TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===***===
ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
KIỂU NHÂN VẬT MANG LỐT RẮN
VÀ CHIM TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
THẦN KỲ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS.GVC NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện khóa luận, người viết đã thường
xuyên nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa
Ngữ Văn và các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, đặc biệt là
ThS. GVC. Nguyễn Thị Ngọc Lan – người trực tiếp hướng dẫn.
Người thực hiện khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các
thầy cô giáo và các bạn sinh viên đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, cũng như tạo
mọi điều kiện để người viết hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2013
Người thực hiện
1.3.2. Sự xuất hiện của nhân vật............................................................ 28
1.3.3. Giới tính nhân vật ........................................................................ 29
CHƯƠNG 2.ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI MANG LỐT
RẮN CHIM.................................................................................................. 32
2.1. Hình thức xuất hiện của nhân vật......................................................... 334
2.2. Khả năng khác thường của nhân vật .................................................... 400
2.3. Hành trạng đặc biệt của nhân vật .......................................................... 47
2.3.1. Kết hôn ....................................................................................... 47
2.3.2. Trút lốt ......................................................................................... 53
KẾT LUẬN.................................................................................................. 56
DANH MỤC TRUYỆN KHẢO SÁT........................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………...65
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, từ lâu truyện cổ tích đã được
đánh giá là một trong những bộ phận quan trọng trong thể loại tự sự dân gian.
Có thể nói, truyện cổ tích thần kỳ với những kiểu truyện như: người mồ côi,
người em út, người dũng sĩ … đã cho thấy sự đa dạng trong tư duy nghệ thuật
của nguời xưa. Không chỉ có vậy, truyện cổ tích thần kỳ còn có những nét đặc
trưng riêng bởi sự đóng góp không nhỏ của kiểu nhân vật người mang lốt. Kiểu
nhân vật này đã tạo ra những hình tượng nhân vật đặc sắc của kho tàng truyện
cổ tích Việt Nam. Các nhân vật vì một lý do nào đấy phải mang lốt các con vật
như: cóc, ếch, chim, rắn, rùa, chồn, nai, dê, khỉ… và sau khi trải qua khó khăn,
thử thách; nhân vật trút bỏ cái lốt xấu xí trở thành người. Điều này thể hiện
triết lý đạo đức, quan niệm thẩm mỹ, cũng như khát vọng vươn tới sự hoàn
thiện của dân gian. Qua khảo sát 100 truyện cố tích thần kỳ, chúng tôi nhận
thấy: trong các loại lốt của nhân vật đã được khảo sát, chúng tôi nhận thấy lốt
người mang lốt trong truyện cổ tích, đã đặt ra cho các nhà nghiên cứu đầu
ngành sư phạm sự quan tâm đặc biệt tới tâm lý tiếp nhận của học sinh trong
quá trình dạy học. Mong muốn khi ra trường các em sẽ đạt hiệu quả cao trong
dạy học văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng để nâng cao
nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng giảng dạy thực hành, thực hiện tốt vai trò của
người giáo viên phổ thông.
1.3. Không chỉ quan tâm đến những điều trên, lý do để tôi lựa chọn đề
tài này còn xuất phát từ chính niềm say mê yêu thích của bản thân. Bởi những
câu chuyện về kiểu nhân vật người mang lốt rắn và chim do dân gian sáng tạo
rõ ràng không phù hợp với hiện thực đời sống, thế nhưng lại hấp dẫn được
người nghe bởi tính chất kỳ ảo hoang đường. Ta tìm thấy ở đó cái mà thực tại
không làm họ thỏa mãn, thấy được những giá trị tinh thần, những thông điệp
2
sống rung cảm thực sự từ trái tim người nghệ sỹ dân gian. Bỏ qua những ham
muốn, dục vọng tầm thường, đến với những chân lý chính đáng, những ước
mơ, lý tưởng, hạnh phúc và thành công. Chính chất lãng mạn bay bổng làm
say lòng người đó đã trở thành động lực, tạo hứng thú đặc biệt cho tôi khi lựa
chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
Để có cái nhìn đầy đủ, sâu sắc hơn khi tiếp cận đề tài này, chúng tôi
hướng tới những mục tiêu chính sau đây:
- Khảo cứu hệ thống các công trình sưu tầm truyện cổ tích thần kỳ Việt
Nam để bổ sung thêm tư liệu về truyện cổ tích thần kỳ có kiểu nhân vật
người mang lốt rắn và chim.
