ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG HÀ CHI
QUY LUẬT CỦA TƯ DUY
DƯỚI GÓC NHÌN LOGIC BIỆN CHỨNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………… 1
1. Lý do chọn đề tài…………………………….…………………… 1
2. Tình hình nghiên cứu……………………… ……………………… 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp của luận văn 9
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
8. Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 : BẢN CHẤT, CÁC LOẠI HÌNH VÀ QUY LUẬT CỦA
TƯ DUY 10
1.1. Nguồn gốc và bản chất của tư duy 10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi khoa học ngoài việc làm rõ vấn đề đối tượng nghiên cứu riêng thì đều
phải lấy việc nhận thức các quy luật của lĩnh vực đối tượng đó làm mục đích của
mình. Vì thế sau việc xác định được đối tượng của mình thì mọi khoa học đều cần
phải khảo sát các quy luật làm cơ sở và chi phối sự tồn tại, vận động của đối tượng
đó, lôgic học cũng không là ngoại lệ. Đối tượng của môn khoa học này đã được
thống nhất xác định từ lâu khá rõ ràng - đó là “các hình thức và quy luật của tư duy
đúng đắn dẫn đến chân lý”. Ngay ở sự xác định đối tượng của lôgíc học đã rõ một
trong những nhiệm vụ của nó là “nghiên cứu quy luật của tư duy”. Nhưng trong
việc nghiên cứu các quy luật tư duy cần phải phân biệt các quy luật của chính các
hiện tượng tác động một cách khách quan với các quy luật phản ánh chúng vào ý
thức con người nhận thức các quy luật đó.
Như vậy, lôgíc học phải nghiên cứu dường như cả hai loại quy luật, trong khi
phần lớn các khoa học khác chỉ nghiên cứu các quy luật khách quan thuộc về khách
thể. Nói khác, lôgíc học cần phải làm rõ cơ sở khách quan (nguyên mẫu) của các
quy luật lôgíc tác động trong tư duy con người. Sau khi được khám phá thì các quy
luật này, cũng như các quy luật tự nhiên đối với các khoa học chuyên ngành, trở
thành đối tượng nghiên cứu chuyên môn của lôgíc học. Chúng cần được phát biểu
chính xác, được xác định miền tác động, tính chất mối quan hệ giữa chúng với
nhau và với những tính quy luật vốn là nguyên mẫu của chúng… Xung quanh
những vấn đề này hiện vẫn còn những ý kiến khá phân tán. Một số học giả cho
rằng, chỉ có một quy luật cơ bản của tư duy nhưng biểu hiện sự tác động của mình
khác nhau trong các loại hình tư duy và quy luật của tư duy chỉ là sự phản ánh tính
quy luật nào đó của hiện thực khách quan vào đầu óc con người; số khác lại cho
rằng, số quy luật đó là khá nhiều và không như nhau trong các loại hình tư duy,
ngoài những quy luật tư duy là sự phản ánh những tính quy luật của hiện thực
khách quan, thì còn có những quy luật đặc thù chỉ riêng của tư duy; có ý kiến phủ
2
3
Mặt khác, quá trình hiện thực sống động đang diễn ra hết sức phức tạp và đầy
mâu thuẫn, khả năng điều chỉnh, chế ngự chúng phụ thuộc rất lớn vào việc con
người nhận thức hiện thực đó bằng tư duy của mình xác thực đến đâu. Đây cũng là
lý do buộc chúng ta phải đẩy mạnh nghiên cứu các vấn đề của tư duy. Ngoài ra,
còn một thực tế nghề nghiệp nữa là, đâu đó vẫn có những người phản đối lôgíc biện
chứng. Họ khẳng định, dường như không có thứ lôgíc nào như thế và rằng đó chỉ là
tên gọi khác của phép biện chứng. Nếu có nó như là khoa học lôgíc bên cạnh lôgíc
hình thức, thì cũng phải rõ các quy luật đặc thù của tư duy mà nó nghiên cứu. Tuy
nhiên, lôgíc biện chứng, theo lời họ, dường như không đưa ra bất kỳ quy luật đặc
thù nào của tư duy. Những quy luật mà nó vận dụng, cả về thực chất lẫn hình thức
đều là những quy luật chung của phép biện chứng (lượng đổi thành chất, thống nhất
và đấu tranh các mặt đối lập, phủ định của phủ định). Tương tự như vậy đối với các
nguyên lý của phép biện chứng (mối liên hệ phổ biến và phát triển).
