Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thứ nhất, lạm phát là một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức
quan trọng mà mọi quốc gia đều phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội. Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp, gắn liền với sự tăng lên đồng loạt
của giá cả và sự mất giá của tiền tệ, lạm phát xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng các
dấu hiệu mất cân đối, mất cân đối giữa cung-cầu hàng hóa, mất cân đối giữa cung- cầu
tiền tệ…và thường gây ra hậu quả nghiêm trọng. Ngăn chặn lạm phát không phải là
một việc dễ dàng mà đòi hỏi phải có những biện pháp đồng bộ và khôn ngoan.
Thứ hai, lạm phát của Việt Nam trong thời gian qua đã và đang trở thành vấn đề
nóng bỏng. Từ tháng 12 năm 2007 do tình hình phát triển chung của nền kinh tế thế
giới và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, tình hình lạm phát trở nên bất
thường. Năm 2008 giá dầu tiếp tục leo thang, cung tiền trong nước tiếp tục mở rộng,
dòng vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp vẫn tràn vào Việt Nam sau khi nước ta chính
thức trở thành thành viên của WTO… đã đẩy lạm phát năm 2008 lên mức19,89%, đây
là tỷ lệ lạm phát cao nhất kể từ 10 năm qua và cũng là tỷ lệ cao nhất so với tất cả các
nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á. Đến năm 2009, với nỗ lực kiềm chế lạm phát
của Chính phủ, lạm phát được kiềm chế ở mức 1 con số 6,88%. Tuy nhiên năm 2010,
2011 lạm phát quay trở lại với mức báo động, biểu hiện rõ nhất là giá xăng dầu, giá
điện tăng mạnh trong thời gian qua đã kéo theo nhiều mặt hàng khác tăng giá, tỷ lệ
lạm phát năm 2011 lên tới 18,6%.
Thứ ba, lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực tới toàn bộ nền kinh tế nói chung. Lạm
phát tác động tới phân phối thu nhập, tới cơ cấu và hiệu quả kinh tế, làm giảm uy tín
của quốc gia trên trường quốc tế. Lạm phát không kiểm soát sẽ làm giá thành các mặt
hàng tăng cao, từ đó làm giảm sức tiêu thụ, hàng hóa trở lên dư thừa, ế ẩm, có thể dẫn
đến một số doanh nghiệp phải đóng cửa, ảnh hưởng tới nền kinh tế. Mặt khác, lạm
phát làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm xuống, lạm phát tăng cao đặc biệt
ảnh hưởng xấu đến những người nghèo, những người sống bằng thu nhập cố định như
người hưởng lương hưu hay công chức… do đó mà mức sống của hầu hết người dân
đều giảm xuống.
Thứ tư, lạm phát ảnh hưởng tới nhiều chủ thể trong nền kinh tế, trong đó thì các
1) Lê Quốc Lý (2005), Lạm phát hành trình và giải pháp chống lạm phát ở Việt
Nam, Nhà xuất bản tài chính, Hà nội.
Trong cuốn sách, tác giả đã hệ thống hóa tình hình diễn biến của nền kinh tế nước
ta qua các thời kỳ và những nhận dạng, bản chất, căn nguyên của lạm phát ở từng giai
đoạn. Đồng thời tổng hợp và phân tích các chính sách chống lạm phát, các chính sách
đẩy nhanh phát triển kinh tế.
2) Nguyễn Trọng Hoài- Nguyễn Hoài Bảo (2009), Lạm phát ở Việt Nam lý thuyết
và kiểm chứng thực nghiệm mô hình P-star, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
Nội dung chính: Đề cập tới các quan điểm về lạm phát của các trường phái kinh
tế học. Ứng dụng mô hình P-Star vào thực tế nền kinh tế Việt Nam, đồng thời đưa ra
những chính sách kiểm soát lạm phát đối với Việt Nam ở tầm trung hạn.
