1
Mục lục
Mục lục 1
Tóm tắt 4
1 Giới thiệu 6
Lý do chọn đề tài 6 1.1
Mục tiêu nghiên cứu 7 1.2
Phương pháp và nội dung nghiên cứu 7 1.3
Đóng góp của đề tài 9 1.4
Bố cục bài nghiên cứu 9 1.5
Hạn chế của đề tài và hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo 10 1.6
2 Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá 12
Khung lý thuyết 12
2.1
2.1.1 Khái niệm cơ bản 12
2.1.2 Nghiên cứu lý thuyết 17
Bằng chứng thực nghiệm 22 2.2
3 Phương pháp nghiên cứu 29
Mô hình của động cơ chuyển giá (transfer pricing incentives) 29 3.1
Mô hình thực nghiệm và các biến số 35 3.2
3.2.1 Sự thay đổi giá chuyển giao báo cáo - P 35
3.2.2 Sự thay đổi động cơ chuyển giá - TPI 36
3.2.3 Sự thay đổi thu nhập bình quân đầu người - GDP/CAP 38
Phương pháp hồi quy 39 3.3
2
3.3.1 Một số vi phạm giả thuyết mô hình hồi quy truyền thống (OLS) 39
3.3.2 Phương pháp Mô-men tổng quát (GMM) 39
3.3.3 Điều chỉnh ma trận trọng số trong điều kiện phương sai thay đổi và tương
quan giữa các quan sát trong một quốc gia theo các năm 40
lệch so với giá theo nguyên tắc thị trường nhằm chuyển thu nhập từ nơi có thuế suất cao
đến nơi có thuế suất thấp, từ đó làm giảm gánh nặng thuế tổng thể của một công ty đa
quốc gia trên toàn cầu. Trong một nền kinh tế, chuyển giá là một vấn đề được quan tâm
bởi nhiều đối tượng, bao gồm các nhà hoạch định chính sách, cơ quan thuế, cơ quan ban
hành luật pháp cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp. Đặc biệt, vấn đề được quan tâm
hàng đầu đối với các cơ quan ban hành luật pháp cùng các nhà hoạch định chính sách là
tìm kiếm những bằng chứng về hành vi chuyển giá trong nền kinh tế. Bài nghiên cứu của
chúng tôi áp dụng mô hình động cơ chuyển giá của Swenson (2001) theo phương pháp
ước lượng Mô – men tổng quát (GMM) để xem xét tác động của thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu lên việc định giá chuyển giao của các công ty
đa quốc gia có hoạt động tại Việt Nam từ năm 2008 – 2013 trong 10 nhóm mặt hàng: Ô
tô nguyên chiếc các loại; Cao su; Chất dẻo nguyên liệu; Giấy các loại; Sắt thép các loại;
Phân bón các loại; Kim loại thường khác; Xăng dầu các loại; Xơ sợi dệt các loại; Bông
các loại. Nhóm tác giả thu được những kết quả chính như sau:
- Ước lượng được tính toán dựa trên việc nhóm chung tất cả các quan sát theo năm
đối với từng quốc gia trong từng nhóm mặt hàng xem xét (mẫu tổng thể) cho thấy một
mối quan hệ đồng biến giữa sự thay đổi động cơ chuyển giá và sự thay đổi giá chuyển
giao báo cáo. Kết quả này cho thấy rằng nhìn chung tổng thể 10 nhóm mặt hàng được
xem xét, một sự tăng lên trong thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam cũng
như một giảm xuống thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở quốc gia công ty mẹ đặt trụ
sở hoặc một sự giảm sút trong thuế suất thuế nhập khẩu tại Việt Nam sẽ làm gia tăng mức
giá chuyển giao báo cáo mà công ty mẹ áp dụng cho các giao dịch đối với công ty con.
- Kết quả ước lượng theo phương pháp Mô – men tổng quát đối với các quan sát
quốc gia – năm cho riêng từng nhóm mặt hàng cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa sự
thay đổi động cơ chuyển giá và sự thay đổi giá chuyển giao báo cáo ở tất cả các nhóm
mặt hàng, ngoại trừ nhóm mặt hàng Ô tô nguyên chiếc các loại.
