1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐOÀN THỊ BÍCH THỦY NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG LÀNG CƯỜI
DƯỚI GÓC ĐỘ NHÂN HỌC VĂN HÓA
(TRƯỜNG HỢP LÀNG CƯỜI VĂN LANG, PHÚ THỌ) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60.22.36
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Chí Quế Hà Nội – 2012
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………
1
1. Lí do chọn đề tài …………………………………………
2. Lịch sử vấn đề …………………………………………………
3. Mục đích, ý nghĩa của đề tài …………………………………
4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………
5. Bố cục luận văn …………………………………………………
1
4
7
8
10
PHẦN NỘI DUNG …………………………………………………
11
ở làng cười Văn Lang
2.2. Hiện tượng làng cười trên thế giới và ở Việt Nam
23
25
4
2.3. Nghiên cứu hiện tượng làng cười Văn Lang dưới góc độ Nhân học
văn hóa
2.3.1. Lịch sử làng cười Văn Lang
2.3.2. Đời sống lao động và sinh hoạt của con người làng cười Văn
Lang
2.3.3. Niềm tin và tín ngưỡng của cộng đồng làng cười Văn Lang 30
30
38
50
CHƯƠNG 3: SO SÁNH LÀNG CƯỜI VĂN LANG VỚI CÁC LÀNG
CƯỜI KHÁC TRÊN CẢ NƯỚC
61
3.1. Các làng cười ở Bắc Ninh, Bắc Giang
3.1.1. Các làng nói khoác, nói khoe
3.1.2. Các làng nói tức, nói giễu
3.2. Làng trạng Vĩnh Hoàng, Quảng Trị
3.3. So sánh làng cười Văn Lang với các làng cười khác trên cả nước
3.3.1. Những điểm tương đồng giữa làng cười Văn Lang với các làng
1. Lý do chọn đề tài.
Người Việt Nam, với bản chất của những cư dân nông nghiệp được
sinh sống trong nền văn minh lúa nước nên có bản tính rất tự nhiên, thân
thiện, yêu thích sự thoải mái, vui vẻ. Những người nước ngoài khi sang Việt
Nam đều có chung nhận xét rằng người Việt vô cùng mến khách, hay nói,
hay cười. Sự hài hước, dí dỏm trong lối nói, lối nghĩ, trong cách giao tiếp,
ứng xử hàng ngày đã trở thành một nét truyền thống thú vị của người Việt
Nam.
Nhìn vào kho tàng văn học dân gian nước ta, chúng ta sẽ dễ dàng
nhận thấy sự phát triển rất phong phú của các câu chuyện tiếu lâm vui vẻ,
của các nhân vật trạng thông minh hài hước và rất nhiều những câu nói ví
von bông đùa dí dỏm. Khi cuộc sống của các cư dân trồng lúa nước còn
nhiều những bấp bênh, vất vả, một nắng hai sương thì tiếng cười đã trở
thành đôi cánh nâng họ lên trên cuộc sống, mang lại cho họ những niềm vui
và niềm tin để lao động, để làm ăn sinh sống. Chả thế mà người Việt vẫn
nhắc nhau “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”.
Không chỉ có giá trị trong quá khứ mà cho đến tận ngày nay và mãi
mãi về sau này, dù ở thời đại nào, xã hội nào, con người cũng sẽ luôn tìm
đến tiếng cười như một hình thức giải trí tự nhiên, sống động. Ở góc độ cá
nhân tác giả, người viết cũng rất yêu thích các câu chuyện dí dỏm, vui vẻ
cũng như lối tư duy hài hước, lạc quan. Đó cũng là một cách nhìn cuộc sống
rất nhân văn và tích cực.
Đặc biệt, trong kho tàng tiếng cười của Việt Nam có một hiện tượng
văn hóa dân gian tương đối độc đáo và vô cùng thú vị, đó là làng cười và hệ
6
thống các truyện cười của làng cười. Theo tác giả Bùi Xuân Đính thì “làng
là đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ
cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ (về cheo cưới, tang ma, khao vọng) thờ
cúng riêng, tâm lý tính cách riêng và cả “thổ ngữ” (tiếng làng) riêng, hoàn
học dân gian thuộc thể loại truyện cười. Còn điểm khác biệt là gì? Đây
chính là một câu hỏi thú vị đặt ra cho chúng tôi khi quyết định chọn đề tài
nghiên cứu này. Việc nghiên cứu hệ thống truyện cười của các làng cười rất
hứa hẹn sẽ đem lại cho chúng ta những điểm nhìn lý thú.