3) Bùi Thị Ngọc (2010), Một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của lạm phát
tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp Việt
Nam, Luận văn khoa kinh tế, Trường đại học Thương Mại.
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lạm phát, phân tích tác động của
lạm phát tới hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Hệ thống Công nghiệp Việt
Nam.
4) Lương Thanh Nga (2010), Một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của lạm
phát tới hiệu quả kinh doanh của mặt hàng điện máy trên địa bàn Hà Nội, Luận văn
khoa kinh tế, Trường đại học Thương Mại.
Luận văn trình bày chi tiết các lý thuyết về lạm phát, tác động của lạm phát tới
hiệu quả kinh doanh của mặt hàng điện máy trên địa bàn Hà Nội. Đồng thời đưa ra
một số giải pháp hạn chế tác động của lạm phát tới hoạt động kinh doanh mặt hàng
này.
5) Vũ Thị Mai (2010), Một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của lạm phát
đến phát triển thị trường mặt hàng cà phê của công ty thực phẩm Miền Bắc, Luận văn
khoa kinh tế, Trường đại học Thương Mại.
Bài viết khái quát các vấn đề lạm phát, nguyên nhân của lạm phát và tác động của
lạm phát tới nền kinh tế nói chung và tới công ty Thực phẩm Miền Bắc nói riêng.
6) Vũ Văn Minh (2011), ‘Tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
Thứ hai: Tác động của lạm phát tới ngành hàng Công nghệ và CNC, cụ thể là
công ty Cổ phần Ứng dụng Công nghệ và CNC Việt Nam từ năm 2008 đến 2011. Từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của lạm phát tới hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty.
4. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đối với cá nhân: Thứ nhất là hệ thống hóa lại những kiến thức kinh tế vĩ mô đã
học, cụ thể là về lạm phát, vận dụng các kiến thức này vào thực tiễn nền kinh tế Việt
Nam và tại doanh nghiệp. Thứ hai, trang bị cho bản thân kỹ năng sử dụng và phân tích
số liệu, cách để giải quyết một vấn đề.
- Đối với doanh nghiệp: Giúp cho doanh nghiệp có những biện pháp để hạn chế
tác động của lạm phát, sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm tiết kiệm tối ưu chi phí
sản xuất đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Đối với Nhà nước: Qua đề tài này giúp cho cơ quan nhà nước có những điều
chỉnh linh hoạt về các chính sách chống lạm phát, nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô.
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng của đề tài chính là mối quan hệ giữa lạm phát và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó thấy được tác động của lạm phát tới hoạt động sản
xuất kinh doanh của CTCP Ứng dụng công nghệ và CNC Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các lý thuyết về
lạm phát, ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất
kinh doanh ngành hàng công nghệ và CNC nói riêng, từ đó đưa ra kết luận và đề ra
các biện pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của lạm phát đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh ngành hàng công nghệ và CNC.
- Phạm vi về không gian: Đề tài xem xét ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh
tế nói chung và tìm hiểu ảnh hưởng của nó tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
ngành hàng công nghệ và CNC, cụ thể là tại CTCP Ứng dụng công nghệ và CNC
- Phương pháp phân tích dữ liệu định tính:
Dưới sự minh họa của các đồ thị, hình ảnh chúng ta phân tích đánh giá tổng quan
về nền kinh tế nói chung của đất nước dưới sự ảnh hưởng của lạm phát trong giai đoạn
2008-2011 và sự ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động kinh doanh của CTCP Ứng
dụng công nghệ và CNC Việt Nam thông qua các bản báo cáo tình hình kinh doanh
của công ty.
6. Kết cấu khóa luận
Khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về lạm phát và tác động của lạm phát tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Tác động của lạm phát tới tình hình sản xuất kinh doanh của ngành
hàng Công nghệ và CNC.
Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị nhằm giảm thiểu tác động của lạm phát tới
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Chương I: Một số lý luận cơ bản về lạm phát và tác động
của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là vấn đề khá quen thuộc, hầu hết ai trong chúng ta đều chứng kiến hay
trải qua thời kỳ lạm phát ở những mức độ khác nhau nhưng để hiểu chính xác lạm
phát là gì thì không phải ai cũng biết. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm
phát.
Milton Friedman đóng vai trò là người sáng lập ra trường phái tiền tệ cho rằng:
“lạm phát ở mọi lúc mọi nơi luôn luôn là hiện tượng của tiền tệ”. Tuy nhiên thực tế đã
chứng minh lạm phát không đơn giản chỉ bắt nguồn từ cung tiền, lạm phát còn xảy ra
xuất phát từ một cú sốc bên ngoài nền kinh tế như cú sốc dầu mỏ năm 1973-1974 hay
lạm phát xuất phát từ sụt giảm trong tổng cung của nền kinh tế.
Các Mác cho rằng lạm phát là “bạn đường” của chủ nghĩa tư bản, ngoài việc bóc
lột người lao động bằng giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản còn gây ra lạm phát để bóc
Trong đó:
CPI là chỉ số tiêu dùng
P
0
: Giá cả hàng hóa, dịch vụ kỳ gốc
P
1
: Giá cả hàng hóa dịch vụ kỳ phân tích.
Q
0
: Số lượng hàng hóa dịch vụ kỳ gốc.
Q
1
: Số lượng hàng hóa dịch vụ kỳ phân tích.
1.2.1.2 Chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số giá sản xuất là chỉ số đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không
tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế quan doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ
cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản
xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán.
1.2.1.3 Chỉ số giảm phát GDP
Chỉ số giảm phát GDP được coi là chỉ số giá phản ánh bình quân giá của tất cả các
hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước. Do vậy chỉ số này có thể nói là toàn diện
hơn chỉ số tiêu dùng CPI vì bao quát hết tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ. Chỉ số này
được dùng để tính giảm phát GDP danh nghĩa và tính GDP thực. Có thể tính chỉ số giảm
phát GDP theo công thức sau:
L
GDP
=
∑
∑
xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các
ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích
lũy của cải.
1.2.2.3 Siêu lạm phát
Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm
phát phi mã. Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là hình ảnh siêu lạm phát điển hình
trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần. Siêu lạm phát thường
gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên chúng cũng ít xảy ra.
Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển thường
diễn ra trong thời gian khá dài, vì thế hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn.
Chính vì thế nhiều nhà kinh tế dựa vào ba loại lạm phát trên kết hợp với độ dài thời
gian lạm phát để chia lạm phát ở các nước này thành ba loại:
- Lạm phát kinh niên thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50% một
năm.
- Lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%
một năm.
- Siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm.
1.2.3 Nguyên nhân của lạm phát
1.2.3.1 Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát xảy ra khi tổng cung tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc
vượt quá tiềm năng. Trong thực tế khi xảy ra lạm phát cầu kéo người ta thường nhận
thấy lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng lên đáng kể và vượt quá
khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa.
Như vậy, bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều để mua một lượng
cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã
đạt cân bằng.
Ta có mô hình tổng cầu: AD = C + I + G + NX.
Ban đầu tổng cầu của nền kinh tế là AD
và nền kinh tế cân bằng trong dài hạn tại
P
P
P’
AS
L
A
S
AD’
AD
Y
E
E’
Đây chính là hình ảnh của nền kinh tế suy thoái (Y’< Y
0
= Y*; P’>P
0
) nhưng
không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp
Đồ thị minh họa:
Hình 1.2 Lạm phát do chi phí đẩy
1.2.3.3 Lạm phát do dự kiến
Trong nền kinh tế tiền tệ, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải
có xu hướng giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này tăng đều đều với
một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này gọi là lạm phát ỳ và vì mọi người có
thể dự tính trước mức độ của nó nên còn được gọi là lạm phát dự kiến.
