Vai trò của công đoàn trong công việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở việt nam - Pdf 10

Vai trò của Công đoàn trong công việc bảo vệ
quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu những vấn đề khái quát chung về công đoàn và vai trò của tổ
chức công đoàn. Nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn việc
thực hiện vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Đánh giá những ưu điểm,
nhược điểm trong việc thực hiện vai trò bảo vệ quyền lợi người lao động của công
đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Đưa ra một số
kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người
lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Keywords. Công đoàn; Quyền lợi; Doanh nghiệp; Người lao động; Luật lao động;
Pháp luật Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Trong những năm gần đây, số vụ đình công trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài có xu hướng gia tăng. Nhiều vụ diễn ra với quy mô lớn, thời gian kéo dài nhiều

đoàn.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện vai trò
của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài ở Việt Nam.
- Đánh giá những ưu điểm, nhược điểm trong việc thực hiện vai trò bảo vệ quyền lợi
người lao động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ
quyền lợi người lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của tổ
chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, kết hợp với việc tham khảo tổng hợp các ý
kiến của một số cán bộ công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt
nam, các chuyên gia luật, kinh tế, cũng như tham khảo kinh nghiệm tổ chức và hoạt động
công đoàn một số nước để bước đầu đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của
công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả lấy phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, các
phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khảo sát thu thập, điều tra xã hội học…
được sử dụng phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Các nghị quyết của
Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề lao động, việc làm, các quy định của Hiến pháp trong
lĩnh vực lao động, công đoàn, các quy phạm pháp luật lao động được sử dụng với tư cách là
cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quả trình nghiên cứu.
6. Kết quả của luận văn.
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận về vai trò của công đoàn trong việc bảo
vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam;
Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn việc thực hiện từ đó đưa ra
các kiến nghị đồng bộ cả về mặt lập pháp và tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả vai

Tính quần chúng của công đoàn .
Hai tính chất của công đoàn có mối quan hệ gắn bó với nhau.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức của công đoàn Việt nam
Theo quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản sau:
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ;
- Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là liên đoàn lao động
tỉnh, thành phố) và công đoàn ngành trung ương;
- Công đoàn cấp trên cơ sở;
- Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn.
Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ khác nhau.
1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của công đoàn.
1.1.4.1. Chức năng của công đoàn
Công đoàn có các chức năng sau:
Thứ nhất: công đoàn có chức năng bảo vệ lợi ích của người lao động
Công đoàn tham gia cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho
công nhân lao động, công đoàn tham gia vào việc ký kết hợp đồng lao động của công nhân
lao động, ký thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động.
Công đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, quản lý và sử
dụng quỹ phúc lợi tập thể, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, kinh tế, gia đình, giải quyết
khiếu tố, phát huy dân chủ, bình đẳng công bằng xã hội, phát triển các hoạt động văn hoá,
văn nghệ, thể dục thể thao, du lịch, tham quan nghỉ mát.
Thứ hai, công đoàn có chức năng tham gia quản lý
Công đoàn tổ chức phong trào thi đua lao động sản xuất trong công nhân lao
động, vận động tổ chức công nhân lao động tham gia việc xây dựng và thực hiện kế hoạch
sản xuất kinh doanh, tham gia quản lý lao động, giải quyết lao động dôi dư, tham gia quản lý
tiền lương, tiền thưởng của công nhân lao động, tham gia trong việc quản lý vật tư, kỹ thuật,
tài chính nhằm giảm mức tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm, tham gia xây dựng và thực
hiện chế độ chính sách liên quan đến người lao động, tham gia xây dựng và thực hiện cơ
chế quản lý kinh tế mới.
Thứ ba, công đoàn có chức năng giáo dục