- Xem xét đặc điểm hình tượng kiểu nhân vật người mang lốt rắn và
chim ở các phương diện: hình thức xuất hiện, khả năng khác thường, hành
trạng đặc biệt để thấy được nét độc đáo của nhân vật trong hệ thống nhân vật
huyền ảo, mang đậm ý nghĩa giáo dục. Chính vì thế trong vài thập kỷ trước
đến nay, đã có nhiều tác giả bàn về kiểu nhân vật này trong các công trình
nghiên cứu của mình.
Năm 1981, nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật trong cuốn “Văn học các
dân tộc thiểu số Việt Nam” đã có nêu ý kiến về nhân vật người mang lốt. Ông
đã khẳng định: “Nhân vật mang lốt là những người xấu xí, nghèo khổ. Họ
phải mang lốt cóc, dê, rắn, khỉ, chim, nhái, … nhưng họ có phẩm chất tốt đẹp
và tài năng hơn người”. Tiếp đến, ông đã dành sự chú ý đánh giá sự thay đổi
số phận của nhân vật, khi nhân vật trút bỏ lốt xấu xí và trở thành những con
người hoàn mĩ. Những nhận xét của Phan Đăng Nhật có độ chính xác cao,
song tất cả mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu văn bản ngữ văn mà chưa
chú ý tới ý nghĩa dân tộc học của hình tượng nhân vật. Khóa luận không chỉ
tiếp nhận những nhận định trên mà còn nhấn mạnh thêm về ý nghĩa của yếu tố
chưa được đề cập ấy.
4
Trong công trình nghiên cứu “Quá trình chuyển hóa biểu tượng Chim Rắn từ huyền thoại cổ đến truyền thuyết Hùng Vương”, tác giả Phan Đăng
Nhật đã tiếp cận hình tượng rắn trong mối quan hệ với con người. Nghiên cứu
một số tác phẩm có hình tượng nhân vật rắn, tác giả đã đưa ra nhận định: rắn
và con người có quan hệ thân thiết, ruột thịt, thậm chí cùng chung một dòng
máu. Theo đó, ông khái quát hình tượng nhân vật rắn trong quan hệ của con
người, mô hình hóa sự kết hợp giữa huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn để
trở thành truyền thuyết mẹ Tiên Âu - bố Rồng Lạc sinh ra bọc trứng. Có thể
nói, ý kiến trên đã giúp chúng tôi có những căn cứ định hướng xác định rõ
hơn về mối quan hệ về các hình thức xuất hiện của người mang lốt rắn.
Năm 1998, nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Hà trong cuốn “Thạch Sanh và
kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á”, đã có sự khảo
sát khá công phu về về môtip dũng sĩ diệt rắn ác. Tác giả đã tìm hiểu nguồn
công trình nghiên cứu công phu, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả nghiên
cứu này để làm rõ hơn về các yếu tố đặc điểm hình tượng nhân vật người
mang lốt rắn và chim.
Năm 1999, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan đã dành sự quan tâm cho đề
tài luận văn thạc sĩ tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I với nội dung “Kiểu
truyện người mang lốt vật trong truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam”
[9]. Tác giả đã khảo sát tư liệu truyện cổ về người mang lốt trên các phương
diện các loại lốt con vật được mượn làm cái lốt cho nhân vật. Tác giả đã tìm
thấy 25 loại lốt như: cóc, rắn, chim, ếch, rùa, thỏ, cá, … Trong đó có lốt rắn
và chim, điều này chứng tỏ kiểu nhân vật mang lốt rắn và chim cũng đã thu
hút được sự quan tâm lớn của các tác giả dân gian.
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Minh Hường với nhan đề “Hình tượng
rắn trong truyện cổ dân gian Việt Nam” đã tìm hiểu và đưa ra hệ thống 26
truyện có rắn là nhân vật người mang lốt. Trong công trình này, tác giả đã
chia tách các truyện thành các kiểu kết thúc khác nhau: có hậu và không có
6
hậu, từ đó nêu lên đặc điểm chung trong type người mang lốt vật, qua đó tác
giả đã khái quát thể hiện những đặc điểm riêng về tính chất hình tượng nhân
vật người mang lốt rắn. Không chỉ có vậy, tác giả còn đề cập tới tiến trình
diễn biến và kết cấu của các câu truyện người mang lốt rắn. Từ việc xuất hiện
thần bí, gặp gỡ các nhân vật là ai, bị nhân vật từ chối như thế nào, kết hôn với
đối tượng thường là những con người ra sao, vướng phải những thử thách đa
dạng ở các phương diện nào, vượt qua thử thách và thể hiện bản lĩnh tài năng
thông minh, khác thường có gì đặc biệt. Đây được xem là những định hướng
vô cùng quan trọng cho chúng tôi khảo sát một trong hai nhân vật mà đề tài
đang đề cập đến.