Hơn thế, làng cười là một hiện tượng văn hóa phức tạp hơn bản thân
mỗi truyện cười, vì làng cười là một tổng thể phức hợp của nhiều thành tố
văn hóa. Vì lẽ ấy, cần một công cụ lý thuyết để nghiên cứu mang tính tổng
hợp. Chính vì thế, chúng tôi đã quyết định sử dụng các lý thuyết của ngành
Nhân học văn hóa khi nghiên cứu hiện tượng làng cười bởi những đặc điểm
và phương pháp nghiên cứu của Nhân học văn hóa tỏ ra rất phù hợp khi
nghiên cứu các hiện tượng văn hóa dân gian nói chung và văn học dân gian
nói riêng.
Nhân học văn hóa là một ngành khoa học tổng hợp về con người,
nghiên cứu lịch sử văn hóa, xã hội loài người, dựa trên cơ sở coi văn hóa là
yếu tố tác động mạnh mẽ đến bản chất con người. Nói cách khác, đây là
ngành khoa học nghiên cứu về bản chất con người thông qua văn hóa.
Nhân học văn hóa được định nghĩa là khoa học nghiên cứu văn hóa,
xã hội của các dân tộc trên trái đất trên cơ sở coi văn hóa là yếu tố thuyết
minh sự tồn tại và phương thức hành động của con người, ảnh hưởng lớn
đến bản chất người, xã hội và lịch sử loài người, ba lĩnh vực đối tượng của
nhân học. Nhân học văn hóa nghiên cứu các nền văn hóa khác nhau để tìm
ra những nét phổ biến nhất của văn hóa loài người, nhưng mục đích cuối
cùng không phải là tìm hiểu văn hóa mà là bản chất con người được phản
8
ánh qua văn hóa, giải đáp cho câu hỏi đã, đang và sẽ còn đeo đuổi loài
người mãi mãi, đó là “con người là gì?”.
Hiện nay, Nhân học văn hóa đã trở thành một ngành khoa học tương
đối phổ biến ở Việt Nam, và việc ứng dụng ngành khoa học này vào nghiên
cứu các hiện tượng văn hóa nói chung đã có những thành tựu nhất định. Tuy
khách quan. Điều này có lẽ cũng xuất phát từ tâm lý tự hào của chính tác giả
khi ông cũng là một người con của làng cười này. Bên cạnh đó, những nhận
xét về nội dung của các truyện cười ở mảng các truyện cười phê phán, đả
kích các thế lực phong kiến và thực dân, tác giả viết trên tinh thần của
phương pháp xã hội học và mang nặng tính chính trị.
- Thứ hai là cuốn sách Làng cười xứ Bắc của tác giả Trần Quốc
Thịnh sưu tầm và biên soạn (xuất bản năm 1988 tại Sở Văn hóa thông tin
Hà Bắc). Trong cuốn sách này, Trần Quốc Thịnh đã sưu tầm một cách có hệ
thống các truyện cười của 14 làng cười nổi tiếng ở Hà Bắc xưa và hiện nay
các làng cười này nằm trên địa phận hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tác
giả cũng đưa ra những nét giới thiệu sơ lược về tên làng và những đặc điểm
thổ nhưỡng, dân cư, đời sống làm ăn đặc trưng nhất cũng như những nét tiêu
biểu nhất trong tiếng cười của mỗi làng. Mặc dù phần nghiên cứu đánh giá
của công trình này không nhiều và nội dung cũng khá đơn giản, chỉ dừng lại
ở việc ghi chép, nhưng những tư liệu mà Trần Quốc Thịnh cung cấp trong
cuốn sách cũng rất hữu ích với việc nghiên cứu của chúng tôi.
