Lời Mở đầu
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập giữ vị trí quan
trọng và tạo ra tài sản cố định. Trong nền kinh tế quốc dân. Trong những
năm gần đây, nền kinh tế nớc ta có tốc độ tăng trởng khá cao. Đã tạo nên
động lực, thu hút đầu t cho xây dựng. Thị trờng xây dựng trở nên sôi hơn
trớc. Nhiều biện pháp kỹ thuật, và công nghệ tiên tiến đợc áp dụng, điều
này tạo một bớc khá xa về tốc độ xây lắp, về qui mô công trình, về chất
lợng tổ chức và xây dựng. Nh vậy với tốc độ xây dựng này thì tình hình
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng càng trở nên mạnh mẽ. Điều
đó buộc sản phẩm của doanh nghiệp khi sản xuất ra phải đợc khách hàng
chấp nhận về giá cả cũng nh chất lợng. Chính vì vậy vấn đề đặt ra là
doanh nghiệp phải thực hiện tích kiệm chi phí sản xuất nhằm hạ giá
thành các công trình xây lắp điều này là sự quan tâm hàng đầu của mọi
doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế thị trờng, bởi vì chỉ tiêu chi phí
là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Cùng với một số công ty trong cả nớc, Công ty Xây dựng
Sông Đà 12 thuộc Tổng công ty Xây dựng Sông Đà đã từng bớc đổi mới
công nghệ tự hoàn thiện để nâng cao trình độ và phơng pháp quản lý các
công trình xây dựng để bắt nhịp cùng xu thế chung. Đồng thời hạ giá
thành xây lắp nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Với kiến thức đã học và tích luỹ trong nhà trờng kết hợp với tài liệu
cùng quá trình thực tế tại công ty em chọn đề tài:
Một số biện pháp
nhằm giảm giá thành các công trình xây dựng ở Công ty Xây
dựng Sông Đà 12. Trong giai đoạn 2002- 2010.
Đề tài gồm
:
Phần I
:
Lý luận chung về giá thành công trình xây dựng trong
doanh nghiệp xây dựng.
thực hiện công tác xây lắp, hay giá thành sản phẩm xây dựng là toàn bộ
chi phí cần thiết để xây dựng, mở rộng hay trang thiết bị lại kỹ thuật cho
công trình.
Giá thành của sản phẩm xây dựng chịu ảnh hởng của nhiều nhân
tố, và nó là một phạm trù kinh tế có liên quan đến hạch toán kinh tế. Do
đặc điểm của sản phẩm xây dựng đó là sự phụ thuộc chặt chẽ vào điều
kiện đa phơng có tính đa dạng cao về công dụng và kết cấu phức tạp,
tính chất này ảnh hởng trực tiếp đến thay đổi năng xuất lao động xã hội,
giá cả vật t.
Nh vậy, giữa giá sản phẩm xây dựng và chi phí sản xuất có sự
giống và khác nhau. Chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm. Nh -
ng không phải tất cả chi phí sản xuất phát sinh đều đợc tính vào giá
thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm biểu hiện lợng chi phí để hoàn
thành việc sản xuất, còn chi phí sản xuất thể hiện chi phí mà doanh
nghiÖp ph¶i bá ra ®Ó s¶n xuÊt. Gi¸ thµnh s¶n phÈm biÓu hiÖn chi phÝ c¸
biÖt cña doanh nghiÖp ®Ó s¶n xuÊt ra s¶n phÈm.
1.2. Phân loại các chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng
Trong doanh nghiệp xây dựng các chi phí sản xuất bao gồm nhiều
loại, có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau, yêu cầu quản lý đối
với từng loại chi phí cũng khác nhau. Việc quản lý sản xuất, tài chính,
quản lý chi phí sản xuất không những dựa vào số liệu tổng hợp về chi phí
sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng chi phí theo từng
công trình, hạng mục công trình trong thời kỳ nhất định. Vì vậy chi phí
sản xuất đợc phân theo các tiêu thức sau:
1.2.1. Phân loại theo khoản mục giá thành:
Đối với doanh nghiệp xây dựng do đặc thù riêng của nó nên khi
phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có:
- Chi phí trực tiếp : gồm các chi phí có liên quan trực tiếp đến kết
cấu công trình hoặc trực tiếp phục vụ cho việc hoàn thành công trình ấy.