5
Một sự giải thích chi tiết hơn những kết quả trên sẽ được trình bày trong chương Kết quả
và thảo luận.
7
chúng tôi tiến hành thực hiện bài nghiên cứu về hành vi chuyển giá ở mức độ các nhóm
mặt hàng dựa trên nền tảng mô hình lý thuyết của Deborah L. Swenson (2001) với mong
muốn tìm ra bằng chứng thực nghiệm về hành vi chuyển giá một cách khách quan thông
qua phân tích định lượng, từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm tránh thất thoát
nguồn thu thuế của quốc gia.
Mục tiêu nghiên cứu 1.2
Phần lớn các bài nghiên cứu về hành vi chuyển giá thường tiến hành điều tra ở mức độ
công ty và sử dụng mức giá chuyển giao báo cáo của từng công ty để nghiên cứu. Tuy
nhiên, những số liệu này là không thể thu thập tại Việt Nam nên bài nghiên cứu của nhóm
tác giả được thực hiện với mục tiêu tìm ra bằng chứng thực nghiệm về hành vi chuyển giá
tại Việt Nam ở mức độ các nhóm mặt hàng nhập khẩu chủ yếu. Để làm rõ vấn đề này, bài
nghiên cứu lần lượt xem xét các vấn đề sau:
- Đưa ra định nghĩa và phương thức thực hiện hành vi chuyển giá của các công ty con có
nguồn vốn đầu tư FDI tại Việt Nam.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức giá chuyển giao báo cáo thông qua mô hình lý
thuyết.
- Tìm kiếm mối liên hệ thực tế giữa mức giá chuyển giao báo cáo ở mức độ nhóm mặt
hàng với chênh lệch thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa Việt Nam và quốc gia
xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam; cũng như với mức thuế suất thuế nhập khẩu của các
nhóm mặt hàng được nghiên cứu tại Việt Nam.
Phương pháp và nội dung nghiên cứu 1.3
Để tiến hành xem xét tác động của những thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
tại Việt Nam cũng như tại quốc gia mà công ty đa quốc gia đặt trụ sở và thuế suất thuế
nhập khẩu tại Việt Nam lên giá chuyển giao báo cáo P
R
của các công ty, nhóm tác giả
tiến hành hồi quy sự thay đổi trong giá báo cáo P
R
từng nhóm mặt hàng.
- Mức thuế suất thuế nhập khẩu của từng nhóm mặt hàng nghiên cứu được thu thập từ
Biểu thuế trích từ các thông tư, quyết định điều chỉnh các hiệp định thương mại CEPT,
ATIGA, ACFTA, AKFTA, AJCEP, VJCEP, AIFTA.
- Dữ liệu về thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia được nhóm tác giả thu thập
từ báo cáo Tổng quan Kinh tế Thế giới (World Economic Outlook).
Dựa vào các biến số đã xác định, bài nghiên cứu lần lượt tiến hành hồi quy theo mô hình
tuyến tính cổ điển (OLS) và phương pháp mô – men tổng quát (GMM) để giải quyết vấn
đề các giả thuyết bị vi phạm của mô hình hồi quy OLS.
9
Đóng góp của đề tài 1.4
Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa mức giá chuyển giao báo cáo
ở mức độ nhóm mặt hàng và sự chênh lệch thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và mức
thuế suất thuế nhập khẩu tại Việt Nam trong tất cả 10 nhóm mặt hàng nhập khẩu được
nghiên cứu. Đồng thời, mô hình nghiên cứu được xem xét ở dạng tuyến tính nên các hệ
số ước lượng có thể cung cấp được thông tin về sự thay đổi trong mức giá chuyển giao
báo cáo khi có sự thay đổi trong chênh lệch mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và
mức thuế suất thuế nhập khẩu.
Những kết quả thu được từ bài nghiên cứu có thể giúp các cơ quan Chính phủ xác định
được mức độ thay đổi trong mức giá chuyển giao khi tiến hành những cải cách thuế. Từ
đó, các cơ quan Chính phủ có thể điều chỉnh các chính sách phù hợp với mục tiêu đặt ra.
