở các dân tộc anh em.” [9, tr.782-783].
Hoặc theo ý kiến phân tích về mô thức ảnh hưởng trong quá trình hình thành
truyện thơ dân gian các dân tộc, GS.TS Kiều Thu Hoạch trong bài viết Về truyện
thơ của người Thái ở Vân Nam- Trung Quốc, có ý kiến nhận định – tổng hợp vấn đề
này như sau: “ Hấp thu các yếu tố văn hóa ngoại lai, lấy một tác phẩm cụ thể nào
đó làm khuôn hình, rồi dung hợp, nhào nặn những truyền thống văn hóa của tộc
người Thái và các tộc người khác, và các vùng văn hóa khác trên cơ sở đó sáng tạo
thành một truyện thơ mới. Trong đó, tư tưởng, chủ đề, lý tưởng thẩm mỹ, bối cảnh
văn hóa – lịch sử, nhân vật, tình tiết, kết cấu, thủ pháp biểu hiện đều được sáng tạo
lại để trở thành một truyện thơ hoàn toàn địa phương hóa – Thái hóa.” [8, tr. 905].


ngoài ranh giới của hai nền tảng ngoại sinh và nội sinh đã trình bày ở trên. Tuy
nhiên mức độ ảnh hưởng cụ thể như thế nào thì không hẳn đã là tương đương giữa

13
truyện thơ của các dân tộc. Khác với truyện thơ Tày, Thái, Mường truyện thơ dân
tộc Mông có lẽ chịu sự ảnh hưởng từ nền tảng nội sinh nhiều hơn nền tảng ngoại
sinh. Các tiểu loại văn học dân gian Mông có nhiều ảnh hưởng đến việc hình thành
một thể loại văn học dân gian mới của dân tộc này, đó chính là truyện thơ. Để
chứng minh được lập luận này, chúng tôi quyết định tìm hiểu sự ảnh hưởng của một
tiểu loại folklore, đó là dân ca đến quá trình hình thành của ba truyện thơ có nội
dung được gọi chung là Tiếng hát làm dâu: truyện thơ Vừa-chúa-pua (có tên gọi
khác là Tiếng hát làm dâu, Tiếng hát làm dâu Tây Bắc), truyện thơ A Thào- Nù
Câu, truyện thơ Nhàng Dợ - Chà Tăng. Và cũng để lí giải thấu đáo đến đề tài luận
văn, chúng tôi bắt nguồn từ sự lí giải dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa dân ca dân
tộc Mông và ba truyện thơ này dưới hai luận điểm chính: cơ sở lịch sử - xã hội và
cơ sở nội tại văn học.
1.2.1. Cơ sở lịch sử - xã hội
1.2.1.1. Đặc điểm không gian địa lí định cư
Việt Nam là một quốc gia bao gồm nhiều thành phần dân tộc, chung sống trên
cùng một lãnh thổ, có cùng bản sắc văn hóa và cùng chung vận mệnh lịch sử. Trên
lãnh thổ nước ta hiện nay, có sự quần cư đông đúc do nhiều dân tộc anh em cùng
chung sống. Có nhiều dân tộc là người bản xứ, nhưng cũng có nhiều dân tộc nhập
cư đến nước ta vào những thời điểm khác nhau, những miền đất khác nhau. GS.TS.
Lê Chí Quế trong Việc phân loại các dân tộc ở miền bắc nước ta cho rằng: “ở miền
bắc có trên 30 dân tộc thiểu số, trong đó nổi lên mấy nhóm cơ bản: Nhóm Mường –
Việt, nhóm Tày – Thái và nhóm Mèo – Dao, trong đó hai nhóm Tày – Thái và Mèo
– Dao thiên di đến nước ta từ Trung Quốc, trong đó người Tày có mặt ở Việt Nam
sớm hơn cả, khoảng 2000 năm, người Dao khoảng 1000 năm, và người Mèo –
Nùng chỉ khoảng vài trăm năm” [25, tr.834]. Theo sử sách của nhà Nguyễn trong
Đại Nam Thực lục, đến thế kỉ XIX mới thấy có sự xuất hiện của người Mông ở Việt