nghiệp. Mặt khác, công đoàn hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng.
Trong lĩnh vực chính trị: Là thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam, công đoàn có vai trò xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị, củng cố và giữ vững bộ máy nhà nước
Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn tuyên truyền giáo dục người lao động chống tiêu
cực và tệ nạn xã hội, xây dựng phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng
cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và tính sáng tạo cho người lao động.
Công đoàn góp phần củng cố liên minh công - nông và trí thức xây dựng khối đoàn
kết toàn dân. Đây là cơ sở xã hội vững chắc, tăng cường sức mạnh của nhà nước.
Trong lĩnh vực tư tưởng - văn hoá: Công đoàn phát huy vai trò của mình trong việc
giáo dục công nhân, viên chức, người lao động nâng cao lập trường giai cấp, phát huy những
giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn
minh nhân loại
Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên: Với vai trò là người đại diện và bảo vệ
các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, có trách nhiệm tham gia với Nhà
nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người
lao động, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có trách nhiệm:
- Phối hợp với các bên liên quan trong việc tổ chức tổng hợp ý kiến tham gia về chính
sách, pháp luật và các vấn đề liên quan đến lao động, cũng như những nội dung phát sinh
trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật lao động và giải quyết các vấn đề liên quan
đến quan hệ lao động;
- Chỉ đạo công đoàn các cấp giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật lao động và
phối hợp với các bên liên quan giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động ở các
doanh nghiệp tại địa phương;
- Chuẩn bị chương trình kế hoạch hành động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
trong việc phối hợp với các bên liên quan để thảo luận tại hội nghị các bên.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của công đoàn Việt Nam
Sau khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) ở nước
ta, giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lượng.
Với sự truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào

tâm, chăm lo tốt tới đời sống vật chất tinh thần cho người lao động. thỏa ước lao động có nội
dung tích cực, đạt chất lượng và cam kết được nhiều điều khoản cao hơn luật quy định và
đem lại được nhiều quyền lợi thiết thực cho người lao động. Tuy nhiên, do cán bộ công đoàn
thường là người làm công, hưởng lương từ chủ doanh nghiệp nên không thể thảo luận với họ
một cách bình đẳng. Do đó chưa đóng góp nhiều vào việc bảo vệ quyền lợi người lao động
Việc thực hiện tốt vai trò này là tiền đề quan trọng để xây dựng quan hệ lao động hài
hòa, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động, đồng thời nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
2.2. VAI TRÕ CÔNG ĐOÀN THAM GIA KIỂM TRA, GIÁM SÁT THI HÀNH
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG.
Giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật nhằm bảo đảm chắc chắn rằng các quy
định của pháp luật lao động được thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ là hoạt động rất
quan trọng để bảo vệ lợi ích người lao động.
Nội dung thẩm quyền này được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các chính sách, pháp luật về hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động,
An toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp. Vai trò của công đoàn trong lĩnh vực này được
thể hiện thông qua các hoạt động, đó là:
Công đoàn cơ sở đã tăng cường công tác tư vấn hỗ trợ, hướng dẫn người lao động
thảo luận, ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ người lao
động nhận được sự giúp đỡ của công đoàn trong việc ký kết hợp đồng lao động còn rất hạn
chế, đa phần công nhân tự mình thỏa thuận, ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao
động. Mặc dù chưa đạt hiệu quả như mong muốn, nhưng sự tham gia của công đoàn đã hạn
chế rất nhiều sự vi phạm pháp luật lao động từ phía chủ sử dụng lao động.
Mặc dù tổ chức công đoàn đã nỗ lực thực hiện kiểm tra giám sát trong điều kiện có
thể, song tình trạng vi phạm pháp luật lao động vẫn diễn ra. Nguyên nhân nữa làm cho hoạt
động kiểm tra, giám sát của công đoàn cơ sở kém hiệu quả là: bản thân cán bộ công đoàn
trong các doanh nghiệp cũng là người làm công và hưởng lương từ người sử dụng lao động
nên nhiều trường hợp còn e ngại không dám đấu tranh vì sợ bị trù dập; Lãnh đạo công đoàn
đồng thời là cán bộ quản lý nên họ luôn có xu hướng bảo vệ lợi ích cho chủ doanh nghiệp;
hoặc sự không hợp tác từ phía chủ doanh nghiệp.

