truyện cổ tích hay của việt nam và thế giới - Pdf 17

Sự tích hoa mẫu đơn
Ngày xưa ở một làng miền núi có một bà mẹ. Bà mẹ sinh được mười người con trai. Làng của mẹ bị giặc
chiếm đóng. Người cha của mười anh con trai bị giặc giết ngay từ ngày đầu tiên, khi chúng tiến vào làng.
Mười người con trai của bà vào đội quân chống giặc ở trong núi. Người con trai cả là chủ tướng của đội
quân. Đội quân nay đã làm cho bọn giặc thất điên bát đảo. Đã nhiều lần giặc mở những trận càn quét mà
không sao tiêu diệt được đội quân của cái làng bé nhỏ ấy.
Tên tướng giặc sai quân bắt bà mẹ đến, hắn bảo:
- Này mụ già, mụ hãy khuyên các con mụ trở về. Ta sẽ cho con mụ làm tướng. Bằng không, ta sẽ giết mụ.
Bà mẹ nhìn thẳng vào mắt tên tướng giặc, nói lớn:
- Hỡi quân độc ác! Hẳn nhà ngươi cũng có một bà mẹ. Mẹ ngươi chắc không bao giờ dạy người phản bội
lại quê hương. Là một người chân chính, ta cũng không thể dạy các con ta phản bội lại quê nhà.
Bọn giặc trói mẹ trên một ngọn đồi rồi cho quân mai phục hòng bắt được những người con của mẹ đến cứu.
Chúng bảo bà mẹ hãy đứng dậy mà gọi con, chúng sẽ tha. Tiếng người mẹ:
- Hỡi các con của mẹ! Hỡi những người con của quê hương. Ta nhân danh người mẹ, ra lệnh cho các con
không được vì ta mà phản bội quê hương.
Mệnh lệnh của người mẹ là mệnh lệnh trái tim, mệnh lệnh của tình yêu vĩ đại. Mệnh lệnh đó lan khắp núi
rừng. Bọn giặc run sợ. Những người con của mẹ thì thêm sức mạnh chiến đấu. Giặc bịt miệng bà mẹ.
Chúng đổ nhựa thông và nhựa trám lên đầu bà và châm lửa đốt. Ngọn lửa cháy sáng cả một vùng
Khi bọn giặc đi rồi, dân làng lên đồi tìm chỗ bà mẹ bị hành hình, người ta thấy trái tim của người mẹ vẫn
nguyên vẹn và nóng bỏng. Dân làng chôn mẹ ngay trên đỉnh đồi. Đêm đêm, từ ngôi mộ, trái tim mẹ vẫn
phát sáng cả một vùng trời.
Mùa xuân đến. Từ ngôi mộ, trái tim ấy mọc lên một cái cây. Cây ra hoa. Bông hoa đỏ chót hình ngọn lửa
bốc lên từ trái tim người mẹ. Và cũng từ ngày ấy có một loại hoa mang tên Mẫu Đơn. Cây hoa tượng trưng
cho người mẹ đã chiến đấu bằng một trái tim.
Chú thỏ tinh khôn
Từ ngày xửa ngày xưa đồng bào người Việt gốc Khơ Me ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn thường kể
chuyện về một chú thỏ tinh khôn. Chuyện của chú nhiều và dài lắm, vì trí khôn của chú lớn và chiến công
của chú kể hết năm này qua năm khác không thể hết được.
Một hôm thỏ đang nằm ngủ dưới một gốc cây sung. Bỗng một quả sung chín rụng rơi đánh bốp một cái
giữa đầu thỏ. Vốn nhát, thỏ giật bắn mình chồm dậy và chạy. Chạy như gió cuốn, chạy như bay. Hổ thấy
thỏ chạy thì cản đường hỏi tại sao thỏ chạy. Thỏ trợn mắt nói:

Để cười ha ha cá sấu phải ngoác miệng ra, thế là lập tức thỏ nhảy tót ra khỏi mệng cá sấu và quay lại dạy cá
sấu rằng:
- Này thằng cá sấu ngu ngốc kia Nghe đây Từ nay trong miệng đang ngậm mồi thì chớ có cười ha ha
nghe không
Dứt lời thỏ chạy vào rừng.