Trong cuốn Giáo trình văn học dân gian, tác giả Phạm Thu Yến cũng
trong truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam’’. Trong công trình này, tác giả đã dẫn
dắt vấn đề đi theo một trình tự hợp lý, lôgic từ việc tạo lập cơ sở hình thành
ban đầu của kiểu truyện, tới việc khảo sát các loại lốt và chỉ ra đặc điểm của
nhân vật người mang lốt cóc. Trong quá trình khảo sát các truyện cổ tích có
kiểu nhân vật người mang lốt, tác giả đã đề cập tới hai hình tượng nhân vật
mà đề tài của chúng ta đang quan tâm. Đặc biệt, tác giả đưa ra số liệu thu
được trong quá trình khảo sát truyện người mang lốt với kiểu nhân vật người
mang lốt rắn chiếm 12% (trong tổng số 100 truyện khảo sát). Với niềm say
mê về truyện cổ tích thần kỳ ở kiểu nhân vật người mang lốt rắn và chim, đã
tạo động lực cho chúng tôi tiếp tục suy ngẫm và tìm hiểu vấn đề này. Vì thế
bắt tay vào nghiên cứu đề tài cũng là một cách cho chúng tôi nhằm thỏa mãn
nhu cầu khám phá của bản thân.
Năm 2012, trong cuốn Giáo trình văn học dân gian, nhà nghiên cứu
Vũ Anh Tuấn (chủ biên) đã nêu ra những vấn đề về thể loại, quan niệm, đặc
trưng, nội dung của truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích thần kỳ nói
riêng, trong đó có hệ thống truyện người mang lốt vật. Đưa ra dẫn chứng các
nhân vật mang lốt như: chim, rắn, rùa, dê, khỉ, ếch…qua mô hình kết cấu:
8
nhân vật mang lốt ước mơ ( một chàng trai, cô gái đẹp, đưa ra các thử thách,
vượt qua, trút lốt xấu xí để kết hôn); tác giả dẫn dắt hình thức xuất hiện khác
thường của các nhân vật, trút lốt ra sao và được hưởng hạnh phúc xứng đáng
như thế nào.
Điểm qua tình hình nghiên cứu, có thể dẫn tới nhận xét như sau:
Vấn đề mà chúng tôi quan tâm đã từng được các nhà nghiên cứu chú ý
khai thác nhưng vẫn còn sơ lược. Đó là những nhận định có tính khái quát,
mang tính chất giới thiệu và gợi mở. Khi tìm hiểu vấn đề, chúng tôi đã xem
xét một số bài viết, công trình liên quan: luận án tiến sĩ Hình tượng rắn trong
thần kỳ được xem là nhóm truyện xuất hiện sớm hơn cả, có gốc rễ sâu xa từ
thế giới quan thần bí, từ những huyền thoại của thời kỳ nguyên thủy phong
phú, hấp dẫn. Đây là nhóm truyện mà ở đó, người đọc có thể nhận ra đời sống
hiện thực khách quan, đặc biệt là bối cảnh tan rã của chế độ công xã nguyên
thủy. Khuynh hướng nổi bật của truyện cổ tích thần kỳ không phải là nhấn
mạnh hiện thực mà là trình bày ước mơ, lý tưởng xã hội của nhân dân. Lý
tưởng xã hội làm cơ sở cho lý tưởng thẩm mỹ của truyện cổ tích thần kỳ là sự
hướng về những tư tưởng đạo đức chất phác, sự công bằng, trong sáng của xã
hội thị tộc. Vậy nên hầu hết những vấn đề xã hội trong truyện cổ tích thần kỳ
đều được giải quyết trong sự chi phối và có sự tác động trực tiếp hay gián tiếp
của lực lượng thần kỳ, thể hiện ở các môtip, các nhân vật, cốt truyện,…
Nhân vật trung tâm của truyện cổ tích thần kỳ là những con người, nạn
nhân có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội với nhiều mâu thuẫn và xung đột
xoay quanh. Đó là những con người bất hạnh, xấu số, có địa vị thấp hèn, có số
phận không may mắn. Truyện cổ tích thần kỳ đã miêu tả những nhân vật ấy
10
theo khuynh hướng lý tưởng hóa, giải quyết số phận của họ theo một kết thúc
có hậu mang tính chất ước mơ. Mỗi câu chuyện được xem là quá trình đi tìm
kiếm hạnh phúc của những kiểu nhân vật đó. Truyện cổ tích thần kỳ đã xây
dựng những chi tiết truyện mang tính chất phổ biến về những con người,
những kiểu nhân vật như thế.