Mọi hoạt động kinh tế sẽ trông chờ vào nó để tính toán điều chỉnh (ví dụ điều
chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả các hợp đồng kinh tế, )
Y = Y*Y’
P
P’
Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền
P
P
1
Y
P
AS
3
P
3
P
2
AS
2
AS
1
AD
1
AD
2
AD
3
E
1
E
2
E
3
kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cầu, thì cũng
dẫn đến lạm phát.
động này xét trên hai phương diện. Thứ nhất, lạm phát cao dẫn đến sản xuất bị đình
đốn làm cho nguồn thu thuế bị giảm sút. Thứ hai, lạm phát cao đồng nghĩa với việc
đồng tiền bị mất giá, do vậy với cùng một số lượng tiền thu từ thuế thì giá trị nguồn
thu thực tế của nó sẽ giảm xuống.
1.3 Tác động của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh ngành hàng công
nghệ và CNC
1.3.1 Tác động của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung
1.3.1.1 Lạm phát và chi phí
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, lạm phát tăng
cao làm tăng hầu hết các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất,
chi phí nhân công, chi phí quản lý, bán hàng, thuê kho bãi, điều đó làm tổng chi phí
sản xuất kinh doanh tăng lên ảnh hưởng đến các hướng đầu tư của doanh nghiệp, buộc
các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh nhằm tối đa hóa chi phí để có thể tồn tại
và cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, lạm phát dẫn đến tình trạng tăng giá chung của toàn nền kinh tế. Điều
đó có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của sự
tăng giá chung. Vì vậy, nếu doanh nghiệp có các biện pháp tốt để tối thiểu hóa chi phí
như tìm được những nhà cung ứng với giá thấp hơn, phân phối tốt chi phí nhân công,
thì việc tăng chi phí chung trong nền kinh tế lại có thể trở thành một lợi thế của doanh
nghiệp.
1.3.1.1 Lạm phát và năng suất lao động
Năng suất lao động chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: thời gian lao
động, trình độ thành thạo, kinh nghiệm, tinh thần làm việc, tiền lương và các chế độ
đãi ngộ khác,… Trong đó, chính sách tiền lương là một trong số những yếu tố chính
tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp, đặc biệt trong thời kỳ lạm phát
cao. Một chính sách tiền lương khoa học, hợp lý sẽ có tác dụng động viên, khuyến
khích công nhân viên chức phấn khởi, tích cực lao động, nâng cao năng suất và ngược
lại. Ngoài ra, lạm phát xảy ra, giá cả leo thang gây tâm lý bất ổn đối với người lao
động, điều này sẽ ảnh hưởng tới năng suất lao động. Thêm vào đó, để giảm bớt khó
khăn trong thời kỳ này, một số doanh nghiệp đã chọn giải pháp cắt giảm số lao động,
Trước tình hình lạm phát cao, khó khăn trong huy động vốn cùng với sự chững
lại của các dự án đã khiến nhiều doanh nghiệp phải điêu đứng, các dự án đầu tư hay
phát triển sản phẩm bị đình trệ, không mở rộng được sản xuất kinh doanh, các hoạt
động PR và quảng bá bị cắt giảm để tiết kiệm chi phí,… Đó là một số nguyên nhân
dẫn đến giảm thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, tùy thuộc vào khả
năng nhạy bén, ứng phó cũng như quản trị của doanh nghiệp mà có thể dẫn tới các kết
quả khác nhau. Có doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ phải thu hẹp sản xuất kinh doanh,
ngừng hoạt động, thậm chí lâm vào phá sản; lại có doanh nghiệp chớp được cơ hội để
mở rộng thị phần, nâng cao vị trí trên thị trường
1.3.2 Tác động của lạm phát tới các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành hàng
Công nghệ và CNC
1.3.2.1 Tác động tới chi phí
Khó khăn trong huy động vốn
Trong thời kỳ lạm phát chính sách tiền tệ chặt của chính phủ gây không ít khó
khăn cho doanh nghiệp. Các ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất cho vay khiến doanh
nghiệp tiếp cận với nguồn vốn này càng khó khăn hơn, hoặc phải chịu một mức chi phí
vốn vay cao Ngoài ra, khi lạm phát tăng cao, tiền mất giá, người dân không muốn
giữ tiền mặt hoăc gửi tiền vào ngân hàng bởi lẽ mức lãi suất danh nghĩa của tiền gửi
thấp hơn tỉ lệ lạm phát. Họ chuyển sang nắm giữ vàng, bất động sản, ngoại tệ mạnh,
khiến một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể của xã hội nằm im dưới dạng tài sản “chết”.