Đây là bài nghiên cứu đầu tiên về hành vi chuyển giá được nghiên cứu tại Việt Nam ở
mức độ nhóm mặt hàng mà trong đó đã xử lý các vấn đề định lượng để tạo ra được kết
quả ước lượng vững chắc trong tất cả 10 nhóm mặt hàng nhập khẩu phổ biến.
Bố cục bài nghiên cứu 1.5
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả gồm 5 chương:
Chương 1 – Giới thiệu tổng quan đề tài. Trong chương 1, nhóm tác giả trình bày tổng
quan các vấn đề của bài nghiên cứu. Cụ thể, nhóm tác giả sẽ chỉ ra những yêu cầu bức
chưa phản ánh mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu
thật sự mà các công ty tại các quốc gia trong từng nhóm mặt hàng nghiên cứu phải chịu.
Cụ thể, thuế suất biên đối với thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu có
11
trọng số theo khối lượng hoặc giá trị mặt hàng nhập khẩu có thể sẽ cho những ước lượng
tốt hơn.
12
2 Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá
Khung lý thuyết 2.1
2.1.1 Khái niệm cơ bản
Định giá chuyển giao là việc thiết lập giá cho những giao dịch nội bộ (tức là giao dịch
giữa các bên liên quan) đối với hàng hóa, dịch vụ, tài sản vô hình và dòng vốn trong tập
đoàn đa quốc gia (Eden 2003). Các giao dịch nội bộ cho phép các công ty đa quốc gia
thực hiện “hành vi đa quốc gia” của nó để bù đắp cho chi phí hoạt động ở nước ngoài và
đạt được lợi thế cạnh tranh. Cho nên trong thực hành, thao túng giá chuyển giao (Transfer
Pricing Manipulation – TPM) là chiến lược thiết lập giá chuyển giao bên trên hoặc bên
dưới chi phí cơ hội để “tránh” sự kiểm soát của chính phủ và những khác biệt trong quy
định giữa các quốc gia (Horst 1971; Eden 1998). Điều này có nghĩa là định giá chuyển
giao liên kết với chuyển dịch lợi nhuận giữa những khu vực có thuế suất khác nhau.
Phương pháp được thiết lập để xác định giá chuyển giao “đúng” được gọi là phương pháp
định giá theo nguyên tắc thị trường (arm’s length priciple – ALP), thông qua phương
pháp này, hai hay nhiều chi nhánh của một công ty đa quốc gia nên thực hiện giao dịch
với chi nhánh khác giống như là hai công ty này độc lập với nhau. Trong thực hành, điều
này có nghĩa là giá được dùng trong giao dịch này phải bằng với giá cả thị trường hiện tại
đối với cùng sản phẩm.
Trong thực tế, việc định giá chuyển giao đúng hay việc định giá theo nguyên tắc ALP là
rất khó áp dụng đối với cả công ty và cơ quan thuế. Nguyên nhân của việc này bao gồm
các khía cạnh về quyền lợi của lực lượng lao động, quản lý nguồn lực, chất lượng thông
tin cho phát triển và đầu tư của các doanh nghiệp, những thách thức với việc thực hiện
các chính sách liên quan đến thuế của chính phủ, và hiệu ứng dây chuyền của chúng tác
động lên nghèo đói đã không nhận được sự chú ý tương ứng của công chúng.