người lao động.
2.4.2. Trong quá trình xây dựng nội quy, quy chế của doanh nghiệp
Nội quy lao động trong các đơn vị sử dụng lao động là những văn bản quy định về các
hoạt động và sử dụng lao động nhằm duy trì và tăng cường kỷ luật lao động của đơn vị. Nội
quy lao động gồm những nội dung chủ yếu như: Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi; trật
tự trong doanh nghiệp; an toàn lao động, vệ sinh lao động nơi làm việc; bảo vệ tài sản và bí
mật công nghệ, kinh doanh của doanh nghiệp; kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. Nội
dung nội quy lao động không được trái với pháp luật lao động và pháp luật khác.
Trong quá trình xây dựng nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý
kiến của ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở theo đề nghị
của tập thể lao động ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở. Công đoàn sẽ trực tiếp thỏa thuận
các nội dung của nội quy lao động theo hướng tuân thủ pháp luật và đảm bảo quyền lợi ích
hợp pháp cho người lao động.
2.4.3. Trong quá trình xử lý kỷ luật lao động và bồi thƣờng thiệt hại.
Trong quá trình xử lý kỷ luật lao động phải có sự tham gia của ban chấp hàng công
đoàn cơ sở, trừ trường hợp xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo hình thức khiển trách bằng
miệng. Việc tham gia vào quá trình xử lý kỷ luật lao động một mặt tạo cho công đoàn nắm
chắc những thông tin về vụ việc xử lý kỷ luật, mặt khác là một trong những biện pháp để
công đoàn thực hiện quyền kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật lao động ở cơ sở.
Khi xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí
với Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở.
Trong trường hợp người lao động gây ra thiệt hại cho người sử dụng lao động như
làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp
thì phải bồi thường.Trước khi khấu trừ tiền lương của người lao động, người sử dụng lao
động phải thảo luận với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; Việc người sử dụng lao động phải
trao đổi với ban chấp hành công đoàn cơ sở về mức khấu trừ nhằm tạo điều kiện để công
đoàn kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động, đồng thời có ý kiến với người sử dụng lao
động để việc khấu trừ phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế của người lao động.
Mặc dù vậy, trên thực tế các vi phạm pháp luật lao động trong lĩnh vực này vẫn
thường xuyên xảy ra, nguyên nhân là do vai trò mờ nhạt của công đoàn cơ sở.

và thu nhập của người lao động được cải thiện rõ rệt.
Các hoạt động của công đoàn đã hướng đến người lao động, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho người lao động, giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
2.6. VAI TRÕ CÔNG ĐOÀN THAM GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG VÀ ĐÌNH CÔNG.
2.6.1. Vai trò của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động.
* Tại hội đồng hòa giải lao động cơ sở.
Theo quy định pháp luật, người sử dụng lao động và ban chấp hành công đoàn cơ sở
có trách nhiệm phối hợp cùng nhau để thành lập hội đồng hòa giải lao động cơ sở. Công đoàn
có trách nhiệm phối hợp với chủ tịch Hội đồng hòa giải tìm hiểu nguyên nhân vụ việc, tham
gia phiên hòa giải, công đoàn tham gia với tư cách là thành viên hội đồng hoặc có thể tham
gia với tư cách là đại diện cho tập thể lao động trong tranh chấp lao động tập thể, đại diện
được ủy quyền trong tranh chấp lao động cá nhân nếu được người lao động ủy quyền.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở có
trách nhiệm thu thập những thông tin, căn cứ, cung cấp các tài liệu liên quan đến tranh chấp
lao động và cùng phối hợp với Hội đồng hòa giải lao động cơ sở đưa ra phương án để các bên
xem xét thương lượng.
* Tại tòa án nhân dân.
Trong quá trình giải quyết lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể tại tòa án,
công đoàn có các quyền và trách nhiệm sau:
- Công đoàn tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn:
- Công đoàn tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự hoặc người đại diện theo ủy quyền.
- Công đoàn yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Vai trò của công đoàn trong việc giải quyết tranh chấp lao động còn được thể hiện
trong quá trình công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm, giám
đốc thẩm và tái thẩm. Trong quá trình giải quyết tại các phiên tòa này, công đoàn có trách
nhiệm tham gia hòa giải, đưa ra những chứng cứ, lập luận để bảo vệ quyền và lợi ích của tập
thể lao động, bày tỏ ý kiến đối với các phương án hòa giải được đưa ra; Thỏa thuận với người
sử dụng lao động về việc giải quyết tranh chấp

ngoài ở Việt Nam, có thể nhận thấy rằng thực tiễn hoạt động của công đoàn cơ sở tại doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoại nói riêng còn bộc lộ quá nhiều hạn chế do nguyên nhân chủ
quan lẫn khách quan. Những gì công đoàn đã làm được còn quá ít so với những gì chưa
làm được.

