HONG TUYT NHUNG NHÂN VÂ
̣
T THA
́
NH MÂ
̃
U
TRONG VĂN HO
̣
C VA
̀
TRONG TI
́
N NGƢƠ
̃
NG,
LÊ
̃
HÔ
̣
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XA
̃
HÔ
̣
I VA
̀
NHÂN VĂN 1
NG,
LÊ
̃
HÔ
̣
I DÂN GIAN VIÊ
̣
T NAM
Luâ
̣
n văn Tha
̣
c si
̃
chuyên ngành Văn hc Dân gian
M s: 60.22.36 Ngƣời hƣơ
́
ng dâ
̃
n khoa hc: TS. Nguyê
̃
n Thi
̣
Nguyê
̣
t
I VA
̀
NHÂN VĂN 3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
6
1. Lý do chọn đề tài
6
2. Lịch sử vấn đề
7
2.1. Tình hình nghiên cứu Đạo Mẫu ở nƣớc ta
7
2.2. Tình hình nghiên cứu nhân vậ t Thánh M ẫu từ góc độ văn hóa – văn học
10
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
11
3.1. Mục đích nghiên cứu
11
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
11
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
12
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
12
28
1.4.1. Điện thờ Đạo Mẫu
28
4
1.4.2. Truyền thuyết Đạo Mẫu
29
1.4.3. Đạo Mẫu: Nghi thức và lễ hội
32
Tiểu kết chƣơng 1
35
Chƣơng 2: HÌNH TƢỢNG THÁNH MẪU LIỄU HẠNH, THIÊN Y A NA
THÁNH MẪU, LINH SƠN THÁNH MẪU TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
36
2.1. Hình tƣợng Thánh Mẫu trong kiểu truyện Thánh Mẫu
36
2.1.1. Xác lập kiểu truyện dân gian về Thánh Mẫu
36
2.1.2. Hình tượng Thánh Mẫu qua khảo sát kết cấu và nội dung
của kiểu truyện Thánh Mẫu
39
2.2. Hình tƣợng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Linh
Sơn Thánh Mẫu qua khả o sá t cá c motif chí nh xây dƣ̣ ng nên kiể u truyệ n
43
2.2.1. Bảng kê văn bản truyện kể dân gian về Thánh Mẫu Liễu Hạnh,
Thiên Y A Na Thánh Mẫu và Linh Sơn Thánh Mẫu
43
2.2.2. Các motif chnh của kiểu truyện Thánh Mẫu
49
3.2.2. Các lễ hội Thiên Y A Na Thánh Mẫu
88
3.2.2.1. Lễ hộ i Điệ n Hò n Ché n Huế
88
3.2.2.2. Lễ hộ i Thá p Bà Nha Trang
92
3.2.3. Lễ hộ i Linh Sơn Thá nh Mẫ u
94
3.3. Mố i quan hệ giƣ̃ a truyề n thuyế t và tín ngƣỡ ng , lễ hộ i dân gian qua
khảo sát nhân vật Thánh Mẫu
95
Tiểu kết chƣơng 3
100
KẾT LUẬN
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
PHỤ LỤC
108
chung nhất về một loại tín ngƣỡng phổ biến của nhân loại – tôn thờ Nữ thần, vừa
phát hiện và quy luật hóa, bản chất hóa về một tín ngƣỡng thuần Việt – Đạo Mẫu.