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng công nghệ thì nguồn vốn cần
cho hoạt động sản xuất là rất lớn. Vì vậy tiếp cận nguồn vốn khó khăn, thiếu vốn đầu
tư, các doanh nghiệp không thể tích lũy để mở rộng sản xuất.
Chi phí nguyên vật liệu tăng cao
Lạm phát tăng cao kéo theo đó là giá cả nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng cao,
đặc biệt là giá xăng dầu, giá điện tăng trong năm vừa qua đã làm không ít doanh
nghiệp phải lao đao. Các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng công nghệ và CNC cũng
không ngoại lệ. Các nguyên vật liệu chính dùng để sản xuất như sắt, thép, nhôm màu,
hộp số, động cơ… trong thời gian qua có nhiều sự biến động, ảnh hưởng lớn đến hoạt
động của các doanh nghiệp.
Khi có lạm phát hầu hết giá cả các hàng hóa đều tăng cao, đặc biệt là các mặt
hàng thiết yếu. Giá cả các sản phẩm công nghệ và CNC không tăng hoặc có tăng chút
ít. Tuy nhiên, khi có lạm phát khách hàng cũng sẽ cắt giảm những khoản chi phí không
thực sự cần thiết. Số lượng đơn đặt hàng ít hơn, hoặc sản phẩm sản xuất ra không tiêu
thụ được. Điều này có thể làm cho các doanh nghiệp không thực hiện được các mục
tiêu về doanh thu cũng như mục tiêu về lợi nhuận.
1.3.2.4 Tác động tới lợi nhuận
Như ta đã biết: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Lạm phát cao khiến cho các yếu tố đầu vào tăng cao, chi phí tăng cao làm tăng
chi phí của doanh nghiệp. Nếu tốc độ tăng của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của doanh
thu sẽ làm cho lợi nhuân của doanh nghiệp bị sụt giảm.
1.3.2.5 Tác động tới thị phần
Hiện nay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành hàng Công nghệ và CNC
trên thị trường Việt Nam tương đối nhiều, đặc biệt là khi khoa học công nghệ ngày
càng phát triển thì việc xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này là
điều tất yếu, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ khốc liệt hơn. Khi lạm phát xảy ra,
doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tuy nhiên sẽ có những doanh nghiệp có tiềm
lực tài chính mạnh, biết tận dụng cơ hội sẽ mở rộng được quy mô sản xuất, tăng thị
phần và ngược lại sẽ có những doanh nghiệp không có những chính lược kinh doanh
phù hợp sẽ phải thu hẹp quy mô sản xuất, mất dần thị phần thậm chí phải phá sản.
Chương II: Tác động của lạm phát tới tình hình sản xuất
kinh doanh của ngành hàng công nghệ và CNC
2.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến hoạt động
của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành hàng công nghệ và CNC
2.1.1 Tình hình lạm phát của Việt Nam trong những năm gần đây
Năm 2011, kinh tế Việt Nam một lần nữa lại chứng kiến sự biến động mạnh của
lạm phát và những bất ổn đi kèm. Ngoại trừ năm 2009, lạm phát ở mức thấp là do sự
suy giảm của tổng cầu và sự rớt giá nguyên vật liệu đầu vào do khủng hoảng kinh tế
toàn cầu thì những năm gần đây lạm phát của Việt Nam luôn ở mức hai con số và vượt
xa mục tiêu đặt ra của chính phủ.