- Thứ ba là cuốn sách Chuyện trạng Vĩnh Hoàng do nhà nghiên cứu
Võ Xuân Trang sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn (được xuất bản năm 1984
tại Sở Văn hóa và thông tin tỉnh Bình Trị Thiên). Cũng như hai cuốn sách
sưu tầm và biên soạn về làng cười kể trên, cuốn sách này cũng gồm có phần
nhận xét, nghiên cứu và phần sưu tầm các truyện trạng ở làng trạng Vĩnh
Hoàng. Chúng tôi đánh giá cao tính khoa học trong các nghiên cứu của cuốn
sách này, tuy nhiên những nghiên cứu này lại chủ yếu chỉ ra những nét độc
10
đáo riêng của truyện trạng Vĩnh Hoàng và các nội dung mà truyện trạng ở
đây phản ánh. Nghĩa là chưa chỉ ra được bản chất của tính cách và tâm lý
cộng đồng của cư dân ở đây, những chủ thể đã sáng tác ra các truyện trạng
này.
- Thứ tư là luận án Tiến sỹ Văn học Truyện kể dân gian trong không
- Ở mảng các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian nói chung và
văn học dân gian nói riêng dưới góc độ nhân học văn hóa, ngoài một số bài
viết nhỏ lẻ, chúng ta có thể kể đến một công trình khá tiêu biểu là Luận án
tiến sỹ nhân học văn hóa Ngôn ngữ biểu tượng trong đời sống văn hóa của
người Cơtu của tác giả Đinh Hồng Hải. Trong công trình khoa học của
mình, tác giả Đinh Hồng Hải đã sử dụng cách tiếp cận của nhân học biểu
tượng để nghiên cứu và phân tích những biểu tượng cốt lõi trong đời sống
văn hóa của người Cơtu. Bên cạnh đó, luận án cũng nghiên cứu ý nghĩa của
các thành tố cơ bản của văn hóa Cơtu, các ngôn ngữ biểu tượng như ngôn
ngữ hình học, ngôn ngữ hình tượng trong văn hóa Cơtu và những biến đổi
văn hóa thể hiện qua việc nghiên cứu các biểu tượng của người Cơtu.
Đây là công trình đầu tiên tiếp cận nhân học biểu tượng và cũng là
một luận án đầu tiên sử dụng nhân học biểu tượng để nghiên cứu văn hóa
tộc người ở Việt Nam, do đó cách tiếp cận và hướng nghiên cứu của luận án
này đã tạo những hướng đi rất đáng học hỏi cho công trình nghiên cứu của
chúng tôi khi sử dụng phương pháp tiếp cận của nhân học văn hóa để nghiên
cứu hiện tượng các làng cười và hệ thống truyện cười của các làng cười này
ở Việt Nam.
3. Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
Việc sử dụng cách tiếp cận nhân học văn hóa của chúng tôi trong
công trình này nhằm hướng đến mục đích tìm hiểu về bản chất con người
12
của các cộng đồng cư dân sinh sống tại những làng cười thông qua cách họ
phản ánh thế giới, phản ánh thiên nhiên và phản ánh chính cuộc sống của họ
trong những truyện cười của mình. Mỗi hiện tượng văn hóa nói chung và
văn hóa dân gian nói riêng đều hình thành và phát triển trong một môi
trường văn hóa nhất định, và ẩn sâu dưới các lớp văn hóa đó lại là tâm lý,
tính cách và đời sống của những chủ thể đã sản sinh ra nó. Mục đích của các
Lang, đời sống lao động và sinh hoạt của con người làng cười Văn Lang và
cuối cùng là về niềm tin và tín ngưỡng của cộng đồng làng cười Văn Lang.
Qua các nghiên cứu cụ thể này, chúng tôi sẽ mở rộng việc so sánh
các truyện cười và làng cười Văn Lang với các truyện cười và những làng
cười khác trên cả nước, để từ đó thấy được những đặc điểm nhân học văn
hóa nổi bật, đặc trưng của các làng cười Việt Nam. Cũng thông qua việc so
sánh này, chúng tôi sẽ chỉ ra những đặc điểm riêng biệt mang tính cộng
đồng địa phương của mỗi làng cười, cụm làng cười.
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Để phân tích hệ thống truyện cười của các làng cười nói chung và
đặc biệt là của làng cười Văn Lang nói riêng, phương pháp đầu tiên chúng
tôi sẽ áp dụng là phương pháp phân tích tác phẩm và đặc trưng thể loại.