Chƣơng 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA CÔNG
ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
3.1. NHẬN XÉT VỀ VAI TRÕ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI Ở VIỆT NAM
3.1.1. Về ƣu điểm.
Thứ nhất, về công tác phát triển đoàn viên và tổ chức công đoàn cơ sở
Mặc dù hầu hết các chủ doanh nghiệp đều không muốn cho công đoàn cơ sở được
thành lập và hoạt động ở doanh nghiệp của mình nhưng với sự tích cực, kiên trì thuyết phục
người sử dụng lao động, nhiều tổ chức công đoàn đã được thành lập. Việc xúc tiến thành lập
công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài )
vẫn được đẩy mạnh.
Thứ hai, trong lĩnh vực công đoàn thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động.
Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những hành động
việc làm cụ thể để hướng dẫn công nhân lao động giao kết hợp đồng lao động với người sử
dụng lao động. Đây là cơ sở bảo đảm quyền, lợi ích người lao động.
Trong cơ chế ba bên, tổ chức đại diện của người lao động đóng vai trò là cầu nối
người lao động với người sử dụng lao động và Nhà nước
Thứ ba, trong lĩnh vực kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật
lao động.
Hoạt động kiểm tra, giám sát của công đoàn đã có những tác động tích cực trong việc
phát hiện và đề xuất kiến nghị, khắc phục kịp thời những vi phạm các quy định của pháp luật
lao động, hoặc phản ánh với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cấu xử lý. Nhờ vậy,
những bức xúc của người lao động đã được giảm bớt, hạn chế những mâu thuẫn, bất đồng

dục thể thao tạo không khí vui tươi cho công nhân lao động; Tại một số doanh nghiệp có tỷ lệ
lao động nữ cao Ban chấp hành công đoàn đã đề xuất với chủ doanh nghiệp xây dựng nhà trẻ
ngay trong khuôn viên nhà máy để công nhân có thể gửi con, yên tâm lao động; Công đoàn
cơ sở đã tổ chức các hoạt động thăm hỏi, giúp đỡ công nhân lao động gặp khó khăn, ốm đau,
tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp…, Tổ chức quyên góp xây dựng nhà “mái ấm công đoàn”
cho công nhân lao động gặp khó khăn về nhà ở;
Thứ bảy, trong việc công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công
Công đoàn cơ sở đã có nhiều nỗ lực trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao
động và đình công. Khi có tranh chấp lao động xảy ra, công đoàn đã chủ động gặp gỡ người
sử dụng lao động để thương lượng tìm giải pháp dàn xếp mâu thuẫn. Nhờ sự tham gia tích
cực của công đoàn mà nhiều tranh chấp lao động đã được hòa giải thành. Qua đó đã góp phần
làm giảm số lượng quy mô, cường độ của các vụ đình công.
Không chỉ tham gia giải quyết tranh chấp lao động bằng thương lượng, hòa giải, công
đoàn còn chủ động phối hợp tham gia giải quyết tranh chấp lao động cùng tòa án nhân dân.
Nhiều vụ tranh chấp với sự tham gia nhiệt tình, hiệu quả của công đoàn nên đã được hòa giải
thành ngay tại tòa án.
3.1.2. Về hạn chế
Thứ nhất, về lực lượng công đoàn: Hiện vẫn còn xấp xỉ 40% số doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài chưa thành lập được công đoàn cơ sở
Hầu hết cán bộ công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tập trung
số lượng lớn công nhân đều làm kiêm nhiệm. Do có quyền lợi gắn liền với doanh nghiệp lại
chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành, thiếu kiến thức hiểu biết pháp luật nên khả năng
đấu tranh, bảo vệ lợi ích của người lao động của cán bộ công đoàn hạn chế.
Thứ hai, về tài chính của công đoàn: công đoàn không có nguồn tài chính ổn định và
vững mạnh, hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ
thuộc chủ yếu vào các doanh nghiệp đó.
Thứ ba, về việc phối hợp với người sử dụng lao động thảo luận các vấn đề về quan hệ
lao động: Trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung chưa xây dựng và
thực hiện được cơ chế phối hợp giữa ban chấp hành công đoàn cơ sở với đại diện người sử
dụng lao động; Bản thân cán bộ công đoàn cũng là người làm công, hưởng lương từ chủ