người Tam Miêu là Viêm tộc [41, tr.872]. Trong lịch sử Trung Quốc có nhắc đến
mâu thuẫn giữa Viêm tộc và Hán tộc. Hai tộc người này đã diễn ra rất nhiều cuộc
tranh giành quyền lực và bành trướng lãnh thổ, cuối cùng Viêm tộc bị thua và dẫn
đến người Miêu thuộc Viêm tộc phải rút dần xuống phía nam để tránh sự truy sát
của nhà Hán. Nhưng cũng có ý kiến khác của các nhà dân tộc học cho rằng, Miêu
tộc là tộc người hoàn toàn khác với Viêm tộc. Miêu tộc ở Trung Quốc có tên là Xi-
Vưu, đây là một tộc người có tộc trưởng tương đương với ngôi Vương, chỉ dưới
trướng quyền lực của hoàng đế. Miêu tộc được cho là có quyền lực đối với 9 bộ tộc

15
và 81 thị tộc. Dưới sự ảnh hưởng và những thành tựu rực rỡ như vậy của Miêu tộc,
Viêm Đế và Hoàng Đế đã liên kết lại đánh đuổi Miêu tộc, bành trướng thế lực
xuống phía nam. Miêu tộc bị thua, phân chia thành hai nhánh, nhánh người Miêu di
chuyển xuống Vân Nam và Việt Nam. Nhóm người Lý ở lại vùng Hoàng Hà và về
sau sát nhập trở thành công dân của Hán tộc.
Những nhận định trên mới dừng lại ở các giả thuyết của các nhà nghiên cứu sử
học, dân tộc học. Có những nhận định dựa trên cứ liệu lịch sử, cũng có những nhận
định là dựa trên chính các tác phẩm văn học dân gian của người Mông, đặc biệt là
ca dao – dân ca. Tuy nhiên theo truyền thuyết truyền miệng và dựa vào nghi thức an
táng trong bài hát Chỉ đường của người Mông, họ cho rằng lịch sử xa xưa của dân
tộc họ không phải là ở Trung Quốc, mà Trung Quốc chỉ là điểm dừng chân đầu tiên
trong quá trình di cư của họ. Với những truyền thuyết Con gấu ăn mặt trăng, truyền
thuyết, thần thoại hóa được chuyển thể trong bài hát cúng ma Chỉ đường [31, tr.307
-335], người Mông có nhắc đến chuyện họ đã đến từ những vùng đất cực kì lạnh
lẽo, ở đó ban ngày kéo dài sáu tháng và bóng tối kéo dài sáu tháng. Từ nơi này họ
đã đặt chân đến Trung Quốc qua những chuyến đi săn. Vì vậy, trong Chỉ đường,
người Mông quan niệm rằng, người chết phải về với tổ tiên, là nơi đầu tiên họ được
sinh ra, là mảnh đất có trong truyền thuyết. Vì vậy, hầu hết các bài hát cúng ma đều
nhắc đến nơi mà mặt đất vô cùng lạnh lẽo, băng giá, xứ sở đầu tiên của tộc người
này.

dân tộc khác cũng như ngay chính đối với dân tộc mình. Người Mông ở trên núi
cao, tuy điều kiện khí hậu mát mẻ, song lại rất khan hiếm nước, điều đó ít nhiều
cũng ảnh hưởng đến khả năng canh tác lúa nước của họ. Chính vì thế, nguồn thực
phẩm chủ yếu trong bữa ăn của người Mông không phải là lúa gạo mà là mèn mén,
một loại bột ngô xay nhuyễn, nấu chín rất phù hợp với kiểu canh tác trên cạn. Thêm
vào đó, người Mông rất ít khi giao lưu với các dân tộc khác, ngay chính cả người
Mông với nhau. Điều này có thể dựa vào đặc điểm làm nhà và cư trú của họ. Nhà
của người Mông thường được xếp đá chung quanh làm hàng rào che chắn, nhà đất
trình tường, ở cách xa nhau. Hàng rào đá xếp xung quanh một nhà hoặc hai, ba nhà
có quan hệ anh em nội tộc với nhau, làm thành một khu riêng biệt. Không gian sinh
hoạt văn hóa duy nhất của họ, cũng là không gian giao lưu, buôn bán trao đổi hàng
hóa là xuống chợ. Người Mông không giỏi buôn bán do họ phân tán ở vùng núi cao,
họ cũng ít khi xuống chợ bởi do hình thức sản xuất tự cung, tự cấp của họ. Họ chỉ đi
xuống chợ khi nào có nhu cầu trao đổi hàng hóa thiết yếu hoặc nhu cầu trao đổi tâm