Thêm nữa, chúng tôi nhận thấy hình tƣợng Thánh Mẫu quy tụ các giá trị
văn hóa – nghệ thuật đặc sắc, độc đáo và định lƣợng ở một mức độ nào đó thì có
thể thấy là giàu có. Và nhận định sau đây của Giáo sƣ Ngô Đức Thịnh là gợi ý
quý bá u để chúng tôi quyết định chọn làm đề tài này: “Trong các loại hình văn
hóa của con ngƣời có một dạng thức văn hóa khá đặc thù, đó là “văn hóa tôn
giáo” (…) Đối với một số tín ngƣỡng hay tôn giáo sơ khai, chúng ta cũng có thể
dõi thấy những dạng thức văn hóa, những quá trình tích hợp văn hóa – nghệ thuật
nhƣ vậy, trong đó Đạo Mẫu (…) là một thí dụ khá tiêu biểu.” [57; 70]. Xuất phát
từ lý do hình tƣợng Thánh Mẫu là sự tích hợp các giá trị văn hóa – nghệ thuật,
chúng tôi khảo sát nhân vật Thánh Mẫu ở cả ba phƣơng diện: văn học, tín
7
ngƣỡng và lễ hội dân gian. Đây là hƣớng nghiên cứu đồng thuận trong xu hƣớng
đặt văn học dân gian trong tổng thể văn hóa dân gian.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Tình hình nghiên cứu Đạo Mẫu ở nƣớc ta
Chúng tôi nhận thấy tƣ liệu nghiên cƣ́ u về Đạo Mẫu rất phong phú nhƣng
với một đối tƣợng phức tạp, bộn bề là Đạo Mẫu, có rất nhiều cách lý giải, nhìn
nhận khác nhau. Tuy vậy, tựu chung chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu đều
khẳng định Đạo Mẫu là một tín ngƣỡng bản địa, chứa đựng bản sắc của dân tộc
Việt Nam, cần đƣợc bảo tồn và phát huy, đồng thời cũng cần gạt bỏ dần những
yếu tố mê tín, dị đoan và vun đắp tinh thần nhân bản vốn là gốc rễ của Đạo Mẫu.
Các tác giả Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vƣợng, Vũ Ngọc Khánh, Văn Đình Hy,
Ngô Đức Thịnh, Trần Lâm Biền, Đặng Văn Lung, Nguyễn Minh San, Nguyễn
Đức Toàn, Nguyễn Đăng Duy, Sakaya là những nhà nghiên cứu tiêu biểu về
văn hóa dân gian nói chung và Đạo Mẫu nói riêng. Chúng tôi nhậ n thấ y tƣ liệ u
nghiên cƣ́ u về Đạ o Mẫ u gồ m ba nhó m nhƣ sau :
tìm đƣợc lời giải đáp sáng rõ hơn.
Các công trình nghiên cứu tổng thể tín ngƣỡng, văn hóa dân gian cũng dành
những trang đáng kể cho Đạo Mẫu, nhƣ: Tìm về bản sắc văn hóa Việ t Nam [54], Về
tín ngưỡng lễ hội cổ truyền [60]… Trong đó cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
của GS. TSKH Trần Ngọc Thêm phân tích khá sâu và khoa học về tinh thần trọng
Mẫu của văn hóa Việt Nam.
Cũng có những bài nghiên cứu đi vào các Thánh Mẫu cụ thể. Thánh Mẫu
Liễu Hạnh, Thánh Mẫu Thiên Y A Na và Linh Sơn Thánh Mẫu xuất hiện nhiều
lần trong tƣ cách là đối tƣợng chính của các bài nghiên cứu. Nhƣng nhân vật
Thánh Mẫu đƣợ c cá c tá c giả dà nh nhiề u giấy mực thể hiệ n hơn cả là Thánh Mẫu
Liễu Hạnh. Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho biết nhân vật Thánh Mẫu mà
ông trăn trở nhất chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ông đã viết hầu hết các vấn đề
xung quanh tín ngƣỡng Mẫu Liễu nhƣng bản thân nhân vật Liễu Hạnh vẫn là một
thách thức đối với ông. Cũng có khá nhiều nh à nghiên cứu miệt mài giấy mực
cho Mẫu Liễu và những vấn đề xung quanh tín ngƣỡng Mẫu Liễu: Tục thờ Mẫu
Liễu Hạnh – một sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa cộng đồng (Ngô Đức Thịnh)
[56], Theo bước chân của Vân Cát Thần Nữ (Phạm Quỳnh Phƣơng) [42], Mẫu
Liễu – Phủ Giầy trong bối cảnh các trung tâm thờ Mẫu ở nước ta (Nguyễn Minh
9
San) [49], Từ Phật Mẫu Man Nương đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Nguyễn Thị
Huế) [18], Tục thờ Liễu Hạnh trong hệ thống thờ Nữ thần của người Việt (Qua
một số đền chùa ở Hà Nội) (Lê Sỹ Giáo – Phạm Quỳnh Phƣơng) [12], Xung
quanh tín ngưỡng dân dã: Mẫu Liễu và điện thờ (Trần Lâm Biền) [2], Phủ Dầy
một trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam (Vũ Huy Toàn) [66], Tìm hiểu
mối quan hệ tín ngưỡng trong quần thể di tích Phủ Giầy (Phạm Quỳnh Phƣơng)
[41]. Vũ Ngọc Khánh cũng là một trong những nhà nghiên cứu dành nhiều tâm
sức cho văn hóa Thánh Mẫu. Ông dành nhiều trang viết về Thánh Mẫu Liễu
Hạnh trong công trình nghiên cứu về Tứ bất tử. Những công trình tiếp theo của
2.2. Tình hình nghiên cứu nhân vậ t Thánh Mẫu từ góc độ văn hóa – văn học
Nhân vật Thánh Mẫu vừa là đối tƣợng nghiên cứu của văn hóa học vừa là
đối tƣợng nghiên cứu của khoa học ngữ văn.