Một lần có người muốn thử tài của thỏ, bèn đưa cho thỏ một cái đơn kiện vô cùng tối nghĩa. Đơn viết rằng:
"Cách đây ít lâu, có người lấy trộm của tôi một con trâu. Không phải trâu đực cũng không phải trâu cái.
Không phải năm ngoái cũng không phải năm nay, người lấy không phải họ hàng, cũng không phải người
ngoài".
Thỏ chuyển đơn kiện lên các quan, các quan đều ngơ ngác chẳng thể nào hiểu được lá đơn kiện nói gì, phải
nhờ thỏ giảng giải rằng:
- Vụ mất xảy ra vào đêm ba mươi Tết. Vì đêm đó có thể gọi là đêm cuối cùng của năm ngoái, nhưng cũng
có thể coi là ngày đầu tiên của năm nay. Còn con trâu bị mất trộm không phải là trâu đực cũng không phải
là trâu cái chỉ có thể là trâu thiến. Mà kẻ lấy trộm dứt khoát là thằng rể. Vì chỉ có thằng rể mới không phải
là người trong nhưng lại không phải là người ngoài họ.
Nghe thỏ giải thích các quan toà đề phải kính phục. Lúc đó, quan toà đang đau đầu về một vụ kiện không
cách nào xử được, vội xin thỏ xử giùm. Vụ kiện đầu đuôi như sau:
Có một người cưới vợ. Anh ta yêu quý vợ đến nỗi suốt ngày chẳng muốn rời nửa bước. Nhưng rồi đến buổi
loạn ly anh phải đăng lính, không đi không được. Người vợ tiễn chồng đi hết đường này đến đường khác
không nỡ rời tay. Đến mãi gốc cây đa kia, người chồng mới dừng lại tâm sự biết bao nhiêu điều, mãi đến
khi trống thúc quân vang dậy, loa thét động trời, người chồng mới đành dứt áo ra đi. Không ngờ ở gốc đa
có một con yêu tinh. Nó nghe hết mọi điều tâm sự của hai vợ chồng, lại thấy người vợ xinh đẹp, nó đành
nghĩ ra một kế độc. Vài hôm sau nó bèn giả dạng thành người chồng vác gươm, giáo về quê hương nói rằng
vua không bắt lính nữa. Vì biết tất cả mọi điều riêng tư của hai người nên con yêu tinh làm cho người vợ cứ
yên trí đây là chồng mình thật không một chút nghi ngờ gì.
Người chồng sau một thời gian chinh chiến được hồi hương, anh mừng lắm vội vã về nhà đập cửa gọi vợ.
Người vợ mở cửa thì thấy lạ quá, ngoài cửa cũng là chồng mình. Người chồng trong nhà quát hỏi người
chồng ngoài cửa rằng:
- Mày ở đâu mà dám giả dạng là tao để nhận xằng vợ tao.
Người chồng mới về uất ức vặn lại:

Nhưng lạ thay, đã mười tháng mà chưa chuyển dạ. Rồi hai năm qua, ba năm trôi qua. Hai vợ chồng rất lo
sợ, buồn phiền.
Rồi cũng đến ngày bà chuyển dạ. Bà sinh ra một bé gái chỉ bằng ngón tay út. Hai vợ chồng nhìn con mà
lòng đau như cắt. Tuy nhiên, họ cũng hy vọng rồi đứa bé sẽ lớn dần.
Hai vợ chồng đặt tên cho con gái là Ka Điêng. Từ ngày sinh Ka Điêng, hai vợ chồng ít đi thăm bà con hàng
xóm. Họ thấy tủi hổ về đứa con quái dị.
Thấm thoắt đã được mười sáu năm, đứa bé vẫn không lớn lên thêm được tí nào, nhưng cũng biết nói, biết đi
như người thường. Hai vợ chồng già ngày càng buồn chán và lo sợ. Họ càng than phiền về số phận hẩm hiu
của mình.