Chuyển giá làm mất đi doanh thu thuế của ngân sách quốc gia, đe dọa đến sự phát triển
kinh tế. Nhiều tài liệu thực nghiệm quan trọng đã phân tích hành vi lạm dụng chuyển giá
14
ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu thuế nói chung và đối với sự phát triển xóa đói giảm
nghèo. Tránh thuế làm tình trạng nghèo đói kéo dài dai dẳng và tạo ra sự bóp méo kinh
tế nghiêm trọng, gây cản trở quyết định đầu tư trong nền kinh tế. Hoạt động chuyển giá
gia tăng kéo theo sự phát triển của những nền kinh tế hải ngoại – nơi mà sẽ là trung gian
cho việc thực hiện chuyển giá. Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có
thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người hưởng lợi từ hoạt
động chuyển giá của các công ty đa quốc gia. Vì vậy mà các quốc gia này cố ý làm lơ để
các công ty đa quốc gia thực hiện hành vi chuyển giá, làm nổi lên sự cạnh tranh về chính
sách thuế giữa các quốc gia. Về lâu dài, khi có sự chuyển biến của môi trường kinh doanh
quốc tế thì các quốc gia này sẽ gánh chịu hậu quả do việc thả lỏng và thờ ơ trong công tác
quản lý trước đây gây ra. Lúc này các quốc gia phải đương đầu với khó khăn tài chính do
các hành động chuyển giá nhằm thu hồi vốn nhanh sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của nền
kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư, phản ánh không chính xác sức mạnh và cơ hội đầu tư
của nền kinh tế và khủng hoảng sẽ xảy. Thêm vào đó, thông qua hoạt động chuyển giá
nhằm chiếm thị phần khi mới tham gia vào thị trường, các công ty đa quốc gia sẽ tiến
hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi làm lũng đoạn thị trường. Thông qua
chuyển giá, các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trong
nước, các công ty đa quốc gia sẽ dần trở nên độc quyền, kiểm soát giá cả và mất dần tính
tự do của thị trường. Các hoạt động chuyển giá làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh
tế quốc dân của nước tiếp nhận đầu tư. Chính phủ sẽ gặp khó khăn trong hoạch định
chính sách kinh tế vĩ mô và không thể thúc đẩy sản xuất phát triển. Nếu không ngăn chặn
kịp thời thì về lâu dài, các quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và
Định giá chuyển giao sai so với nguyên tắc thị trường - mối đe dọa đối với phát triển và
đầu tư kinh doanh. Độ tin cậy của thông tin trong môi trường kinh doanh là rất quan
trọng đối với động lực và phát triển kinh doanh. Việc định giá chuyển giao sai làm cho
quá trình truy cập thông tin đáng tin cậy khó khăn hơn. Việc báo cáo lỗ giả của các công
ty sẽ gửi tín hiệu sai lầm về tiềm năng kinh doanh trong nền kinh tế, khi đó các nhà đầu
16
tư tiềm năng có thể dựa vào thông tin này và đánh giá môi trường kinh doanh không đúng
đắn và sẽ có quyết định đầu tư sai lầm. Việc thao túng định giá chuyển giao được coi là
một trong những nguyên nhân chính của những bất đồng liên doanh. Khi giao dịch với
các bên liên quan được thao túng nhằm làm giảm lợi nhuận, cổ đông thiểu số có thể
không nhận được cổ tức do công ty thua lỗ nên không tuyên bố chi trả cổ tức.
Định giá chuyển giao sai - mối đe dọa đến tối ưu hóa nguồn lực. Khi lợi nhuận các công
ty có được đến từ các hoạt động kinh doanh, các công ty sẽ tích cực kiếm lợi nhuận thông
qua chiến lược cạnh tranh giảm chi phí, nâng cao chất lượng hàng hóa dịch vụ. Việc dễ
dàng tạo ra lợi nhuận từ việc né tránh thuế bằng chuyển giá không đặt bất kỳ áp lực nào
lên công việc quản lý về sáng tạo đổi mới trong các chiến lược cạnh tranh của công ty.
Điều này gây nên sự lãng phí vật chất đáng kể cũng như cung cấp dịch vụ khách hàng
yếu kém. Ngoài ra, chuyển giá làm mất nhiều nguồn lực trong việc lập kế hoạch tìm hiểu
thuế, nguồn lực để thực hiện chuyển giá của đối với công ty; trong công tác điều tra và
phát hiện và các thủ tục pháp lý để buộc tội của cơ quan thuế.