Kiểu truyện Thánh Mẫu cũng đã đƣợc nghiên cứu với những bài phân tích
cụ thể về các motif trong truyền thuyết về Mẫu Liễu. Với Linh Sơn Thánh Mẫu
thì hiện chƣa có bài viết nào tìm hiểu các motif chính xây dựng nên nhân vật.
Những bài nghiên cứu tìm hiểu hình tƣợng Mẫu Liễu từ góc độ văn học có:
Những yếu tố cấu thành hình ảnh “Địa Tiên Thánh Mẫu” của Phan Đăng Nhật
[38], đặc biệt, bài viết Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện
kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về Nữ thần Chăm của Trần Thị An [1] là đọc
truyện kể về Liễu Hạnh và Thiên Y A Na bằng type và motif.
Những bài nghiên cứu tìm hiểu Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ góc độ văn học –
văn hóa học có: Đề tài chúa Liễu qua folklore xứ Lạng (Vũ Ngọc Khánh) [25],
Mẫu Liễu và Quan Âm Thị Kính qua cảm quan sáng tạo dân gian (Hoàng Văn
Trụ)[64], Liễu Hạnh trong “Vân Cát Thần Nữ” và Liễu Hạnh trong tâm thức dân
gian (Lã Duy Lan)[31], Thử tìm hiểu cách xây dựng linh tượng Mẫu Liễu (Đặng
Văn Lung)[34] Nhƣng các bài nghiên cứu triển khai theo hƣớng ở góc độ văn
học (tìm hiểu nhân vật bằng type và motif) và ở góc độ văn hóa (soi sáng nhân
vật trong tín ngƣỡng và lễ hộ i) thì chƣa thấy nhiều.
Đề tài cấp Đại học quốc gia Khảo sát một số kiểu truyện tiêu biểu về các
nhân vật “Tứ bất tử” trong truyện kể dân gian Việt Nam của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Nguyệt [37] là gợi ý trực tiếp nhất cho luận văn này. Đề tài gồm có ba chƣơng.
Chƣơng 1 và chƣơng 2 là hai chƣơng đọc truyện kể dân gian bằng type và motif,
chƣơng 3 là Các nhân vật “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng, lễ hội dân gian. Trong
11
chƣơng 3 tác giả luôn gắn nhân vật phụng thờ với các yếu tố, nghi thức trong tín
ngƣỡng và lễ hội.
Cùng với công tác nghiên cứu thì công tác sƣu tầm, biên soạn văn học dân
4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Nhân vật Thánh Mẫu, bao gồm Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na
Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu thể hiện trong văn học và trong văn hóa dân
gian, cụ thể là thể hiện trong truyện kể dân gian và trong tín ngƣỡng, lễ hội
dân gian Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Truyện kể dân gian Việt Nam nằm trong type truyện Thánh Mẫu, trong đó
tập trung vào những bản kể về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na Thánh Mẫu
và Linh Sơn Thánh Mẫu.
- Tín ngƣỡng dân gian xung quanh việc thờ Thánh Mẫu và những lễ hội
Thánh Mẫu; Mối quan hệ giữa truyền thuyết, tín ngƣỡng và lễ hội dân gian xung
quanh hình tƣợng Thánh Mẫu.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luậ n văn của chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phƣơng pháp nhƣ: phƣơng
pháp so sánh, phƣơng pháp cấu trúc – loại hình, phƣơng pháp thống kê, phƣơng
pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp liên ngành.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt tƣ liệu: tập hợp một nguồn tƣ liệu tƣơng đối về Thánh Mẫu.