Mặt khác, do những tác phẩm và thể loại này gắn với một hiện
tượng văn hóa độc đáo là làng cười nên khi sử dụng cách tiếp cận của Nhân
học văn hóa để nghiên cứu, chúng tôi cũng sẽ ứng dụng những phương
pháp đặc trưng nhất của ngành khoa học này vào công trình nghiên cứu này
của mình. Đó là:
- Phương pháp Quan sát tham gia – phương pháp đặc trưng của
Nhân học văn hóa.
- Phương pháp tiếp cận toàn diện tổng thể trên cơ sở lập trường của
Chủ nghĩa văn hóa tương đối.
14
Ngoài ra, một phương pháp quan trọng khác chúng tôi sẽ sử dụng
trong nghiêu cứu này là phương pháp nghiên cứu so sánh văn hóa.
5. Bố cục luận văn.
Luận văn, với đề tài Nghiên cứu hiện tượng làng cười dưới góc độ
nhân học văn hóa (trường hợp làng cười Văn Lang, Phú Thọ), ngoài
phần mở đầu và kết luận, nội dung chính gồm ba chương như sau:
Tóm lại, Nhân học một là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất
con người trên các phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm
người, các cộng đồng dân tộc khác nhau, cả về quá khứ con người cho tới
hiện nay.
Khoa học về con người, nghiên cứu về bản chất con người, xã hội
loài người và lịch sử loài người, cơ bản gồm hai lĩnh vực chính. Một là
nghiên cứu con người về mặt tự nhiên gọi là Nhân học tự nhiên và một
nghiên cứu con người về mặt văn hóa xã hội. Lĩnh vực thứ hai này được gọi
bằng nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mỗi trường phái nghiên cứu: trường
phái Đức – Áo gọi đây là Dân tộc học (ethnology), trường phái Anh gọi là
16
Nhân học xã hội (social anthropology) và trường phái Mỹ gọi là Nhân học
văn hóa (cultural anthropology).
Như vậy là khái niệm Nhân học văn hóa xuất hiện và được phổ biến
nhờ các nhà nghiên cứu theo trường phái Mỹ. Thực tế, trường phái Mỹ phân
loại nhân học thành bốn lĩnh vực là Nhân học tự nhiên, Nhân học văn hóa,
Khảo cổ học và Nhân học ngôn ngữ.
Nhân học tự nhiên (physical anthropology) dựa vào các đặc trưng
của cơ thể như màu da, màu mắt, màu tóc, hình dáng, tỷ lệ, kích thước của
các bộ phận cơ thể như chiều cao, nhóm máu để so sánh và phân loại nhân
chủng, khảo sát mối quan hệ hệ thống giữa nhân chủng, phân tích những
biến đổi đặc tính di truyền và chức năng do ảnh hưởng của môi trường.
Nhân học tự nhiên nghiên cứu loài người ở khía cạnh sinh học, chú trọng
vào các mặt tiến hóa, biến dị, thích nghi, vì thế rất gần gũi, thậm chí có
phần giao thoa với các ngành như sinh vật, y học, và gần đây tiếp cận với cả
sinh thái học. Có thể nói, Nhân học tự nhiên liên quan sâu xa với thuyết tiến
hóa, còn về mặt chuyên môn nó gần gũi với khảo cổ học.
Khảo cổ học (prehistoric archaeology) là ngành khai quật các di
tích để nghiên cứu thời đại tiền sử, điều tra xã hội và văn hóa quá khứ thông
Như vậy là, Nhân học văn hóa nghiên cứu các nền văn hóa khác
nhau để tìm ra những nét phổ biến nhất của văn hóa loài người, nhưng mục
đích cuối cùng không phải là tìm hiểu văn hóa mà là bản chất con người
được phản ánh qua văn hóa, giải đáp cho câu hỏi đã, đang và sẽ còn đeo
đuổi loài người mãi mãi, đó là “con người là gì?”. Trong cuốn sách Giới
thiệu Nhân học văn hóa, Lowie đã đưa ra định nghĩa “Mục tiêu chung của
nghiên cứu nhân học là để hiểu toàn bộ nền văn hóa mọi thời đại và để tìm
hiểu mỗi thành phần nhỏ bé trong mối liên hệ với tổng thể” [20, 8].