Kiểu truyện người mang lốt được xem là kiểu truyện cổ tích quen thuộc,
hay được gọi là kiểu truyện nhân vật xấu xí mà tài ba. Truyện thường kể về
một nhân vật mang dáng vẻ bên ngoài dị dạng nhưng lại có tâm hồn trong sáng,
tốt bụng, đặc biệt là có tài năng khác thường. Tên nhân vật thường để đặt tên
cho truyện, cốt truyện thường được thể hiện theo một mô hình.
Cùng với những kiểu truyện về người mồ côi, người con riêng, người
các kiểu nhân vật như: mồ côi, người em, con riêng... Qua đó, ông chứng
minh nguồn gốc cũng như mối quan hệ lịch sử chặt chẽ đã được liên hệ về
nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ nói chung và kiểu người mang lốt nói
riêng. Ông đánh giá, nghiên cứu nhân vật trong truyện cổ tích, coi đây chính
là chìa khóa để hiểu mỹ học của truyện cổ tích.
Với sự ra đời của một số nhân vật người mang lốt, người ta thấy những
điều tưởng chừng như là phi lý. Bởi lẽ, việc thụ thai và sinh nở vốn là một
biểu hiện tuân theo một chiều hướng quy luật tự nhiên của con người. Kết quả
của quy luật tự nhiên ấy là sự ra đời của những đứa trẻ, chứ không phải là dê,
rắn hay chim. Thế nhưng, do những yếu tố trong quá trình sống, do sự lây
nhiễm độc tố di truyền, hay một số tác động ngoài luồng khác thì việc một bà
mẹ sinh ra một đứa con tật nguyền là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận được. Có
một số phận không may mắn như những con người khác, không được hoàn
thiện về hình dáng và vẻ đẹp bên ngoài khiến cho những con người ấy phải
hứng chịu nhiều thiệt thòi và đau khổ trong cuộc sống cả về vật chất và tinh
thần. Họ là những con người không may khi phải mang trên mình một hình
hài xấu xí, nhiều khuyết thiếu như trong các truyện Chàng gù, Chàng ghẻ
(Chăm), Chàng ngàn mụn hạt cơm (Thái) … Họ bị người đời, và thậm chí
12
ngay cả người thân của mình rẻ rúng, khinh miệt. Vì thế, niềm hạnh phúc, ước
mơ, khát khao được có một cuộc sống bình thường..., tất cả chỉ được họ gửi
gắm trong một mong ước là mọi thứ sẽ có thể thay đổi để mình được tự tin,
vững vàng. Chính từ nhu cầu hiện thực ấy mà các tác giả dân gian đã sáng tạo
ra truyện kể về người mang lốt với sự hư cấu đẹp đẽ, lành mạnh, mượn cái
thần kỳ để sáng tạo ra nhân vật thần kỳ với dụng ý nghệ thuật bênh vực, chia
sẻ cùng những con người bất hạnh, nhằm thể hiện khát vọng sống lạc quan,
chủ nghĩa nhân đạo cao cả . Đem cái bình đẳng và hạnh phúc xoa dịu đi nỗi
đau mà họ phải chấp nhận, gánh chịu. Từ đó chứng minh một điều rằng: nhân
Qua quá trình khảo sát, dạng cốt truyện này có số lượng không nhiều,
về cơ bản thì chi tiết của truyện khá đơn giản, hệ thống nhân vật xuất hiện
tương đối ít: cốt truyện chủ yếu xoay quanh hai nhân vật chính: nhân vật
mang lốt và chàng trai (hoặc cô gái) là người chồng (hay người vợ) của họ.