Nó gồm những chi phí về nhân công và chi phí về nguyên vật liệu đã làm
liệu phụ, nhiên liệu, thiết bị xây dựng cơ bản sử dụng cho sản xuất và
quản lý sản xuất.
- Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền công và các khoản phải trả
cho ngời lao động.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ chi phí phải tính
khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác : Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá
trình sản xuất, ngoài các yếu tố trên.
Việc phân loại chi phí sản xuất thành các yếu tố chi phí cho doanh
nghiệp thấy rõ kết cấu tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản
xuất phục vụ cho nhu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp để phân
tích tình hình thực hiện dự toán chi phí, xác lập dự toán chi phí sản xuất
kinh doanh cho kỳ sau.
1.2.4. Phân loại chi phí sản xuất và chi phí chung:
- Chi phí cơ bản: Là những khoản chi phí chủ yếu cần thiết trong
quá trình sản xuất sản phẩm, kể từ lúc thi công cho đến lúc hoàn thành
công trình. Chi phí này chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành công trình.
Bởi vậy, để quản lý tốt những khoản chi phí này phải thực hiện định mức
tiêu hao cho từng khoản mục và phải tìm mọi biện pháp giảm bớt định
mức đó. Chi phí cơ bản bao gồm:
+ Chi phí vật liệu (không gồm chi phí vật liệu và nhiên liệu, đã
tính vào chi phí sử dụng máy thi công).
+ Chi phí nhân công (không gồm chi phí nhân công sử dụng máy
thi công).
+ Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm : Chi phí khấu hao cơ
bản, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ, máy móc thiết bị thi công, động
lực, tiền lơng sử dụng máy thi công và các chi phí khác của máy thi
công.
- Chi phí chung: Là các khoản chi phí không liên quan trực tiếp
đến quá trình xây dựng công trình, xong cần thiết để quản lý và phục vụ
t... Do nguyên nhân chủ quan của bản thân xí nghiệp.
Giá trị dự toán công
trình, hạng mục công
trình
=
Giá thành dự toán của
từng công trình, hạng
mục công trình
+
Lãi định
mức
Giá thành kế hoạch
công tác xây lắp
=
Giá thành dự toán
công tác xây lắp
-
Mức hạ giá
thành
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, giá thành công tác
xây lắp còn đợc theo dõi trên hai chỉ tiêu là giá thành của sản phẩm. Xây
lắp hoàn chỉnh và giá thành khối lợng, hoàn thành qui ớc, tùy theo phơng
thức thanh toán khối lợng xây lắp hoàn thành.
Giá thành của sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh là giá thành của
những công trình, hạng mục công trình, đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật và chất lợng theo thiết kế và hợp đồng bàn giao đã đợc chủ đầu
từ nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
Giá thành khối lợng xây lắp hoàn thành qui ớc là khối lợng hoàn
thành đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn các điều kiện:
- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lợng mỹ thuật.
đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành. Xong giữa
hai đối tợng này lại có quan hệ mật thiết với nhau. Về bản chất chúng
đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí. Số liệu đã tập hợp đợc trong
kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm hoàn thành.
Trong doanh nghiệp xây dựng, hai đối tợng này thờng phù hợp với
nhau. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất thờng là các hạng mục công
trình, các công trình theo đơn đặt hàng. Còn đối tợng tính giá thành là
các hạng mục công trình hoàn thành.
II. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp công
trình
1. Khái niệm và căn cứ lập giá thành công trình
1.1. Khái niệm:
Trong xây dựng ngời ta không thể đánh giá trớc cho một công trình
toàn vẹn, nhng ngời ta có thể định giá trớc cho từng loại công việc xây
dựng, từng bộ phận hợp thành công trình thông qua đơn giá xây dựng.
Giá công trình xây dựng thuộc dự án đầu từ là toàn bộ chi phí cần
thiết để xây dựng mới, cải tạo mở rộng hay trang bị lại kỹ thuật công
trình.