18
Đi ngược trở lại lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học
này, chúng ta sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về vai trò và ý nghĩa của Nhân học
văn hóa. Nguồn gốc hình thành Nhân học văn hóa là từ triết lý “hiểu người
biết ta” của các nhà khoa học châu Âu từ thế kỷ XII, XIII. Lúc này, kỹ thuật
đường thủy phát triển và các nhà thám hiểm châu Âu đã chinh phục được
nhiều vùng đất mới ngoài châu Âu, đặc biệt thế kỷ XV, Columbus đã phát
hiện ra châu Mỹ. Những đoàn thám hiểm này đã mang về cho người châu
Âu rất nhiều thông tin cụ thể về những vùng đất hoàn toàn mới lạ trong hiểu
biết vốn có của họ.
Chính những cuộc gặp gỡ với các dân tộc “khác ta” đó đã đặt ra cho
người châu Âu câu hỏi “Con người là gì?” và người ta đã tìm câu trả lời
bằng việc nghiên cứu những nền văn hóa của các vùng đất và các dân tộc
ngoài châu Âu mà họ cho rằng đó chính là hình ảnh nguồn gốc cổ xưa của
loài người. Trên thực tế, những nhà nghiên cứu châu Âu đã nhận thức sai
lệch về các nền văn hóa bản địa khi cho rằng đó là những nền “văn hóa bán
khai”, nhưng dù sao, việc nghiên cứu về các nền văn hóa của con người ở
các vùng đất mới đã tạo tiền đề cho ngành Nhân học văn hóa sau này.
Nhân học văn hóa dần dà được hình thành cho đến giữa thế kỷ XIX
nhưng việc nghiên cứu những nền văn hóa “khác ta” lại chủ yếu xuất phát
từ những nghiên cứu lịch sử tự nhiên. Trong thời kỳ này, tác phẩm Nguồn
Tổng quát lại, Nhân học văn hóa là một ngành khoa học tổng hợp về
con người, nghiên cứu lịch sử văn hóa, xã hội loài người, dựa trên cơ sở coi
văn hóa là yếu tố tác động mạnh mẽ đến bản chất con người. Nói cách khác,
đây là ngành khoa học nghiên cứu về bản chất con người thông qua văn
hóa.
1.1.2. Phương pháp nghiên cứu của Nhân học văn hóa.
20
Tính tổng hợp của Nhân học văn hóa không chỉ thể hiện ở nội dung
bao hàm các lĩnh vực rộng lớn mà nó quan tâm nghiên cứu mà còn thể hiện
ở cách tiếp cận tổng thể trong các phương pháp nghiên cứu của ngành khoa
học này. Dưới đây là những phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất của
Nhân học văn hóa:
1.1.2.1. Quan sát tham gia – phương pháp đặc trưng của Nhân
học văn hóa.
Như đã trình bày ở phần trên, trong giai đoạn đầu các nhà nhân học
thường tiến hành nghiên cứu phân tích dựa trên cơ sở các tư liệu thu thập
được từ các nhà thám hiểm nên những nghiên cứu của họ không mang tính
thực chứng và bị các nhà khoa học về sau chỉ trích đó là thứ triết học ghế
bành.
Để khắc phục nhược điểm này, các nhà Nhân học văn hóa đã đề ra
phương pháp quan sát tham gia, nghĩa là tự mình phải đi điều tra thực địa và
phải tiến hành những cuộc điền dã dài ngày trong cuộc sống chung với
những người dân ở bản địa để thu được những tư liệu chi tiết và sống động.
Đặc tính quan trọng nhất của phương pháp quan sát tham gia là việc
cố gắng lý giải văn hóa từ góc độ “người nội bộ” của xã hội hay tập thể đối
tượng nghiên cứu. Với phương pháp này, nhà nghiên cứu, bằng mọi cách có
thể, tham gia vào mọi hoạt động sống của người dân rồi thông qua những
tộc, do đó, không phải sự phát triển cao – thấp mà là sự đa dạng, phong phú
vùng miền.