Rồi một hôm, hai vợ chồng to nhỏ bàn với nhau tìm cách bỏ chết đứa bé. Người chồng trước mặt vợ thì
thuần tình đem đứa bé bỏ vào rừng sâu, gửi nó cho thú dữ, nhưng khi nhìn lại đứa con ruột thịt thì không
nỡ lòng.
Đêm hôm ấy, người chồng lén sắp cơm gạo, mắm muối đủ chừng một tháng. Sáng hôm sau ông gạt nước
mắt bồng con gái vào rừng, cùng với số lượng đồ dự trữ hồi đêm ông đã dấu ngoài bụi. Vào đến rừng sâu,
ông chặt cây làm một cái chòi nhỏ. Dựng xong chiếc chòi thì trời đã quá trưa. Ông lấy gói cơm mở ra rồi
hai cha con cùng ăn. Đang ăn. Ka Điêng thấy cha tự dưng nước mắt chảy ròng bèn hỏi:
- Ơ kìa, tại sao cha lại khóc, hay cha sợ thú rừng?
Người cha nhìn con ngậm ngùi rằng:
- Cha không sợ thú rừng đâu con ạ! Cha khóc vì một lát nữa hai cha con sẽ tạm xa nhau. Mẹ con từ khi sinh
con đến nay đã mười sáu năm, nhưng không lúc nào được khuây khoả, vì con không được như những đứa
con hàng xóm, mặc dù cha mẹ đã hết lòng chăm sóc con. Cha mẹ nghĩ không nở tâm, nhưng không còn
cách nào hơn. Nay cha dựng cho con cái chòi này, cùng miếng rẫy kia, để con trồng dưa sống tạm qua
ngày. Thỉnh thoảng cha sẽ đến thăm con. Cha cầu trời phù hộ cho con được an lành, thoát khỏi các tai hoạ.
Nàng Ka Điêng nghe cha nói vậy cũng mủi lòng. Thế rồi hai cha con ngậm ngùi chia tay.
Từ khi đem con vào rừng sâu, thỉnh thoảng cha nàng lại ghé thăm và chăm sóc đám dưa dùm Ka Điêng.
Với ngày tháng, Ka Điêng vẫn sống bình thường, rẫy dưa hấu ngày một tốt tươi và ra hoa kết quả.
Một hôm, có một hoàng tử dẫn đoàn quân đi săn bắn. Khi trở về, đoàn quân đi qua đám dưa của nàng Ka
Điêng. Đoàn quân lấy làm lạ không hiểu tại sao giữa nơi rừng sâu này lại có trơ trọi mỗi rẫy dưa. Họ muốn
ghé vào hái ăn. Nhưng thấy vắng chủ, bèn đến trình hoàng tử, và xin vào hái trái ăn đỡ khát. Nghe nói có
rẫy dưa hấu tốt quả ở chốn rừng sâu, hoàng tử đích thân vào đám dưa xem thử chủ rẫy là ai. Hoàng tử nhìn

Nàng Ka Điêng lấy làm cảm động bởi những lời lẽ chân tình của chàng, nên bằng lòng chấp nhận cuộc kết
nghĩatrăm năm. Hai người nên vợ nên chồng từ đó.
Việc hoàng tử lấy một người vợ vô cùng nhỏ bé dần dần đã đến tai vua cha và hoàng hậu, cùng hai người
anh.
Một hôm, hai người anh vào tâu vua cha để tìm cách ly gián hoàng tử với nàng Ka Điêng, vì cho rằng Ka
Điêng là một yêu quái hiện hình, dùng tà thuật mê hoặc em mình, biết đâu chẳng có ngày nó lại làm đổ
triều chính gia phong.
Nghe hai hoàng tử nói có lý, một hôm nhà vua cho gọi cả ba con trai lại, rồi truyền rằng:
- Ta truyền cho các con, nội trong bảy hôm, các con hãy dẫn đến cho ta nhìn mặt ba nàng dâu cùng với lễ
vật. Mỗi người con dâu phải mang cho ta một bộ y phục, gồm đầy đủ hia mũ, áo quần, cùng quà bánh. Nếu
lễ vật của ai vừa ý ta thì sẽ nhường ngôi, nhưng nếu ai không tuân lệnh thì sẽ bị nghiêm trị không dung thứ.