Vì thế nếu phân tích các quy luật tư duy, mà chỉ dừng lại ở việc chỉ ra chuyện,
quá trình tư duy tuân thủ các quy luật chung của phép biện chứng, mà không vạch
ra tính đặc thù của sự tác động của chúng trong lĩnh vực tư duy, thì ta không thể
đáp trả đòn đánh chủ yếu mà những kẻ phản đối lôgíc biện chứng tung ra chống lại
nó như là khoa học lôgíc đặc thù. Nói tóm lại, những đòi hỏi trong quá trình học
tập, và cả về lý luận lẫn thực tiễn đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn vấn đề Quy luật
của tư duy dưới góc nhìn lôgíc biện chứng làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tư duy con người và quy luật của nó luôn thu hút sự quan tâm nghiên
cứu của các nhà triết học. Đối với các nhà nghiên cứu mácxít “tư duy” thường nổi
lên là vấn đề có tính thời sự, hiện đại mà việc triển khai nó quyết định tới việc phát
triển lôgíc học biện chứng mácxít, tới sự hội nhập của dòng tư tưởng mácxít vào
thế giới đương đại. Bởi liên quan đến nó không chỉ là cách hiểu về thực chất đối
tượng của lôgíc học, mà còn là cách hiểu thực đúng về bản chất của các quy luật tư
duy.
1
Từ đây và tiếp sau này: số thứ nhất chỉ tên tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo, số in nghiêng - tập của tài liệu,
số cuối cùng chỉ trang của tài liệu. Đôi khi sau số in nghiêng, còn một số La mã nữa chỉ phần của tập
(ví dụ: [43, 46, I; 379] là C. Mác, Ph. Ănghen: Toàn tập, t. 46, phần I, tr. 379)
5
lên thế giới bên ngoài” [39; 330] nhưng về mặt tồn tại “trong trực quan nó thể hiện
chính như hình thức của các sự vật được tạo nên bởi con người như hình thức của
ý chí hướng đích bị tha hoá vào chất liệu bên ngoài” [39; 329]. Trong cuốn sách
của Ilencov còn có các bút ký 10 “Lôgic của “Tư bản”” và 13 “Mâu thuẫn như là
phạm trù của lôgic học biện chứng” đề cập trực tiếp đến những quy luật lôgíc, nhất
là quy luật mâu thuẫn, sự phê phán cách hiểu hình thức, siêu hình về nguồn gốc và
sự tác động của các quy luật này trong tư duy.
V.V. Đavưđôv, nhà nghiên cứu những vấn đề lôgíc - tâm lý học cấu trúc các
môn học trong cuốn sách Các dạng khái quát hoá trong dạy học [15], cũng góp
tiếng nói đồng thuận với Ilencov trong cách hiểu duy vật biện chứng về bản chất
của tư duy. Trong quá trình nghiên cứu về tư duy theo quan điểm duy vật biện
chứng ông đã dựa trên những tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, và
những kết quả nghiên cứu của các nhà mácxít hiện đại, trong đó có Ilencov. Trong
chương VII “Những luận đề cơ bản của lí luận duy vật biện chứng về tư duy”, tác
giả đã đưa ra những đánh giá quan trọng khi hiểu tư duy không như quá trình tâm
lý chủ quan diễn ra trong đầu từng cá thể mà như “sự vận động của nền văn hoá
loài người”, coi chủ thể đích thực của tư duy là con người xã hội, đồng thời luận
chứng cho sự chuyển hoá các hình thức và tính quy luật của tự nhiên thành các
hình thức hoạt động của con người, sự di truyền các hình thức hoạt động thông qua
“tư duy tập thể” làm chức năng lưu giữ, tái tạo chúng. Cuốn sách của V.V.
Đavưđôv góp thêm nguồn tài liệu cho sự tiếp tục nghiên cứu “tư duy”.
Bộ sách Lịch sử phép biện chứng [75] của Viện Hàn lâm khoa học Liên xô
gồm 6 tập do tập thể các cán bộ Viện triết học dịch và xuất bản những năm cuối
thế kỷ XX cũng là nguồn tài liệu quan trọng nghiên cứu hệ vấn đề “tư duy”. Nói
Hơn thế nữa trong các bài viết đã nêu nhiều tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa
các quy luật của hai loại lôgíc học xuất phát từ sự khác nhau về đối tượng trong hai
khoa học lôgíc đó. Mỗi sự vật và hiện tượng có vô số các thuộc tính, các mối quan
hệ, nhưng tư duy hình thức chỉ nắm lấy một mặt, một mối liên hệ trong vô số
7
những thuộc tính hay những mối liên hệ đó và “trừu tượng hoá” những mặt những
thuộc tính còn lại. Do đó tư duy lôgíc hình thức chỉ thể hiện được những điểm
không bản chất của đối tượng. Đó là sự “đồng nhất trừu tượng” giữa tư duy và tồn
tại. Còn lôgíc biện chứng xem xét đến tính “đồng nhất cụ thể”, do đó tư duy ở đây
không những phản ánh những cái chung nhất mà còn phản ánh cả những cái đặc
thù và cái cá biệt. Sự chuyển hóa giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất làm
cho nội dung tư duy phát triển. Từ sự khác biệt về đối tượng như đã nói thì quy
định sự khác biệt về quy luật của tư duy trong mỗi loại lôgíc. Có thể nêu ra đây tên
một số tác giả tiêu biểu đã có các nghiên cứu về quy luật nói chung và quy luật của
tư duy nói riêng là Phạm Văn Chúc: Góp phần tìm hiểu vấn đề quy luật và nhận
thức quy luật [9]; Vũ Văn Viên: Chính xác hoá các quy luật của lôgíc học hình
thức [72]; Nguyễn Cảnh Hồ: Mấy ý kiến trao đổi xung quanh các quy luật của
lôgic học [27] . Các tác giả đều đã đưa ra ý kiến của mình về nhận thức quy luật và
phân biệt quy luật của hiện thực và quy luật của tư duy.