Tóm lại, hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong nhiều trường hợp tác
động tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu tư. Nhiều nhà kinh tế trên
thế giới nghiêm túc nghiên cứu hiện tượng chuyển giá đã đưa ra kết luận: Tác động tiêu
cực của chuyển giá là lớn hơn, nhiều hơn so với lợi ích do chuyển giá mang lại cho nước
xuất khẩu vốn, lẫn nước nhập khẩu vốn. Cho nên chính phủ các nước đã và đang tìm giải
pháp chống chuyển giá trong đầu tư quốc tế thúc đẩy các nghiên cứu về vấn đề chuyển
giá. Phần sau đây sẽ trình bày các nghiên cứu lý thuyết để nhằm phân tích rõ hơn xu
hướng nghiên cứu các khía cạnh trong chuyển giá.
xét vai trò của chính phủ. Cơ chế thiết lập giá chuyển giao này chứng tỏ rằng các doanh
18
nghiệp đa quốc gia sẽ tối đa hóa lợi nhuận sau thuế toàn cầu bằng cách chuyển khoản
doanh thu tới nơi thuế thấp và trích bớt nơi thuế cao có cân nhắc đến các chính sách của
chính phủ.
Các nghiên cứu này chủ yếu xem xét tới tác động của sự khác biệt thuế lợi tức lên các
công ty đa quốc gia. Với mục tiêu tối thiểu hóa thuế, các công ty sẽ thực hiện việc chuyển
thu nhập thông qua thiết lập khối lượng và giá của các giao dịch với công ty liên kết
trong các tập đoàn đa quốc gia. Có nhiều nghiên cứu lý thuyết về phản ứng của giá
chuyển giao với chênh lệch thuế lợi tức (Horst, 1971, Halperin và Srinidhi, 1987; Eden,
1998,…). Capithorne (1971), Samuelson (1982) và Harris cùng Sansing (1998) khảo
sát tác động của chênh lệch thuế suất thuế lợi tức đối với việc sản xuất và định giá, trong
trường hợp một đại lý chịu trách nhiệm về giao dịch nội bộ của công ty.
Horst (1971) khám phá các chiến lược tối đa hóa lợi nhuận cho một công ty độc quyền
bán hàng cùng lúc tại hai quốc gia và thực hiện hành vi chuyển giá. Chiến lược này chính
là cách mà công ty phản ứng (sản xuất và bán ở mỗi nước như thế nào và giá chuyển giao
ra sao) với một tập hợp các mức thuế quan và thuế lợi tức, điểm này là điểm vượt trội so
với các nghiên cứu giai đoạn trước đó.
Tuy nhiên, trong hai thập kỷ gần đây, cơ quan thuế của nhiều nước có nền kinh tế phát
triển đã thực thi các quy định nghiêm ngặt về định giá chuyển giao để tránh tác động xấu
của việc thao túng giá chuyển giao. Điều này làm cho vai trò của chính sách gia tăng
trong quá trình định giá chuyển giao của doanh nghiệp và kéo theo nhiều nghiên cứu về
định giá chuyển giao xem xét đến chính sách của chính phủ. Theo Kant (1988), nhược
điểm của lớn nhất của mô hình Horst (1971) là quyết định của công ty đa quốc gia định
giá chuyển giao cao hay thấp mà không chịu bất cứ ràng buộc gì từ chính phủ nước sở
tại. Nhược điểm này được khắc phục bởi giả định rằng: chính phủ sẽ có hướng dẫn về
việc định giá theo nguyên tắc thị trường và công ty nào không tuân theo sẽ đối mặt với
khả năng bị phạt phụ thuộc vào mức độ lệch giữa giá chuyển giao và giá theo nguyên tắc
thị trường.
hành chính sách của chính phủ: các công cụ chính sách thương mại, các loại thuế lợi tức,
quy định của chính phủ về giá chuyển giao.
Một đối tượng quan trọng khác của nghiên cứu chuyển giá là việc áp dụng các hệ thống
công thức phân bổ để ngăn chặn các hành vi thao túng giá chuyển giao. Khi đánh thuế
các doanh nghiệp trong nước nằm trong các tiểu bang khác nhau, Mỹ không dựa vào
hạch toán riêng mà thay vào đó là công thức để tính toán cơ sở thuế thích hợp trong từng
tiểu bang theo doanh thu hay tài sản. Musgrave (1972), bằng mô hình lý thuyết, đã chỉ ra
rằng phân bổ bằng công thức có thể giảm thiểu các vấn đề về giá chuyển giao trong tập
đoàn đa quốc gia, và đề nghị rằng Hoa Kỳ nên xem xét để mở rộng hệ thống này với các
đầu tư quốc tế. Hệ thống phân bổ theo công thức này được xem như là một phương pháp
tốt để đánh thuế các công ty đa quốc gia, vì nó đảm bảo rằng các công ty không thể né
tránh thuế ở bất kỳ một nước nào miễn là họ có một số hoạt động diễn ra trong vùng đó.