- Về nội dung nghiên cứu: góp phần xây dựng ý nghĩa hình tƣợng Thánh
Mẫu trong tâm thức dân gian, giải mã phần nào các vấn đề xung quanh tín
ngƣỡng, lễ hộ i Thánh Mẫu và xác lập kiểu truyện về Thánh Mẫu.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm ba phần lớn: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Tổ ng quan về Đạ o Mẫ u
Chƣơng 2: Hình tƣợng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na Thánh Mẫu,
Linh Sơn Thánh Mẫu trong truyện kể dân gian
Chƣơng 3: Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Linh Sơn
Thánh Mẫu trong đời sống tín ngƣỡng, lễ hội dân gian.
ngƣời phụ nữ, thậm chí ngƣời chồng sẽ giết ngƣời vợ nếu trong ngày thấy tháng
mà vợ nằm lên tấm chăn của anh ta [21; 343]) và ở vào bƣớc cực đoan nhất của
tiến trình này, ngƣời phụ nữ trở thành sở hữu của nam giới.
14
Trong tín ngƣỡ ng điề u nà y thể hiện rất rõ, ban đầu, Thƣợ ng đế là Thƣợng
đế nữ, pháp sƣ, ngƣời phân phát ân huệ từ Thƣợng đế cho con ngƣời cũng do nữ
giới đảm nhận. Trong các câu chuyện về Nữ thần, đàn ông bị coi thƣờng thậm chí
bị hạ nhục, chỉ là thú tiêu khiển của các Nữ thần và các Nữ thần thay ngƣời tình
nhƣ thay áo vậy. Dần dần, trên thế giới, tục thờ sinh thực khí không phải là cặp
linga – yoli mà chỉ là sinh thực khí nam mà thôi. Nam thần dần thay thế Nữ thần,
ở Hy Lạp và phƣơng Tây ngƣời ta không còn tìm thấy Nữ thần nữa. Khi các tôn
giáo độc thần ra đời, tín ngƣỡng thờ Nữ thần mất hẳn ở nhiều nơi trên thế giới.
Các tôn giáo độc thần đều coi trọng nam giới hơn nữ giới, nhƣng cực đoan nhất
là Hồi giáo, độc tôn nam giới, hạ giáng nữ giới xuống sát đất. Kinh Thá nh rao
giảng đà n bà là cá nh cƣ̉ a dẫ n tớ i đị a ngụ c ; Kinh Koran quan niệ m : “Đàn bà chỉ
là quần áo của đàn ông”, “đàn bà là thửa ruộng để khai khẩn”, “đàn ông cao
hơn đàn bà về nguồn gốc” [13]; phụ nữ không đƣợc bƣớc vào Thánh đƣờng để
cầu nguyện.
Ngay từ ban đầu, Việt Nam đã ở vào hệ văn minh coi trọng ngƣời phụ nữ
nhất. Điều kiện sản xuất gắn liền với cây lúa và nƣớc, đặc biệt thích ứng với sự
đảm đang, khéo léo của ngƣời phụ nữ, vì thế, ngƣời Việt cổ tôn thờ nƣớc, lúa, và
ngƣời phụ nữ, trọng tính âm hơn tính dƣơng. Quan niệm âm dƣơng là sản phẩm
của nền văn minh nông nghiệp lâu đời, nó bắt nguồn từ dân tộc Nam Á – Bách
Việt cổ đại chứ không phải xuất phát từ Trung Quốc nhƣ nhiều ngƣời nhầm
tƣởng: “âm, dương trong tiếng Việt ngày nay là những từ vốn đƣợc phiên theo lối
Hán Việt từ các từ yin, yang của tiếng Hoa. Song chính tiếng Hoa lại đã vay
mƣợn từ yang (dƣơng) nghĩa là “trời, thần” và từ yin (âm) nghĩa là “mẹ” của các
ngôn ngữ phƣơng Nam. Điều này rất rõ nếu so sánh yang (Hoa) với giàng (trong
hóa mới theo lối bản địa hóa văn hóa ngoại lai. Cực đoan nhƣ Hồi giáo mà khi
vào Việt Nam thay đổ i đá ng ngạ c nhiên địa vị Thánh nam, Thánh nữ, vai trò của
tín đồ nam, nữ. Thánh Môhamét ngang hàng với các tiên nữ, Mecca là thiên đàng
của các Nữ thần, nữ giới đƣợc đến Thánh đƣờng nhƣ nam giới và còn có những
biểu hiện trong nghi thức cho thấy nữ giới đƣợc ƣu tiên hơn cả nam giới [13].