khai nhưng còn thiếu đồng bộ, chưa rộng khắp. Hầu hết người lao động trong các doanh
nghiệp chưa nắm rõ các quy định của pháp luật lao động liên quân đến quyền lợi của mình,
nên không thể chủ động bảo vệ quyền lợi của mình khi chủ doanh nghiệp vi phạm
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
3.2.1. Về các quy định của pháp luật
Thứ nhất, cần phải có những nghiên cứu xây dựng các quy định cụ thể bảo vệ cán bộ
công đoàn, trước những hành vi đối xử bất bình đẳng từ phía người sử dụng lao động.
Theo kinh nghiệm của một số nước nhằm bảo vệ cán bộ công đoàn nên quy định:
Người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách được bảo đảm việc làm theo hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc đã giao kết với cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp.
Trường hợp hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn mà người lao động đang trong
nhiệm kỳ tham gia Ban chấp hành công đoàn cơ sở, thì mặc nhiên được tiếp tục thực hiện
hợp đồng đến hết nhiệm kỳ; nếu vẫn được tín nhiệm bầu tham gia Ban chấp hành công đoàn
cơ sở nhiệm kỳ tiếp theo thì được ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc
hợp đồng lao động xác định thời hạn bằng với thời hạn nhiệm kỳ của Ban chấp hành công
đoàn cơ sở.
Trong thời gian người lao động làm công tác công đoàn, cơ quan, tổ chức, đơn vị,
doanh nghiệp sử dụng lao động không được có các hành vi đối xử bất bình đẳng với cán bộ
công đoàn.
Trong trường hợp người lao động làm công tác công đoàn bị chủ sử dụng lao động
đối xử bất bình đẳng thì công đoàn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp,
bảo vệ.
Thứ hai, cần có những quy định cụ thể về thành phần ban chấp hành công đoàn cơ
sở để Ban chấp hành công đoàn cơ sở thực sự là người đại diện cho quyền lợi của công nhân
lao động.
Phải bảo đảm cán bộ công đoàn không bao gồm cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp
hoặc người thân của họ, như vậy cán bộ công đoàn mới bảo vẹ được quyền lợi người lao
động.

với các quy định bảo vệ cán bộ công đoàn trong các trường hợp như việc làm, thu nhập, nhất
là cán bộ công đoàn cơ sở hoạt động kiêm nhiệm.
Điều 25 Dự thảo Luật Công đoàn đã cụ thể hóa những điều kiện đảm bảo hoạt động
của công đoàn như (trụ sở làm việc, thời gian hoạt động công đoàn, thu nhập cho cán bộ công
đoàn). Đây là một tín hiệu tốt trong quá trình sửa đổi luật công đoàn.
Thứ báy, cần quy định cụ thể các chế tài pháp lý đối với các hành vi vi phạm luật
công đoàn.
Các quy định về chế tài pháp lý đối với các hành vi vi phạm luật công đoàn đã được
quy định trong luật công đoàn năm 1990, tuy nhiên các quy định như vậy còn khá chung
chung, không có tính khả thi, việc xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự chỉ có thể được thực hiện khi pháp luật tương ứng có các quy định về hành vi vi
phạm và chế tài xử lý cụ thể
3.2.2. Về tổ chức thực hiện.
Thứ nhất, phát triển đoàn viên đẩy mạnh hơn nữa việc thành lập công đoàn cơ sở
trong tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật
cho các đoàn viên, người lao động nhất là các quy định của luật lao động, luật công đoàn và
điều lệ công đoàn.
Thứ ba, không ngừng hoàn thiện công tác tố chức, nâng cao chất lượng, năng lực
cán bộ công đoàn.
Thứ tư, xây dựng phát triển quan hệ hợp tác giữa công đoàn với người sử dụng lao
động.
Thứ năm, cần tiếp tục đổi mới, phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa
công đoàn với các tổ chức hữu quan nhằm giải quyết các vấn đề của quan hệ lao động.
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động là chức năng cơ bản trong hoạt động
của công đoàn. Tuy nhiên, trên thực tế những năm qua công đoàn chưa làm tốt vai trò đó.
Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Do vậy, nâng cao hiệu
quả, vai trò của công đoàn trong việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của người lao động tại
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm, nghiên

hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hòa
giải viên lao động, Hà Nội
3. Chính phủ (2007), Nghị định 133/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật lao động về
giải quyết tranh chấp lao động, Hà Nội.
4. Quốc hội (1990), Luật công đoàn, Hà nội.
5. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
6. Quốc hội (1994), Bộ luật lao động, Hà Nội.
7. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội.
8. Quốc hội (2006), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật lao động, Hà Nội.
9. Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (2009), Hướng dẫn 703/HD-TLĐ hướng dẫn
thi hành điều lệ công đoàn Việt Nam, Hà Nội.
II. SÁCH, BÁO, TẠP CHÍ.
10. Linh Anh (2004), “Thủ tục đình công hợp pháp quá nhiêu khê”, Tạp chí lao động
xã hội, số 6, tr. 16.
11. TS. Đỗ Ngân Bình (2008), “Bất hợp lý trong một số quy định của Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật lao động”, Tạp chí Dân chủ & pháp luật, số 7, tr. 12.
12. Bằng Chung (2011), “Hơn 40% số doanh nghiệp ký kết thỏa ước lao động tập
thể”, Báo lao động, số 260, tr. 6.
13. Hồng Đào (2009), “Chia sẻ kinh nghiệm hoạt động công đoàn”, Báo lao động, số
65, tr. 5.
14. David Macdonal và Caroline Vandenaleele, Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và
khái niệm liên quan. Tổ chức lao động quốc tế - Đội chuyên gia tổng hợp Đông Á
(ILO/EASMAT), Hà nội 11/1997, tr.7
15. TS. Đặng Quang Điều (2011), “Đình công ở khu vực doanh nghiệp FDI tăng cao
là do tiền lương quá thấp”, Báo lao động, số 102, tr. 2.
16. Hà Dịu (2009), “Thỏa ước lao động tập thể, lợi cả đôi đường”, Báo lao động thủ
đô, số 53, tr.4.
17. Chí Dũng (2011), “Công ty Giai Đức VN đồng ý tăng lương, tiền ăn cho công
nhân”, Báo Hà nội mới, số 13, tr. 5.

tr.4-6.
33. PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu (2010), “Cơ chế ba bên và vai trò của công đoàn”, Tạp
chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 7/2010.
34. Nguyễn Xuân Thu, Cơ chế ba bên trong việc giải quyết tranh chấp lao động ở
Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, 2008.
35. Thanh Thúy (2007), “Nguy cơ đình công tại các doanh nghiệp FDI”, Tạp chí lao
động & công đoàn, số 5, tr. 7-8.
36. Tổ chức lao động quốc tế - Văn phòng lao động quốc tế Đông Nam Á
(ILO/EASMAT) (1996), Thuật ngữ quan hệ công nghiệp và các khái niệm liên
quan, Băng cốc - tr.35.
37. Tổng giám đốc ILO (1992), Dân chủ hóa và tổ chức của ILO - Báo cáo tại kỳ họp
thứ 79 năm 1992 ,tr.45.
38. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2010), báo cáo kết quả công tác 6 tháng đầu
năm 2010, tr. 2, Hà Nội.
39. Trường đại học Công đoàn Việt Nam (2006), Hoạt động công đoàn trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tr.169, Nxb Lao động, Hà Nội.
40. Trường đại học luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam , tr.78,
Nxb Công an nhân dân, Hà nội.
41. Hải Vân (2011), “Vai trò công đoàn mờ nhạt”, Tạp chí lao động & xã hội, số 313,
tr. 27.
42. Thiên Vĩ (2011), “Cần sửa đổi Luật công đoàn phù hợp với thực tiễn cuộc sống”,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7, tr. 36.
43. Viện công nhân và công đoàn Việt Nam (2007), Báo cáo kết quả khảo sát thực tế
về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội.
44. Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tổ chức công đoàn
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Thành phố Hồ Chí Minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH
45. Labour act of China. Date 5 July 1994.
46. Russian Federation – act No. 10-FZ on the Trade Unions. Date 12 January 1996
CÁC TRANG WEB


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status