17
tình. Vì thế không gian chợ đã trở thành không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng
không thể thiếu của họ. Thanh niên nam nữ muốn giao lưu, tìm hiểu nhau hoặc
những người có vợ có chồng muốn tìm nơi tâm tình với người trong mộng chỉ có
thể xuống chợ tình được tổ chức một năm một lần, hoặc đợi các dịp lễ tết lớn mới
có cơ hội được gặp gỡ, trao đổi về văn hóa, phong tục, tập quán. Mỗi lần xuống
chợ, cả đi cả về có thể mất vài ngày đường, vô cùng xa xôi. Do vậy, đối với họ, chợ
còn là nơi vui chơi, giải trí, nơi giao tiếp học hỏi, nơi tìm bạn trăm năm.
Người Mông có tập tục, nghi thức vô cùng hà khắc đối với phụ nữ trong gia
đình. Ở nhà mẹ đẻ, người con gái thường không được tham gia vào công việc gia
đình, họ cho rằng, con gái chỉ là những bông hoa dại, không thể “cầm thìa để cúng
bái, cầm thìa để cúng lễ”. Vì vậy, trước đây thân phận của họ rất khốn khổ. Ở gia
đình nhà chồng, người con dâu không được phép vào nơi ngủ của bố chồng hoặc
em chồng, cũng không được phép về nhà bố mẹ đẻ khi chưa được sự đồng ý của gia
đình nhà chồng. Ngay cả khi gia đình nhà chồng có quan hệ gần gũi (trong họ) với

dân gian truyền miệng cho đến thời điểm trước khi có chữ viết theo kí tự la-tinh. Họ
không giống như các dân tộc khác có văn học trung cận đại và văn học chuyển giao,
nền văn học dựa trên chữ viết để bảo tồn. Điều này cũng đi kèm yếu tố cá nhân tác
giả trong văn học dân gian Mông. Chúng ta khi tìm hiểu tất cả các câu chuyện cổ,
các bài hát dân ca, các bài hát truyện thơ, hoặc các loại hình diễn xướng dân gian
khác của dân tộc này, chủ yếu chúng ta chỉ tiếp cận với khái niệm người hát, người
kể chứ không tiếp cận được khái niệm người sáng tác. Điều đó cho thấy, cả dân tộc
Mông đã dồn hết tâm sức của họ để xây dựng một nền văn học dân gian có nhiều
thành tựu trên nhiều lĩnh vực. Tất nhiên là cũng như các dân tộc khác, dựa vào đặc
điểm của dân tộc mình, người Mông chọn lựa những loại hình văn học dân gian chủ
lực làm nền tảng. Trong đó dân ca và truyện thơ là hai thể loại đạt được nhiều thành
công rực rỡ nhất.
Nếu xét đến các thể loại văn học dân gian Mông, chúng ta có thể kể đến
truyện cổ Mèo, dân ca và Truyện thơ. Người Mông cũng có thần thoại, có truyền
thuyết, thậm chí có thể có cả các pho sử thi đồ sộ, bởi ẩn chứa đâu đó trong các bài
hát cúng ma, bài hát cưới xin cũng như bài hát tình yêu của họ, ta vẫn thấy thấp
thoáng những hình ảnh nhân vật, những sự kiện minh chứng ít nhiều cho sự tồn tại
của các thể loại này trong đời sống sinh hoạt tinh thần phong phú của người Mông.