Thêm nữa, nƣớc ta do sớm bị lệ thuộc nên không có đƣợc các bƣớ c phá t
triể n tự thân. Trung Quốc cổ đại có thời kỳ “Bách gia tranh minh”, tƣ tƣởng, học
thuyết nở rộ nhƣ nấm mọc sau mƣa nhƣng Việt Nam thì bị thủ tiêu mọi điều kiện
cho học thuật phát triển. Có lẽ vì thế mà nền tảng ban đầu, những gì mang tính
16
uyên nguyên, khởi thủy không bị phủ định, ngƣời Việt cổ và cả về sau này nữa
sống với những gì đã có, việc tiếp thu văn hóa nƣớc ngoài hay bị áp đặt thì tất cả
đều trải qua sự tiếp biến sao cho phù hợp với căn cốt của ngƣời Việt Nam, với cái
“tạng” văn hóa đã định hình từ lâu trong quá khứ.
Văn hóa nguyên thủy là nền văn hóa sơ khai là sản phẩm của thời kỳ kém
phát triển nhất trong lịch sử nhân loại nhƣng so với thời kỳ đầu của chế độ phụ
hệ, nam giới đang ra sƣ́ c khẳng định sức mạnh của mình, đang công cụ hóa ngƣời
phụ nữ bằng cách trần tục hóa, thậm chí ô uế hóa hình ảnh nữ giới vốn đƣợc bao
bọc trong ánh sáng thiêng liêng và huyền bí trong suốt trƣờng kỳ lịch sử và hạ bệ
các Nữ thần trên các điện thờ thì hóa ra văn hóa của thời kỳ man dã hơn lại nhân
văn hơn rất nhiều. Trong tâm thức ngƣời Việt khi ấy vẫn hƣớng trọn về ngƣời Mẹ
lớn linh thiêng của vũ trụ và muôn loài, của giống nòi và xứ sở. Tâm thức ấy tồn
tại xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành yếu tố bản chất trong tâm linh
dân tộc. Đồng thời bƣớc chuyển từ chế độ Mẫu hệ sang phụ hệ vốn là bƣớc
chuyển tất yếu của nhân loại ban đầu là cƣỡng bức ở dân tộc ta nhƣng dần dần nó
đƣợc chuyển hóa theo hƣớng nhân văn nhất. Trên điện thờ (tức là ở bình diện
tâm thức), Nữ thần không những không bị hạ bệ mà qua mỗi thời kỳ lại đƣợc bổ
sung thêm những gƣơng mặt mới. Việc thờ Nam thần Nữ thần cân bằng nhau và
ông làm nhà, đàn bà bán lợn”. Ngƣời đàn ông lo việc ngoài làng ngoài nƣớc, ngƣời
phụ nữ là “tay hòm chìa khóa”, là nội tƣớng trong gia đình. Tƣ tƣởng nam tôn nữ
ty của chế độ phụ quyền khi áp vào nƣớc ta đã bị nhân dân phản ứng kịch liệt:
“Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha;
Ba trăm một mụ đàn bà,
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.”
Đối chọi với quan niệm cực đoan “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”
là tiếng nói khẳng khái của nhân dân: “ruộng sâu trâu nái không bằng con gái
đầu lòng”.
Tƣ tƣởng trọng Mẫu của nhân dân đã tác động đến mọi lĩnh vực trong xã
hội. Bộ luật Hồng Đức (1478), bộ luật của nhà nƣớc phong kiến phụ quyền, độc
tôn Nho giáo đã không thể cứng nhắc và độc đoán bảo vệ quyền lợi một chiều
cho nam giới. Các quyền của nữ giới nhìn chung đƣợc bảo đảm: Về quyền kết
hôn: hôn lễ chỉ đƣợc diễn ra khi ngƣời nữ cũng đồng ý. Quyền ly hôn: ngƣời vợ
18
đƣợc quyền ly hôn nếu ngƣời chồng đối xử tệ bạc. Về quyền thừa kế tài sản: con
gái có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ. Ngƣời phụ nữ không tránh khỏi những
ràng buộc của lễ giáo phong kiến khắt khe nhƣng rõ ràng là “dễ thở” hơn so với ở
Trung Quốc. Phải có một sự cởi mở, một không khí dân chủ nhất định thì mới có
tƣơng truyền về những vụ án vừa hài hƣớc vừa rất nhân văn. Ông huyện đi vắng,
Bà huyện Thanh Quan thay chồng ra công đƣờng nhận đơn từ. Ngƣời đƣa đơn là
cô Nguyễn Thị Đào, xin đƣợc ly dị chồng rƣợu chè, đối xử tệ bạc với vợ con.