Các nhà hoạch định chính sách và kinh tế (Nielsen, Raimondos-Møller và Schjelderup,
2001; Wellisch, 2004; Shackelford và Slemrod, 1998) đã chỉ ra rằng những vấn đề liên
quan đến chuyển lợi nhuận và giá chuyển giao, theo hệ thống hạch toán riêng, sẽ có sự
chuyển đổi thành hệ thống công thức phân bổ tương tự như thực hiện bởi Hoa Kỳ,
Canada, Thụy Sĩ ở các công ty trong nước.
Tuy nhiên, trong mô hình lý thuyết của mình, Gresik (2006) đã kết hợp tin thông tin nội
bộ khi so sánh hai hệ thống thuế hạch toán riêng và phân bổ theo công thức đã cho thấy
điều ngược lại. Tức là hệ thống phân bổ theo công thức tạo ra biến dạng kinh tế và nó
không giúp hạn chế các sai lệch do sự bất cân xứng thông tin giữa cơ quan thuế và các
công ty đa quốc gia. Lời giải thích cho sự mẫu thuẫn này là các giả định về sự có sẵn của
thông tin nội bộ. Trong hầu hết các nghiên cứu trước, thông tin nội bộ, khi so sánh hạch
toán riêng và công thức phân bổ, hoặc giả định đầy đủ thông tin hoặc thông tin riêng chỉ
có trong phân tích hạch toán riêng. Giả định rằng các mức thuế suất theo hạch toán riêng
là tương tự hoặc cao hơn theo công thức phân bổ, Gresik chứng minh rằng tất cả các loại
công ty sẽ kiếm được lợi nhuận sau thuế cao hơn theo công thức phân bổ. Cuối cùng,
21
để kiểm tra xem có thật sự là các công ty đa quốc gia có hành vi chuyển dịch thu nhập
hay không.
Nghiên cứu đáng chú ý đầu tiên trả lời cho câu hỏi trên là của Jenkins và Wright (1975),
tác giả xem xét việc phân phối lợi nhuận của các công ty con ở nước ngoài của các công
ty đa quốc gia Mỹ trong ngành dầu mỏ giai đoạn 1966 và 1970. Kết quả cho thấy các
công ty con ở những quốc gia có thuế suất thấp thì có lợi nhuận cao hơn. Theo tính toán
tổng hợp của tác giả, các công ty Mỹ tránh được 2/3 nghĩa vụ thuế mà lẽ ra họ phải nộp
cho các nước tiêu thụ dầu trong khoảng thời gian trên. Tiếp tục hướng nghiên cứu nói
trên, Grubert và Mutti (1991) cùng với Hines và Rice (1994) phân tích lợi nhuận tổng
hợp của các công ty con Mỹ ở các quốc gia khác nhau trong năm 1982. Grubert và Mutti
23
xem xét tỷ số lợi nhuận trên vốn cổ phần và lợi nhuận trên doanh thu của các công ty con
sản xuất ở 29 quốc gia, trong khi Hines và Rice hồi quy lợi nhuận của tất cả các công ty
con ở 59 quốc gia theo vốn, lao động và năng suất địa phương. Grubert và Mutti nhận
thấy thuế suất cao làm giảm lợi nhuận sau thuế của hoạt động sản xuất ở nước sở tại. Cụ
thể hơn, Hines và Rice đã tìm thấy tác động mạnh mẽ của thuế suất trong bộ dữ liệu của
họ: 1% chênh lệch trong thuế suất dẫn đến 2.3% chênh lệch trong lợi nhuận trước thuế.