Chẳng hạn như người mang lốt chim hoặc cá. Ví dụ:
Một chàng trai nghèo ở với mẹ, hàng ngày anh phải đi giữ rẫy. Anh đã
làm cái “túc” để thay mình giữ rẫy, nhưng mấy lần cái “túc” đều bị chim đến
làm đứt. Anh tức giận liền rình bắt chim và thấy chim trút bỏ bộ cánh, biến thành
một cô gái đẹp. Thấy vậy, anh liền giữ bộ cánh của cô gái ấy. Mất cánh không
thể bay được nữa, cô gái phải làm vợ anh ( Anh giữ rẫy - dân tộc Cà Tu).
Hay trong một câu chuyện khác:
Một chàng trai nghèo tên là K’Làng chuyên làm nghề câu cá kiếm ăn.
Chàng câu được một con cá K’Dùng, liền đem về nuôi trong một chiếc ché
vỡ. Một hôm chàng nằm mơ thấy từ chiếc ché hiện ra một cô gái vô cùng xinh
đẹp. Tỉnh dậy, chàng thấy cô gái ấy đang ở bên cạnh mình, từ đó, hai người
trở thành vợ chồng và sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi .
(Chàng K’Làng và nàng tiên cá – Truyện cổ Mạ)
14
Hoặc như trong câu chuyện dưới đây:
Một con chim Ntợp (chim bồ câu) hát ghẹo chàng K’Dùng. Chàng
K’Dùng tức giận liền đem cung tên bắn vào chim, nhưng thấy chim đẹp quá,
K’Dùng liền đem về nuôi. Hàng ngày, chim biến thành một cô gái đẹp, hiện
ra chăm lo quét dọn nhà cửa và cơm nước cho K’Dùng. Thấy lạ, K’Dùng sinh
nghi liền rình trộm và bắt gặp nàng trút lốt chim thành người. Từ đó hai người
trở thành vợ chồng và chung sống bên nhau hạnh phúc.
(Chàng K’Dùng và nàng K’Làng - Dân tộc Cơ Ho)
Có thể nhận thấy rằng, người mang lốt sau khi vượt qua những rào cản
Ta có thể thấy điều này qua một số truyện về người mang lốt cóc, dê,
khỉ… Ví dụ:
Hai vợ chồng nghèo hiếm con, cầu khẩn mãi mong muốn có một đứa
con. Một hôm, lên nương trồng bí, hai vợ chồng trồng được một cây bí khác
thường chỉ có một quả mà quả bí lại rất to và lớn nhanh. Người vợ bổ bí và
một con các nhảy ra, cóc lên thiên đình hỏi cưới cô út con Ngọc Hoàng làm
vợ. Thấy cóc hình dạng xấu xí, lại muốn lấy con gái mình, Ngọc Hoàng liền
ra thử thách cho cóc san bằng ba ngọn núi trong một buổi sáng, và rồi lại bắt
cóc đắp núi cao như trước. Cóc làm ba ngọn núi phẳng lỳ rồi lại làm ba ngọn
núi mọc lên. Ngọc Hoàng tiếp tục ra các điều kiện khác như đi gieo nương rồi
lại thu hồi các hạt rau trên nương. Tất cả đều được cóc thực hiện, Ngọc
Hoàng đã phải gả con gái út cho cóc. Trong vùng mở hội, cóc liền trút lốt hóa
thành chàng trai tuấn tú. Vợ cóc thấy vậy liền đem đốt lốt cóc đi. Từ đó, cóc
không còn mang trên mình tấm lốt xù xì, xấu xí ấy nữa, và sống bên người vợ
của mình.
(Chàng cóc lấy vợ tiên – Truyện cổ Lô Lô)
16
Hay:
Một bà mẹ hiếm con sinh được một con dê đực. Dê muốn lấy con gái
phú ông nên đã đến làm thuê cho phú ông. Phú ông không muốn bị mang
tiếng thất hứa nên đưa ra sính lễ thách cưới để dê không thực hiện được: 100
trâu bò, 100 con lợn, một mâm vàng, một mâm bạc. Dê đưa ra đầy đủ lễ vật
và trở thành chồng của cô út. Dê trút lốt là chàng trai đẹp, từ đó hai vợ chồng
chung sống hạnh phúc.
(Lấy chồng dê - Dân tộc Việt)
Hoặc như trong câu chuyện dưới đây:
Một ông già đi gánh mạ nhưng nặng quá không nhấc được liền có
con lang ra gánh giúp, ông hứa gả con gái cho lang để trả ơn. Cô con gái
(Lấy chồng lang - Dân tộc Thái)
út lấy lang.