Đọc qua đơn, cảm thƣơng cho số phận ngƣời phụ nữ, không cần xét hỏi gì thêm,
bà liền cầm bút phê:
“Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nƣớc trong leo lẻo cắm sào đợi ai
Chữ rằng: xuân tái bất lai
giáo gây ảnh hƣởng nặng nề hơn, nhiều yếu tố văn hóa nguyên thủy mất đi hoặc
chìm lấp khó nhận ra. Còn miền Nam, vừa là miền đất mới, vừa xa xôi, triều đình
không đủ sức vƣơn dài sự áp chế của mình; vừa là vùng đất ảnh hƣởng sâu sắc
của văn hóa Mẫu hệ Chăm lâu đời đồng thời lại ở vào giai đoạn cuối của chế độ
phong kiến phụ quyền nên văn hóa mang tính Mẫu đƣợc cộng hƣởng và đậm nét
lên nhiều lần. Hiển nhiên là văn hóa Việt Nam đậm tính Mẫu, nơi nhạt của ta vẫn
là đậm so với thế giới và nơi đậm của ta thì “đặc” văn hóa Mẫu (Chẳng thế mà
phƣơng Tây gọi Đông Nam Á là “xứ sở Mẫu hệ”).
Tín ngƣỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu định hình thành Đạo Tam Phủ và kiện
toàn hơn khi trở thành Đạo Tứ Phủ. Tín ngƣỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu tất yếu trở
thành Đạo Mẫu khi nhân dân ta “một mực” quan niệm cai quản bốn cõi (Trời,
Rƣ̀ ng núi, Sông nƣớc, Nhân gian) là các Thánh Mẫu. Họ xác lập thần chủ, kiện
toàn điện thờ (dù chƣa thống nhất trong cả nƣớc) và tạo nên các nghi lễ đặc trƣng
(hầu đồng, hát văn, múa bóng) để hầu các Thánh Mẫu của họ.
Từ tín ngƣỡng thờ Nữ thần phát triển thành tín ngƣỡng thờ Mẫu và “lên
khuôn” thành Đạo Mẫu là một con đƣờng khác hẳn so với con đƣờng từ thờ Nữ
thần đến Nam thần và tôn giáo độc thần nam. Nhìn ngƣợc trở lại, có thể thấy dân
tộc ta tránh đƣợc cái xâm lấn đầy bản năng của nam tính đồng thời phát triển lên
cao độ tính nhân văn của văn hóa trọng Mẫu. Ngƣời Việt Nam yêu Mẹ nƣớc, yêu
Mẹ của dân tộc, yêu ngƣời Mẹ sinh thành ra mình, chính là yêu nƣớc vậy. 20
1.2. Các tôn giáo lớn du nhập vào Việt Nam không thay thế đƣợc Đạo Mẫu
1.2.1. Đạo Mẫu trong mối tương quan với Phật giáo, Thiên Chúa giáo
Thời khởi thủy, cai quản ba cõi đều là các bà thần: Bà Trời, Bà Đất, Bà
Nƣớ c. Càng ngày điện thần càng lan tràn các Nữ thần. Nhƣng Nữ thần không
phải là các cô gái trẻ, dong nhan sớm tối hay ghen tuông đủ kiểu mà là ngƣời vợ,
ngƣời mẹ và chủ yếu là các Mẹ, các Mẫu. Đến khi các ông thần góp mặt vào điện
ngoại lai này.
Nhƣng dù thế nào thì hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Thiên chúa giáo cũng
không thể thay thế đƣợc Đạo Mẫu. Xem xét căn nguyên của sự ra đời hai tôn
giáo này, chúng ta thấy nó không nằm trong nhu cầu nội tại của nhân dân ta.