Hoàng tử út nghe lệnh vua ban khắc khe như vậy thì rất lo sợ. Chàng lấy làm chán nản không muốn trở lại
chòi tranh, nhưng lại nhớ đến đứa bé và người vợ, nên đành quay gót trở về.
Nàng Ka Điêng thấy chồng trở về với bộ mặt lo buồn, thì hỏi:
- Hình như chàng có điều gì sầu muộn, chẳng hay tại triều nội có việc gì? Chàng có thể cho em biết được
chăng?
Hoàng tử bèn thuật lại cho vợ nghe những điều mà vua cha vừa ban. Nghe xong câu chuyện, nàng Ka
Điêng mỉm cười với chồng:
- Xin chàng đừng buồn, em sẽ lo liệu mọi việc chu toàn. Xin chàng chớ bận tâm về những chuyện nhỏ mọn
ấy.
Hoàng tử nghe nàng nói mà lòng vẫn hồ nghi, nhưng không còn cách nào khác, nên cũng yên lòng chờ
xem.
Sắp đến ngày hẹn mà vẫn chưa thấy vợ sắm sửa được gì, hoàng tử càng sốt ruột. Nàng Ka Điêng thấy
chồng không được bình tâm chỉ cười mà không nói gì, nên chàng càng thêm lo lắng.
Đến ngày hẹn, hoàng tử vô cùng bối rối, lo nghĩ. Chàng định nói với vợ về những lo lắng của mình, thì
bỗng trong chớp mắt hiện lên một người con gái vô cùng xinh đẹp đứng mỉm cười trước mặt chàng. Nàng
Ka Điêng đã hiện nguyên hình. Nàng cười nói với hoàng tử:
- Chàng không nhận ra em ư? Em là Ka Điêng vợ chàng đây. Chúng ta hãy sớm lên đường về kinh kẻo
muộn, phiền đến vua cha cùng các anh trông đợi.
Lúc bấy giờ hoàng tử vẫn chưa hế ngạc nhiên, nhưng cũng rất sung sướng. Hai vợ chồng vội vàng sắm sửa

vai bác khoác chiếc áo đi mưa, chân bác đi đôi giầy ủng kỵ mã bằng da trâu, tất cả của cải chỉ còn lại có
thế.
Một hôm, bác cứ đi thẳng cánh đồng, đi miết chẳng để ý gì đến đường đất, đi mãi đến một khu rừng. Bác
không biết mình ở đâu, chỉ thấy có một người đang ngồi trên một gốc cây đã đẵn. Người ấy ăn mặc sang
trọng, mặc bộ đồ đi săn màu xanh. Bác chìa tay ra bắt, ngồi xuống cỏ bên người ấy và duỗi chân ra. Bác
bảo người đi săn:
- Tôi thấy đôi giầy ủng của ông quả là đẹp, đánh bóng nhoáng. Nhưng ông phải đi đây đi đó nhiều như tôi
thì chẳng được mấy của nả. Ông cứ xem ủng của tôi bằng da trâu, ròng rã lâu rồi mà chỗ nào cũng đi qua
được đấy.
Một lúc sau, bác lính đứng dậy bảo:
- Tôi không ở lâu hơn được nữa, cái đói nó thúc tôi đi. Này ông anh có đôi giầy ủng bóng ơi, đường này đi
đâu ấy nhỉ?
Người đi săn đáp:
- Chính tôi cũng không biết bác ạ. Tôi lạc trong rừng.
Bác lính nói:
- Thì ra anh cũng như tôi. Những người cùng cảnh ngộ thường hay kết bạn với nhau. Thôi ta ở sát cánh với
nhau, cùng nhau đi mãi cho đến đêm.
Bác lính lại nói:
- Ta không ra khỏi rừng được, nhưng tôi thấy ở đằng xa có ánh đèn le lói, có thể tìm cái gì ăn được đấy.