2.1.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
ngành hàng công nghệ và CNC.
2.1.2.1 Môi trường vĩ mô
Môi trường kinh tế
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đã tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp phát triển. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới có
nhiều diễn biến phức tạp cùng với đó là khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng
tới hầu hết các nước trên thế giới, nhưng trong bối cảnh đó Việt Nam vẫn được đánh
giá là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Gói kích
cầu năm 2009 đã mang lại những hiệu quả nhất định đối với nền kinh tế nói chung và
các doanh nghiệp nói riêng. Tuy nhiên tình hình lạm phát của Việt Nam trong những
năm gần đây lại trở nên đáng báo động đã ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh ngành hàng Công nghệ và CNC. Đây là lĩnh vực khá đặc thù và
tưởng chừng như không bị ảnh hưởng nhiều bởi lạm phát nhưng sự thật thì hoàn toàn
ngược lại. Trong thời kỳ lạm phát, giá cả các nguyên liệu đầu vào tăng cao, các doanh
nghiệp phải cắt giảm chi phí nên các đơn hàng được ký kết cũng giảm đáng kể. Điều
này ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Môi trường chính trị- pháp luật
Trước tình hình chính trị thế giới đang bất ổn thì Việt Nam có thuận lợi lớn nhất
là một nước chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của chính Đảng duy nhất. Nhìn chung,
hệ thống hành lang pháp luật của nước ta được cải thiện một cách rõ rệt. Pháp luật
thông thoáng hơn dành cho các doanh nghiệp, bên cạnh đó thì thời gian gần đây thì
nhà nước cũng chủ trương ưu tiên phát triển khoa học – công nghệ, đó là một thuận lợi
lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng công nghệ và CNC. Ngoài ra các
tiêu chuẩn về kinh doanh, quy định về cạnh tranh cũng được áp dụng nhằm tạo ra
môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch. Điều này làm cho các doanh nghiệp nói
chung và doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng công nghệ và CNC nói riêng có điều
kiện để cạnh tranh và phát triển.
Môi trường văn hóa- xã hội
Môi trường văn hóa, xã hội là một yếu tố có tác động không nhỏ đến ngành công
trên thị trường hiện nay như: Công ty Liên Á kinh doanh các sản phẩm máy nhập từ
Đài Loan và Pháp; Công ty Weld Tech tự sản xuất và kinh doanh máy nhập từ Nhật
Bản; Công ty cổ phần Ứng dụng công nghệ và CNC Việt Nam …Có thể nói cường độ
cạnh tranh trong ngành là rất lớn, việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh là việc cần thiết
để giữ vững và mở rộng thị trường đối với các doanh nghiệp.
Khách hàng: Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định tới sự sống còn của
các doanh nghiệp. Đối tượng khách hàng mà các doanh nghiệp công nghệ và CNC
hướng đến đó là tất cả các cá nhân, doanh nghiệp trên toàn quốc. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp thường chú trọng đến những khách hàng là các doanh nghiệp để tìm kiếm
những đơn hàng lớn. Vì vậy việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường và tìm
kiếm khách hàng được các doanh nghiệp rất quan tâm.
2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành hàng công nghệ và
CNC
2.2.1 Thực trạng ngành công nghệ và CNC Việt Nam
Công nghệ và CNC là một ngành đầy hứa hẹn trong tương lai. Năm 2011, ngành
công nghệ và CNC là một trong 10 ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Các sản
phẩm của ngành chủ yếu phục vụ cho ngành công nghiệp then chốt như: công nghiệp ô
tô, xe máy, viễn thông, ….Nếu như vài năm trước, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất
hàng công nghệ và CNC chỉ dừng lại ở việc lắp ráp gia công và công nghệ còn lạc hậu
rất nhiều so với khu vực và thế giới. Thì những năm gần đây, có nhiều doanh nghiệp
trong ngành đã ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, từng bước nghiên cứu,
thiết kế và đưa vào chế tạo được nhiều sản phẩm, về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu
thị trường nội địa. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành hàng năm đạt khoảng 20-
30%.