Củng cố thêm cho các kết quả nghiên cứu này, Harris và cộng sự (1993) dựa trên một
mẫu gồm 200 công ty sản xuất ở Mỹ trong giai đoạn 1984 - 1988, tác giả nhận thấy rằng
các công ty đa quốc gia của Mỹ mà có công ty con ở các nước đánh thuế suất thấp thì nộp
thuế ở Mỹ thấp hơn; trong khi đó những công ty đa quốc gia mà có công ty con ở các
nước có mức suất thuế cao thì nộp thuế ở Mỹ nhiều hơn một cách tương đối trên mỗi
đồng đô - la tài sản hoặc doanh thu.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở bằng chứng gián tiếp, tức là chỉ
mới cung cấp những dấu hiệu về hành vi thao túng giá chuyển giao. Chẳng hạn như kết
quả của Harris và cộng sự (1993) có thể được giải thích là do các công ty đa quốc gia
chuyển dịch thu nhập từ nơi có thuế suất cao đến nơi có thuế suất thấp nhưng cũng có thể
là do sự khác biệt giữa các quốc gia về khả năng sinh lợi nội tại ở những khu vực khác
nhau của các công ty quốc gia. Chẳng hạn, chênh lệch thu nhập giữa các khu vực khác
năm 1979. Natke giả định rằng giá được chi trả bởi những công ty trong nước phản ánh
giá thị trường thế giới và sử dụng mức giá này như là điểm chuẩn để so sánh với giá nhập
khẩu mà các công ty nước ngoài chi trả. Bằng cách kiểm định giá trị trung bình theo cặp,
ông tìm thấy rằng các công ty đa quốc gia chi trả cho việc nhập khẩu nhiều hơn các
doanh nghiệp nội địa với giá trên hóa đơn từ 21% đến 39%; giá nước ngoài cũng biến
động nhiều hơn giá trong nước. Các kết quả ủng hộ giả thuyết thao túng giá chuyển giao
để tránh các quy định của chính phủ. Tuy nhiên, Natke cũng lưu ý về kết luận này là
chênh lệch giá cũng có thể là do các nhân tố khác chứ không hoàn toàn là do thao túng
giá chuyển giao; ví dụ, hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp đa quốc gia có thể có được
chất lượng cao hơn so với nhập khẩu trong nước. Cũng dựa vào giá hàng hóa xuất khẩu
25
và nhập khẩu hàng tháng, nhưng ở Mỹ, Pak và Zdanowicz (1994) tìm kiếm những giá trị
ngoại lai và ước tính rằng chính phủ Hoa Kỳ bị mất 33.1 tỉ đô - la trong doanh thu thuế
do thu nhập chịu thuế không được báo cáo. Đặc biệt, Swenson (2001) đã không so sánh
một cách trực tiếp giữa giá hàng hóa nhập khẩu với giá theo nguyên tắc thị trường tương
ứng cho các dữ liệu sản phẩm nhập khẩu hàng năm của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1981-
1986; mà thay vào đó là một mô hình động cơ chuyển giá được xây dựng với giá chuyển
giao báo cáo chính là một hàm số theo giá thị trường, chi phí của hành vi né tránh thuế
(bao gồm chi phí phạt khi bị cơ quan thuế phát hiện và chi phí thuế quan tăng thêm trong
trường hợp tăng giá chuyển giao báo cáo), thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế
quan tương ứng với cấu trúc thuế của từng quốc gia. Bằng cách xây dựng mô hình động
cơ chuyển giá dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích thu được từ hoạt động chuyển giá và chi
phí của hành vi né tránh thuế, tác giả tìm thấy một sự sụt giảm 5% trong thuế suất thuế
thu nhập doanh nghiệp nước ngoài gây ra một sự gia tăng nhỏ trong giá hàng hóa nhập
khẩu của Hoa Kỳ. Đóng góp mới trong mô hình của Swenson chính là việc có xem xét
đến các chi phí phạt mà các công ty đa quốc gia phải gánh chịu nếu bị cơ quan thuế phát
hiện ra hành vi chuyển giá. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với các cơ quan thuế trong
việc tìm ra giải pháp tối ưu nhằm chống lại hành vi chuyển giá.
Phương pháp trực tiếp thứ hai để kiểm tra hành vi thao túng giá chuyển giao là kiểm tra