19
Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến sự phong phú
của kho tàng văn học Mông trên ba thể loại: truyện cổ, dân ca và truyện thơ.
-Về truyện cổ: Trong cuốn Truyện Cổ dân tộc Mèo do tác giả Lê Trung Vũ
sưu tầm và biên soạn, NXB Văn hóa Hà Nội năm 1975 [40] đã thống kê được 49
câu chuyện cổ và khảo dị của nó. Những câu chuyện cổ này chủ yếu kể về những
nhân vật mồ côi với các quan hệ mâu thuẫn khác nhau, hoặc là kể nhằm mục đích
giải thích một tích truyện nào đó tồn tại trong cộng đồng người Mèo, với những bất
công, ngang trái trong xã hội đương thời.
-Về hệ thống dân ca: Trong cuốn Dân ca Mèo do tác giả Doãn Thanh sưu
tầm, biên dịch xuất bản năm 1967 [31], dân ca của người Mèo bao gồm 6.008 câu

thiểu số khác đều có sự xuất hiện của các yếu tố có trong ca dao, dân ca. Tuy nhiên
mức độ ảnh hưởng không đậm đặc như ở trong truyện thơ Mông. Như vậy, câu hỏi
đặt ra là, phải chăng truyện thơ Mông hình thành trong mối quan hệ tác động qua lại
giữa các thể loại văn học dân gian Mông? Điều đó hoàn toàn có cơ sở. Chẳng hạn
như dân ca Tiếng hát mồ côi và truyện cổ dân tộc Mông. Đây là hai loại hình khác
nhau nhưng đều có ảnh hưởng nhất định tới việc chọn lựa đề tài, chủ đề cũng như
các hình tượng nhân vật của hai loại hình này. Truyện cổ Mèo với 48 tác phẩm và
khảo dị lấy đề tài chủ yếu là nhân vật mồ côi, một kiểu nhân vật có số phận bất hạnh
trong xã hội cũ của người Mèo. Trong quá trình khái lược phạm vi đề tài tác giả Lê
Trung Vũ đã chỉ ra ba kiểu cơ bản: kiểu I là “nói về quan hệ giữa mồ côi và các lực
lượng thống trị”, kiểu II là “trình bày mối quan hệ giữa mồ côi và gia đình bên vợ”,
kiểu III là “anh em mồ côi thương nhau, đùm bọc lẫn nhau” [20, tr.12 -15]. Nếu xét
trong 367 câu ca dao Tiếng hát mồ côi từ bài số 1 đến bài số 15, chúng ta thấy rằng
hầu hết 367 câu dân ca trên đều là những lời oán trách số phận bất công bằng của
nhân vật trữ tình mồ côi. Đó là oán trách thân mình bị đối xử tàn tệ như thân “trâu
măng buộc ách”, như “ngựa thồ không biết nghỉ”. Oán trách xã hội không công
bằng, oán trách tình duyên đôi lứa không trọn vẹn do thân phận mồ côi bị rẻ rúng,
bị khinh bỉ. Như vậy cả hai thể loại này đều lấy đề tài cùng một kiểu và cùng có chủ
đề chung là tố cáo xã hội bất công chà đạp lên thân phận của những con người bất
hạnh, có thân phận nhỏ bé, thấp cổ bé họng. Hoặc ngay trong 1663 câu thơ Tiếng
hát cúng ma và tiêu biểu là bài Chỉ đường, một bài ca mà các Chí xáy hát tiễn đưa
các linh hồn trở về với tổ tiên, chúng ta thấy rằng đây là một bài ca có sự kế thừa
các yếu tố tự sự rõ rệt trong truyện thần thoại của người Mông. Đó là các thần thoại
giải thích sự hình thành trời, đất, vũ trụ cùng với các nhân vật cụ thể như Chể Lù

Trích đoạn Giá trị nội dung và ý nghĩa tư tưởng Quan niệm về số phận và tâm lí đặc trƣng của con ngƣời trong xã Mô – típ nhân vật anh yêu – em yêu Phương thức và hình thức diễn xướng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status