Họ tìm ra một chiếc nhà bằng đá. Gõ cửa thì có một bà già ra mở. Bác lính bảo:
- Chúng tôi tìm chỗ ngủ đêm, muốn kiếm chút gì ăn cho đỡ đói, vì bụng đã lép kẹp như chiếc bị nát.
Bà già đáp:
- Các bác không ở đây được đâu. Đây là nhà bọn cướp, khôn hồn thì các bác cao chạy xa bay trước khi
chúng về, kẻo chúng mà thấy thì đi đời.
Bác lính đáp:
- Thì cũng đến thế mà thôi. Đã hai hôm nay, chưa được miếng nào, bị giết ở đây hay chết đói trong rừng thì
cũng như nhau. Thôi tôi cứ vào.
Người đi săn không muốn theo vào nhưng bác lính cứ cầm tay kéo vào.
- Anh bạn nối khố ơi. Cứ vào đây, chắc đâu đã toi mạng ngay.
Bà già thương hại dặn họ:

- Chúng bay sẽ sống hết, nhưng mồm há hốc ra, tay phải giơ lên không.
Rồi bác tu một hơi ra trò. Bác nói chưa dứt lời thì cả bọn cướp ngồi đờ ra như tượng đá,
mồm há hốc, tay phải giơ lên không. Người đi săn bảo bác lính:
- Rõ rồi, đúng là anh còn nhiều thuật lạ. nhưng thôi ta về nhà đi.
- Ấy ấy. Ông bạn nối khố của tôi ơi, làm gì mà đi sớm quá thế.
Ta đã đánh bại được kẻ thù rồi thì cũng phải vơ vét một chuyến đã chứ. Bạn chúng ngồi đực ra kia, mồm há
hốc vì kinh ngạc. Nhưng chúng không dám nhúc nhích cho đến khi tôi cho phép. Ta lại đây đánh chén đi.
Bà già lại phải đi lấy một chai rượu loại ngon nhất nữa. Bác lính đánh chén đủ no đến ba ngày rồi mới chịu
đứng dậy. Mãi đến lúc trời sáng, bác mới nói:
- Giờ đã đến lúc ta nhổ trại. Bà già phải chỉ đường gần nhất ra tỉnh để ta đi cho chóng.
Khi hai người ra đến tỉnh, bác lính đi gặp bạn đồng đội cũ bảo:
- Tôi tìm thấy trong rừng một ổ toàn đồ chết treo. Ta hãy đến quét sạch nó đi!
Bác lính đi đầu, dẫn họ và bảo người đi săn:
- Anh phải trở lại xem khi bọn mình tóm cẳng chúng rồi, chúng sẽ đú đởn như thế nào.
Bác bố trí cho cả bọn đứng quanh lũ cướp rồi bác cầm chai rượu uống một hơi, vung chai trên đầu chúng,
kêu:
- Tất cả chúng bay phải sống!
Ngay lúc đó, chúng lại cử động, nhưng chúng bị quật xuống, chân tay bị trói lại. Rồi bác lính bảo ném
chúng như ném bị lên một chiếc xe.
- Hãy chở chúng đến nhà tù ngay đi.
Người đi săn gọi riêng một người trong bọn ra và giao làm một việc. Bác lính bảo:
- Này ông anh giầy ủng bóng, chúng ta may mắn đã tóm gọn được bọn cướp và ăn uống thỏa thuê. Giờ ta
lại cứ bình tĩnh mà đóng cái vai trò lính bị tụt hậu, lẽo đẽo theo sau.
Gần đến tỉnh, bác thấy cổng thành người xúm đông chen chúc nhau, tiếng reo vui mừng, người ta vung vẩy
cành lá xanh. Bác lại thấy cả đội quân cận vệ tiến đến. Bác ngạc nhiên lắm, hỏi người đi săn:
- Thế là nghĩa lý gì?
Người kia đáp:
- Thế anh không biết là vua đi xa nước đã lâu, ngày hôm nay trở về, nên thiên hạ đi đón à?
Bác lính hỏi:
- Thế vua đâu mà tôi không thấy!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status