Cái cơ bản nhất trong cách tiếp cận theo Chủ nghĩa văn hóa tương
đối là quan niệm cho rằng không có thước đo giá trị duy nhất chung cho
mọi xã hội. Vì thế, để tránh sa vào chủ nghĩa văn hóa trung tâm, các nhà
nghiên cứu phải tuyệt đối tránh đưa ra những phán đoán giá trị dựa vào cách
22
nhìn và khung đánh giá của người ngoài cuộc đối với những tín ngưỡng và
tập quán văn hóa của người trong cuộc hay của đối tượng nghiên cứu. Bởi
vì, chỉ có thể giải thích đúng ý nghĩa của những kinh nghiệm con người trải
qua trong mối liên hệ với bối cảnh văn hóa, cơ sở chung của hành động
hoặc những phong tục tập quán, những chuẩn mực xã hội hàng ngày đã sản
sinh ra kinh nghiệm ấy.
Đây là một phương pháp tiếp cận rất có ý nghĩa với công trình
nghiên cứu hiện tượng làng cười dưới góc độ nhân học văn hóa trong
trường hợp làng cười Văn Lang, Phú Thọ của chúng tôi. Bởi lẽ khi tiếp cận
với các truyện cười ở Văn Lang, có một bộ phận lớn những chuyện có thể
bị đánh giá là “tục” nếu nhìn theo con mắt của các nhà đạo đức hoặc có
nhiều hành động, nhiều thói xấu có thể bị nhìn nhận là dã man dưới cái nhìn
của xã hội hiện đại. Nhưng chúng ta không thể lấy hệ giá trị của không gian
văn hóa này để áp đặt vào đánh giá không gian văn hóa khác. Đó là sự đa
dạng trong hệ giá trị văn hóa vùng miền chứ không phải sự phát triển cao –
thấp đi từ mông muội đến văn minh.
1.1.2.3. Phương pháp nghiên cứu so sánh văn hóa.
Khác với Nhân học tự nhiên, Nhân học văn hóa không thể sử dụng
những phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, vì vậy rất khó
điều chỉnh những biến cố và điều kiện. Tuy nhiên, để phần nào khống chế
được các điều kiện, có thể thay thế phương pháp thực nghiệm bằng phương
đặc trưng của các làng cười Việt Nam.
1.2. Khả năng ứng dụng của Nhân học văn hóa vào việc nghiên
cứu văn học dân gian.
Như chúng ta đã biết, “văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền
miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy, trải
24
qua các thời kỷ phát triển lâu dài trong các chế độ có giai cấp và tiếp tục tồn
tại trong thời đại hiện nay” [18, 7]. Văn học dân gian là một hình thái ý thức
xã hội và cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, văn học dân gian phát
sinh trong quá trình hoạt động sản xuất của con người. Trong giai đoạn phát
triển đầu tiên của lịch sử loài người, nghệ thuật nói chung và văn học không
tồn tại dưới dạng độc lập mà gắn bó và hầu như hòa làm một với các hoạt
động thực tiễn của con người. Văn học dân gian gắn bó chặt chẽ với mọi
mặt của đời sống sinh hoạt của nhân dân lao động và tham gia vào những
sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, một nhân tố cấu thành của sinh
hoạt đời sống đó.
Đời sống của văn học dân gian không phải là đời sống dưới hình
thức văn bản mà là cuộc sống gắn liền với một môi trường sinh hoạt nhất
định của văn học dân gian. Do đó đời sống của văn học dân gian được biểu
hiện ra thành vô số hình thức sinh hoạt, những hình thức sinh hoạt này cũng
phong phú, đa dạng như bản thân những hình thức sinh hoạt của đời sống
thực tiễn của con người. Vì lẽ ấy, hơn bất cứ loại hình văn học nào, văn học
dân gian là một loại hình “văn học sinh hoạt” [18, 19].
Điều này hình thành nên tính chất “nguyên hợp” của những tác
phẩm văn học dân gian. Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội
phức tạp và tính nguyên hợp của văn học dân gian có nguồn gốc và là biểu
hiện của sự nhân thức nguyên hợp của người nguyên thủy. Tác phẩm văn
học dân gian, ngoài giá trị tự thân về mặt văn học thì cũng không thể tách
tương đối, phương pháp nghiên cứu so sánh văn hóa đều rất hữu dụng với
việc nghiên cứu các tác phẩm văn học dân gian.
Hiện nay, Nhân học văn hóa không còn là một ngành khoa học xa lạ
ở Việt Nam, và việc ứng dụng ngành khoa học này vào nghiên cứu các hiện
tượng văn hóa nói chung cũng như văn hóa dân gian nói riêng đã có những