Phật giáo xuất phát từ nhu cầu giải thoát của con ngƣời quá thừa mứa bên
ngoài (của cải, mỹ nữ, thú tiêu khiển), khao khát đi tìm cái giầu có bên trong:
hƣớng tới tâm linh. Đó là lý do Thái tử Siddhartha khi đã giác ngộ thì khuyên con
ngƣời ta từ bỏ mọi ham muốn, một lòng cầu giải thoát.
Trái lại, Công giáo lại xuất phát từ hoàn cảnh của một ngƣời giàu lòng
nhân ái (giàu có bên trong) nhƣng lại quá nghèo nàn bên ngoài (Jesu xuất thân
bần hàn). Nhƣng làm thế nào để ngƣời giàu chia sẻ cho ngƣời nghèo? Jesu không
kêu gọi làm cách mạng xã hội mà trông mong vào lòng bác ái của con ngƣời. Xã
hội phƣơng Tây đầy hoài nghi và trọng lý hơn trọng tình, đó là lý do Đạo Thiên
Chúa rao giảng nhiều đến thế về lòng bác ái và đề cao đức tin và lòng yêu thƣơng
con ngƣời.
Trong khi đó, nhân dân ta đã sẵn sự cố kết cộng đồng, sự yêu thƣơng gắn
bó xóm giềng: “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng
giềng gần”, và sự keo sơn trong dòng tộc: “ anh em nhƣ thể tay chân”, “môi hở
răng lạnh”, “xảy cha còn chú”, “xảy mẹ bú dì”, “lọt sàng xuống nia”, “một giọt
máu đào hơn ao nƣớc lã”… Chẳng cần Thiên chúa giáo nào chúng ta đã luôn
bảo nhau đoàn kết, thƣơng yêu lẫn nhau “gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”,
“ngƣời trong một nƣớc thì thƣơng nhau cùng”, “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi
thƣơng lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhƣng chung một giàn”…. Cũng chẳng
phải cấm kỵ ngƣời ta tìm đến cái chết vì vốn dĩ dân tộc ta là dân tộc rất lạc
quan, “sông có khúc ngƣời có lúc”, “chớ than phận khó ai ơi – còn da lông mọc
còn chồi nảy cây”, “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Cái chết đƣợc
quan niệm nhƣ một lẽ tự nhiên: “rắn già rắn lột, ngƣời già ngƣời lột vào xăng”,
22
23
Nhân dân đến với Phật giáo theo cách của họ. Sau mới sinh ra cái gọi là
Phật giáo dân gian, theo kiểu, kinh Vu Lan dạy ngƣời ta từ bỏ tham ái, sân si,
tham ái là cha, sân si là mẹ. Câu chuyện Mục Liên xuống chín tầng địa ngục giải
thoát cho bà mẹ tội lỗi nên bị đày là câu chuyện minh họa cho tƣ tƣởng Phật giáo
đó. Nhƣng ngƣời Việt ta lại rút ra nội dung tư tưởng về Đạo hiếu, và thế là lễ Vu
Lan, lễ cứu khổ ở địa ngục trở thành mùa báo hiếu, trở thành ngày của Mẹ. Thêm
nữa, hầu hết các bà thần đều đƣợc nhân dân xem là Phật bà cả. Các tín đồ đến lễ
bái ở các nơi này đều xem mình là đệ tử nhà Phật. Rõ ràng là Phật giáo ở Việt
Nam thiên nặng về các bà Mẹ.
Các tôn giáo khác nhƣ Đạo Hindu, Đạo Hồi cũng đều phải Mẫu hóa ít
nhiều. Dòng Siva giáo nhanh chóng đƣa Nữ thần Devi vào thờ cùng với Siva.