Với những câu chuyện trên đây, có thể nhận thấy nhân vật kết hôn với
các “người mang lốt” không ai khác ngoài các cô con gái út. Dưới cái nhìn
khinh miệt, kỳ thị trong cuộc sống và thân phận cùng bộ dạng xấu xí của các
nhân vật người mang lốt thì chỉ có cô út - người có tấm lòng nhân từ sẵn sàng
lấy họ để trả ơn hay giải thoát cho cha mẹ mình, cho gia đình, gánh cho các
chị của mình một việc làm họ không mong muốn. Chỉ có cô út đẹp người đẹp
nết chấp nhận thua thiệt về mình, đồng ý lấy nhân vật mang lốt làm
chồng.Việc xây dựng tài tình hình ảnh hai nhân vật có hai suy nghĩ và tâm
hồn đạo đức khác nhau đã đưa người đọc tiếp cận dần với mâu thuẫn xã hội
tồn tại trong cuộc sống gia đình. Họ xa lánh hoặc tù chối dứt khoát việc tiếp
xúc với các nhân vật xấu xí, giành mọi sự may mắn cho mình. Nhiều khi cô út
bị các chị của mình cho là kỳ quặc hoặc bất thường, họ không tin tưởng và
chế nhạo em làm những điều ngu ngốc. Hình tượng những cô gái mang tấm
lòng trong sáng, giàu tình thương, nhân hậu, và thông cảm với con người đã
tô đậm màu sắc luân lý đạo đức đối lập với các cô chị độc ác và thô lỗ khi
muốn tranh chồng làm hại em. Như vậy, những truyện cổ tích có dạng cốt
truyện này đã phần nào phản ánh được một giai đoạn và hình thức phân chia
trong gia đình của lịch sử xã hội.
18
c. Người mang lốt vật - người chồng (hoặc người vợ) - lực lượng
trung vào mối quan hệ “người mang lốt - người vợ - bố vợ” .
1.1.3. Khảo sát các loại lốt của nhân vật trong kiểu truyện
Theo Từ điển Tiếng Việt, “lốt”: là xác bọc bên ngoài của một số động
vật, là vỏ ngoài hay gọi là hình thức bên ngoài để che giấu, đánh lừa đi con
người thật (SĐD, tr.584). Như vậy, có thể hiểu lốt là cái vỏ bọc khoác bên
ngoài của đối tượng chứ không phải là đối tượng. Cái vỏ bọc ấy được tạo ra
với mục đích ngụy trang, đánh lừa, làm cho người khác nhầm tưởng đối
tượng. Nhân vật đội lốt là khi nhân vật khoác lên một vỏ ngoài khác hẳn với
bản chất của mình để cho người khác nhầm tưởng nhằm thực hiện một mục
đích nào đấy.
Trong số 100 truyện cổ tích thần kỳ được chúng tôi khảo sát, có thể
nhận thấy kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích thần kỳ của
Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Đã có tới 25 loại lốt như: chồn, rắn, cóc,
ếch, chim, trăn, dê, cá, khỉ… Cụ thể xin đưa ra một số loại chiếm tỷ lệ lớn mà
chúng tôi đã thống kê được: chim và rắn 36%, cóc 20%, rùa 13%, ếch 10%,
cá 7%,… Trong đó ở một số truyện chúng tôi tìm được cả hai nhân vật mang
lốt rắn và chim cùng xuất hiện.
Do gắn bó gần gũi với cuộc sống sinh hoạt đời thường của con người,
nên đối tượng được các tác giả dân gian tin tưởng gửi gắm nhân vật cho mang
lốt đều là những con vật vốn quen thuộc. Đó là những con người được bao
bọc bởi bề ngoài, hình thức của các loài vật như: rắn, chim, cóc, rùa, dê…
Trong đó, nhân vật mang lốt rắn và chim chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong số tư
liệu khảo sát. Cũng bởi lẽ cả hai con vật rắn và chim đều là những loài linh
thiêng, là biểu tượng cho văn hóa nhân loại, cho văn hóa tín ngưỡng dân tộc,
biểu tượng cho kiến trúc, điêu khắc, và các truyền thuyết lễ hội dân gian.
20
1.2. Kiểu nhân vật người mang lốt chim