1.2. Căn cứ lập giá thành công trình
1.2.1. Khối lợng công tác khi lập tổng dự toán công trình thì khối
lợng công tác (cho xây lắp, đào đắp đối với thi công đờng) và các chi phí
khác đợc xác định theo thiết kế kỹ thuật đợc duyệt (với công trình thiết
kế hai bớc) hoặc theo thiết kế bản vẽ thi công (với công trình thiết kế
một bớc).
Khi lập dự toán hạng mục công trình hoặc loại công tác riêng biệt.
Thì khối lợng công tác đợc xác định theo bản vẽ thi công.
1.2.2. Các loại đơn giá:
ở đây bao gồm các loại đơn giá chi tiết, đơn giá tổng hợp, đơn giá
công trình, giá chuẩn tính cho một đơn vị diện tích xây dựng khối lợng
đào đắp hay một đơn vị công suất mà cách sử dụng chúng đợc qui định
Tổng mức dự toán công trình đợc xác định theo công thức sau:
2.2.1 Xác định giá trị dự toán xây lắp:
Khoản mục này bao gồm các chi phí sau :
- Chi phí giải phóng mặt bằng thi công.
Tổng dự toán
công trình
=
Chi phí
xây lắp
+
Chi phí mua
sắm thiết bị
+
Chi phí
dự phòng
- Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi
công.
- Chi phí để thực hiện các hạng mục công trình
- Chi phí gia công lắp đặt các thiết bị tiêu chuẩn (nếucó).
- Chi phí di chuyển lớn các thiết bị thi công và lực lợng xây dựng.
Công thức tính xác định nh sau :
G
xl
= Z
dt
+ P
đm.
Trong đó : G
xl
mới, đất cấp III
1*80*4*0.1=32.000
Tổng cộng=32.000
m
3
32 10.526 335.832
2 HE.112 Bê tông gạch vỡ, lót
móng vữa TH25
1*80*4*0.1=32.000
Tổng cộng = 32.000
m
3
32 93.061 14.523 2.977.952 464.736
3 HA.1313 Bê tông nền đờng
mác 200 đá 1x2=
bê tông gạch vỡ
m
3
32 358.092 19.612 12.041 11.458.994 627.584 385
.31
2
Tổng giá thành 14.436.896 1.429.152 385
.31
2
2.2.2. Xác định giá trị dự toán mua sắm thiết bị công nghệ
Trong loại này bao gồm có chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và
các trang thiết bị khác của công trình, chi phí vận chuyển, bảo quản, bảo
dỡng tại hiện trờng và bảo hiểm thiết bị công trình.
Chi phí mua sắm thiết bị đợc xác định theo số lợng thiết bị từng
loại và giá trị tính cho một tấn, hoặc thiết bị tơng ứng. Trong giá trị tính
==
+=
H
i
j
k
i
iK
MNG
11
Trong đó :
k : Số loại chi phí khác thuộc nhóm tính theo định mức tỷ lệ hoặc
bảng giá.
N
i
: Chi phí khác. Thứ i thuộc nhóm tính theo định mức tỷ lệ hoặc
bảng giá.
h: Số loại chi phí khác thuộc nhóm tính bằng cách lập dự toán chi
tiết.
M
j
: Chi phí khác thứ j thuộc nhóm chi phí tính bằng cách lập dự
toán chi tiết.
2.2.4. Xác định dự toán chi phí dự phòng
Mức chi phí dự phòng có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào giai đoạn
lập dự trù kinh phí và theo loại dự án đầu t.
Theo qui định hiện hành của Việt Nam dự toán chi phí dự phòng đ-
ợc tính theo công thức sau.
G
DP
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau. Dự toán khác
nhau, nhng cùng thi công trên cùng một địa điểm do một đội công trình
sản xuất đảm nhiệm nhng không có điều kiện quản lý, theo dõi việc sử
dụng các chi phí khác nhau, cho từng hạng mục công trình thì từng loại
chi phí đã đợc tập hơn trên toàn công trình đều phải tiến hành phân bổ
cho từng hạng mục công trình. Khi đó đợc phân bổ theo công thức sau:
Z thực tế của từng hạng mục công trình = G
đi
* H.