Về xuất khẩu, trong năm vừa qua thì sản phẩm công nghệ và CNC là một trong
những sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD, điều này chứng tỏ các sản
phẩm công nghệ và CNC của Việt Nam đã đáp ứng được phần nào yêu cầu về chất
lượng của thị trường thế giới.
Hiện nay ở Việt Nam có hơn 200 doanh nghiệp trong nước sản xuất kinh doanh
ngành hàng công nghệ và CNC, đa phần là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ của
2008 2009 2010 2011 So sánh
09/08 10/09 11/10
Doanh thu 13.542.145 17.521.050 21.975.515 27.435.324 +29,3% +25,4% +24,8%
Chi phí 11.254.576 14.250.400 18.205.260 23.721.451 +26,6% +27,7% +30,3%
LN trước thuế 2.287.543 2.985.272 3.549.856 3.712.567 +30,5% +18,9% +4,6%
LN sau thuế 1.699.031 2.218.071 2.554.386 2.669.299 +30,5% +15,2% +4,5%
(Nguồn: phòng kinh doanh CTCP Ứng dụng công nghệ và CNC Việt Nam)
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng doanh thu, chi phí, lợi nhuận của công ty qua
các năm từ 2008 đến 2011 đều có xu hướng tăng lên. Cụ thể như sau:
Năm 2008: Là năm mà nền kinh tế Việt Nam đối đầu với khủng hoảng kinh tế
toàn cầu. Đây cũng là năm mà công ty chính thức đi vào hoạt động được một năm.
Trong năm 2008, công ty đã gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu sản phẩm mới
và tìm kiếm khách hàng. Lạm phát tăng cao 19,89%, con số cao nhất trong hơn thập
kỷ trở lại đây. Trong bộn bề khó khăn nhưng doanh thu của công ty vẫn đạt hơn 13,54
tỷ VNĐ. Lợi nhuận sau thuế đạt gần 1,7 tỷ VNĐ.
Năm 2009: Có thể nói đây là năm mà nước ta đang từng bước thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế. Lạm phát năm 2009 được kiềm chế ở mức 6,88% đã tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp ổn định sản xuất, kinh doanh. Ngoài các khách hàng truyền thống
như Panasonic (PEDV), Yamaha (YMVN), Machino (MAP)…. Bằng sự lỗ lực của
mình trong tháng 04/2009, ban lãnh đạo công ty với phương châm chủ động tìm
khách hàng nhằm đạt chỉ tiêu doanh thu bán hàng trong tháng, công ty đã ký kết hợp
đồng đối tác chiến lược với công ty TNHH xây lắp chế tạo và cung cấp thiết bị công
nghiệp Thành Long và công ty TNHH ABB. Đây là những khách hàng lớn và đầy tiềm
năng của công ty. Tổng doanh thu của công ty đạt được hơn 17,5 tỷ đồng, tăng 29,3%
so với năm 2008, tổng chi phí tăng 26,6%. Lợi nhuận sau thuế của công ty tăng cao đạt
hơn 2,2 tỷ đồng, tăng 30,5% so với năm 2008.
Năm 2010: Tính đến cuối năm 2010, công ty đã đạt sản lượng tăng gấp 1,3 lần
so với năm 2009, doanh thu đã tăng lên đạt gần 22 tỷ VNĐ, đưa lợi nhuận sau thuế của
công ty từ 2,2 tỷ VNĐ năm 2009 lên 2,55 tỷ năm 2010. Tuy nhiên ta cũng có thể thấy
rằng tuy doanh thu có tăng 25,4% nhưng tốc độ tăng của chí phí lên tới 27,7%, điều