Đạo Hồi cũng nhanh tay đƣa Thần mẹ xứ sở Pô Inƣ Nagar vào hệ thống thần linh
Hồi. Nếu tôn giáo ở chính quốc đặc biệt trọng nam khinh nữ thì vào Việt Nam,
không nữ tôn nam ti thì ít nhất cũng là nam nữ bình quyền. Phậ t giá o thì bớ t
trang nghiêm đi nhiề u : “Bụt chùa nhà không thiêng”, “Gần chùa gọi Bụt bằng
anh”; “Ba cô đội gạo lên chùa – Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sƣ – Sƣ về sƣ ốm
tƣơng tƣ – Ốm lăn ốm lóc cho sƣ trọc đầu …”
1.2.2. Địa vị của Đạo Mẫu trong tâm thức nhân dân
Không một tôn giáo nào ở Việt Nam có đƣợc địa vị nhƣ Đạo Mẫu trong
tâm thức ngƣời Việt. Tƣ tƣởng phổ biến trong nhân dân là “ai cũng là con của
Mẫu”. Các cuộc hành hƣơng nô nƣ́ c trong năm là các cuộc hành hƣơng về phủ,
miếu, điện thờ Mẫu. Trái với các tôn giáo khác, ngƣời dân đến với Mẫu với tinh
thần hết sức hồ hởi, tâm thế khác hẳn với ngƣời bƣớc vào Thánh đƣờng Thiên
chúa giáo chẳng hạn. Đặc biệt là không khí náo nhiệt của các giá hầu đồng,
không khác gì sân khấu biểu diễn ca múa dân gian. Chỉ khác là sân khấu này diễn
ra trƣớc điện thờ thần linh và đƣợc bao bọc trong một bầu không khí thiêng liêng.
Thánh với dân hòa đồng, kéo gần hết mức khoảng cách giữa các bậc kính ngƣỡng
với con nhang đệ tử và ngƣời tham dự. Không ở đâu mà tinh thần ham vui (“Vui
chính là Mẹ mà trong tâm thức ngƣời Việt thì ngƣời Mẹ bao giờ cũng đƣợc
hƣớng tới với tâm tình thân thiết và tôn thờ. Vì lẽ đó, Đạo của ngƣời Việt tất yếu
phải là Đạo Mẫu và không tôn giáo lớn nào nhƣ Phật giáo hay Thiên chúa giáo
hay Ấn giáo, Hồi giáo thay thế đƣợc. 25
1.3. Phân loại các Nữ thần, Mẫu thần
1.3.1. Khái niệm Nữ thần
Trên thế giới, tín ngƣỡng thờ Nữ thần bị thay thế bởi tín ngƣỡng thờ Nam
thần và tôn giáo độc thần nam. Cho nên khái niệm Nữ thần đƣợc xác định và
dừng lại ở nhân vật thần thoại “sáng tạo ra vũ trụ, ra loài ngƣời hoặc là những
anh hùng văn hóa có kỳ tích rực rỡ” [14; 3], nhất là ở phƣơng Tây, hệ thống Nữ
thần ngày càng mai một đi và không đƣợ c nối dài thêm. Nữ thần của Việ t Nam
mở rộng hơn nhiều, tất cả các bà các cô sau khi chết đi, đƣợc nhân dân lập đền
thờ và đƣợc triều đình sắc phong thì đều đƣợc gọi là Nữ thần. Do vậ y đã tồn tại
thực tế Nữ thần áp đảo Nam thần trong hệ thống thần văn hóa, thần nghề nghiệp
và trong hệ thống thần đƣợc thờ theo tín ngƣỡng phồn thực.
Số lƣợng Nữ thần trong Các Nữ thần Việt Nam (Đỗ Thị Hảo - Mai Thị
Ngọc Chúc) [14] là trên 75 Nữ thần (75 truyện kể về Nữ thần nhƣng có trƣờng
hợp 1 truyện kể về 2 Nữ thần nhƣ Quế Nương và Dung Nương; Ngọc Nương,
Bảo Nương). Gần đây truyện kể về Nữ thần sƣu tầm đƣợc đã tăng lên thành 116
truyện (Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam [29]). Danh sá ch thố ng kê cá c Nƣ̃ thầ n
đƣợ c ghi trong thầ n tí ch là 362 Nữ thần [29; 380 - 421]. Di tích thờ cúng Nữ thần
chiếm 250 trên tổng số 1000 di tích văn hóa (1/4) [57; 10].
1.3.2. Khái niệm Thánh Mẫu
Trong đông đảo các Nữ thần không phải ai cũng đƣợc tôn xƣng là Mẫu và
càng ít Thánh Mẫu. Vũ Ngọc Khánh trong Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam
điểm tên 19 Thánh Mẫu nhƣng chỉ những Thánh Mẫu tiêu biểu mới có truyền