Trong đó : H : tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế
G
đi :
Giá trị dự toán của công trình thứ i.
Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế (H) đợc xác định
%100*
=
dt
G
C
HC : Tổng chi phí thực tế của cả công trình
Gđt
: Tổng dự toán tất cả các hạng mục công trình.
* Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phơg pháp này áp dụng trong trờng hợp doanh nghiệp nhận thầu
: Chi phí xây lắp các giai đoạn.
III. ý nghĩa của hạ giá thành sản phẩm tại Công ty Xây
dựng Sông đà 12
1. Thực chất và ý nghĩa của hạ giá thành sản phẩm
1.1. Thực chất của hạ giá thành sản phẩm
Hạ giá thành sản phẩm có thể hiểu là việc giảm chi phí trong các
yếu tố đầu vào cấu thành nên giá thành sản phẩm. Điều này chỉ có thể
làm đợc khi doanh nghiệp bố trí lao động một cách hợp lý, tiết kiệm
nguyên vật liệu, để làm cho cùng một lợng chi phí bỏ ra. Phải sản xuất
đợc lợng sản phẩm lớn hơn với chất lợng cao hơn. Nh vậy, thực chất của
hạ giá thành sản phẩm là tiết kiệm lao động sống và lao động vật hoá
cho một đơn vị sản phẩm đầu ra.
1.2. ý nghĩa của hạ giá thành sản phẩm
Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất hoạt động
trong cơ chế thị trờng điều đó buộc các doanh nghiệp phải hết sức quan
tâm đến việc giảm giá thành sản phẩm. Đối với doanh nghiệp việc hạ giá
thành có ý nghĩa rất lớn.
a. Trong doanh nghiệp nói chung.
Hạ giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm. Khi thị
trờng hàng hoá phong phú, đa dạng mà có cạnh tranh, để tiêu thụ đợc sản
phẩm. Các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất lợng sản phẩm và mặt
khác phải tìm biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành. Việc hạ giá thành sẽ
tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, doanh nghiệp có thể
giảm giá bán để tiêu thụ nhanh sản phẩm.
Hạ giá thành là yếu tố quan trọng để tăng lợi nhuận. Nếu giá sản
phẩm của doanh nghiệp càng thấp so với giá bán trên thị trờng thì doanh
nghiệp sẽ thu đợc lợi nhuận trên 1 đơn vị sản phẩm càng cao. Bên cạnh
đó nó còn tạo cho doanh nghiệp có thể giảm bớt vốn lu động, sử dụng
vào sản xuất hoặc mở rộng thêm sản xuất sản phẩm khi hạ giá thành do
hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với Công ty Xây dựng Sông
đà 12. Khi tham gia dự thầu các công trình trên thị trờng, xây dựng nơi
mà có rất nhiều Công ty có khả năng cạnh tranh lớn nh Tổng Công ty
Xây dựng Hà Nội, Tổng Công ty Xây dựng Trờng Sơn...
Bên cạnh việc tăng khả năng cạnh tranh và hạ giá thành công trình
xây dựng, còn làm tăng uy tín với khách hàng cũng nh với Tổng Công ty
để nhận đợc các công trình do Tổng Công ty giao xuống. Khi sự cạnh
tranh giữa các Công ty trong Tổng Công ty cũng rất gay gắt.
Sau khi xây dựng xong thuỷ điện Hoà Bình. Tổng Công ty cũng
nh Công ty chịu ảnh hởng nặng nền của thời kỳ hậu Sông Đà. Vấn đề
giải quyết việc làm cho công nhân là đòi hỏi cấp bách. Do vậy hạ giá
thành công trình giúp cho Công ty tăng khả năng thắng thầu. Từ đó giải
quyết việc làm cho công nhân và tăng thu nhập.
IV. Các nhân tố ảnh hởng đến giá thành công trình
1. Biện pháp tổ chức thi công
Trong xây dựng tổ chức thi công là công tác quan trọng nó quyết
định đến chất lợng công trình, thời gian thi công, giá thành công trình
khi lập biện pháp thi công thì căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Bản vẽ thiết kế.
+ Yêu cầu công nghệ, kỹ thuật của công trình.
+ Năng lực cán bộ công nhân viên.
+ Việc tổ chức thi công ảnh hởng đến giá thành công trình qua
việc tổ chức công nghệ và bố trí lao động hợp lý, kế hoạch khai thác
nguyên vật liệu.
Do đặc điểm về xây dựng có những công việc nặng nhọc phức tạp
đòi hỏi phải có sự tham gia của máy móc nên viêc bố trí máy móc hợp lý
sẽ đảm bảo đúng tiến độ công trình đảm bảo đợc chất lợng. Bên cạnh đó
vấn đề tổ chức máy móc hợp lý sẽ tăng đợc năng suất lao động do việc tổ
chức máy móc hợp lý sẽ thực thi đợc nhiều công đoạn trong thi công mà
không phải di chuyển, tháo lắp qua đó tạo điều kiện cho công việc thi
Sản phẩm trong xây dựng thờng có kết cấu phức tạp không gian
lớn, do vậy với mỗi công trình có những yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật khác
nhau. Cũng có những nhu cầu về máy móc thiết bị, công nhân,... khác
nhau. với công trình lớn nhu cầu về máy móc và công nhân yêu cầu để
đáp ứng cho thi công đúng tiến độ có thể sẽ vợt quá khả năng đáp ứng
của đơn vị nhận thi công. do vậy để đáp ứng đợc doanh nghiệp thi công
sẽ phải mua máy móc thiết bị mới hoặc thuê máy móc và lao động bên
ngoài điều này sẽ làm giá thành công trình sẽ tăng lên. Cũng nh vậy yêu
cầu kỹ thuật mỹ thuật công trình, cũng tác động đến nhu cầu về vật liệu,
nguyên liệu cho thi công. Đối với công trình có yêu cầu kỹ thuật mỹ
thuật công trình phức tạp đòi hỏi phải có nguyên vật liệu tốt nhiều khi
trong nớc không sản xuất đợc bắt buộc phải nhập từ nớc ngoài với giá
cao. Do đó làm đôi giá công trình lên đồng thời khối l ợng vật liệu lớn
cần phải bảo quản vận chuyển do đó sẽ làm tăng chi phí về vận chuyển
và bảo quản vật liệu.
5. Địa điểm xây dựng
Trong xây dựng địa điểm xây dựng công trình có tính chất lu động.
Do vậy, con ngời và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình
này đến công trình khác. Có địa điểm, có địa hình phức tạp do vậy phát
sinh nhiều các khoản chi phí cho khâu di chuyển. Lực lợng lao động và
công trình tạm phục vụ thi công, hơn nữa địa điểm xây dựng khó khăn,
đông dân c sẽ làm tăng chi phí cho giải phóng mặt bằng, nhất là đối với
thi công đờng. Thời tiết khắc nghiệt sẽ ảnh hởng đến tiến độ công trình
chi phí bảo quản, xếp, dỡ và vận chuyển đến chân công trình qua đó làm
tăng giá thành công trình.
Đối với từng địa phơng quy định về định mức sử dụng giá nhân
công vật liệu cũng khác nhau. Do đó ít nhiều ảnh hởng đến giá thành.
Mặt khác có thể một số địa phơng có nguồn vật liệu tại chỗ giá thành rẻ
mà phục vụ tốt cho thi công đấy cũng là một nhân tố có thể giảm đ ợc giá
thành sản phẩm.
bố rải rác. Đồng thời các công trình đó cũng phục thuộc nhiều vào điều
kiện của địa phơng. Xây dựng mang tính cá biệt hay đa dạng về công
dụng, vì vậy cần có sự linh hoạt về cách thức cấu tạo và phơng pháp chế
tạo. Bên cạnh đó sản phẩm của công ty có thể là những công trình lớn
chẳng hạn nh khu công nghiệp Thuỷ Điện...có kích thớc lớn, thời gian
thi công dài, thời hạn sử dụng khá lâu có thể hàng thập kỷ, thế kỷ.
- Các công trình còn mang tính chất cơ sở hạ tầng cho nên nó là sự
tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội, nghệ thuật, quốc phòng.
Ngoài ra những sản phẩm của công ty thuộc loại những công trình xây