Xuất phát từ việc coi quy luật mâu thuẫn là quy luật cơ bản của phép biện
chứng, một số tác giả đã đi sâu tìm hiểu sự tác động của quy luật này trong tư duy,
cơ chế phản ánh các mâu thuẫn của hiện thực khách quan vào ý thức con người.
Nguyễn Ngọc Hà: Một số suy nghĩ về đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn xã hội [17];
Mấy ý kiến về sự thống nhất và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập [18];
Mấy suy nghĩ xung quanh phạm trù mâu thuẫn đối kháng [19]; Một số vấn đề nhận
thức quy luật và mâu thuẫn [20] ; Nguyễn Tấn Hùng: Sự phân biệt giữa mâu
thuẫn biện chứng và mâu thuẫn lôgíc hình thức [35]; Lê Đức Quảng: Biện chứng
của mâu thuẫn [48] Những nghiên cứu này phần nào đề cập đến việc giải quyết
những mâu thuẫn trong tư duy, sự khác biệt giữa sai lầm về nội dung và không
- Đối tượng nghiên cứu là quy luật lôgic hình thức, quy luật lôgic biện chứng
và mối quan hệ của chúng.
- Phạm vi nghiên cứu: quan điểm biện chứng từ triết học cổ điển Đức đến triết
học Mácxít
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
9
- Luận văn được tiến hành dựa trên các nguyên lý phát triển và liên hệ phổ
biến của triết học Mác - Lênin, quan điểm mác-xít về sự đồng nhất tư duy và tồn
tại, sự đồng nhất phép biện chứng, lôgíc học và lý luận nhận thức, về quy luật của
tư duy trong các khoa học lôgic
- Luận văn sử dụng các phương pháp phân và tích tổng hợp, diễn dịch và quy
nạp, so sánh, khái quát hoá, thống nhất lôgic và lịch sử.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã góp phần soi tỏ thêm vấn đề bản chất và nguồn gốc xã hội của tư
duy, chỉ ra những hình thức thể hiện của nó trong sự nhận thức của con người hiện
thực; hệ thống hoá lại các quan điểm khác nhau về quy luật của tư duy, trình bày
nội dung và bản chất của quy luật tư duy theo quan niệm của lôgic học biện chứng.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn xem xét những vấn đề căn bản của tri thức lôgíc học: tư duy nói
chung, các khoa học nghiên cứu nó, những quy luật của nó và của các khoa học
này, vì vậy việc hiểu rõ những vấn đề đó có thể là cơ sở và sự gợi mở cho những
nghiên cứu lý thuyết tiếp theo trong lôgíc học.
Luận văn có thể còn dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên triết
học nghiên cứu các quy luật của phép biện chứng, cho sinh viên chuyên ban lôgíc
học ở các môn học tương ứng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có nội
dung gồm hai chương chia thành 6 tiết.
Trước hết cần làm sáng tỏ vấn đề sự hình thành tư duy và các loại hình khác
nhau của nó. Tư duy được lôgíc học biện chứng xem xét như là “một qúa trình hoạt
động khách quan của loài người, là sự vận động của nền văn hoá loài người, của xã
hội với tư cách là chủ thể đích thực của tư duy” [10; 153].
11
Tư duy của một người riêng biệt là sự vận hành của những hình thức hoạt
động xã hội trong qúa trình lịch sử mà người đó tiếp thu được. Một trong những
hạn chế cơ bản của lôgíc học hình thức truyền thống là đã không xem xét tư duy
của cá nhân như một chức năng đã phát triển trong qúa trình lịch sử của “chủ thể
loài đích thực” của tư duy mà nó lĩnh hội được. Sẽ không thể hiểu được sự phát
sinh cá thể của tư duy ở từng cá nhân, nếu không biết được những mốc cơ bản của
sự phát sinh loài của nó trong lịch sử nhận thức của nhân loại. Đây là điều quan
trọng đối với luận văn bàn về quy luật tư duy.
1.1.1. Hoạt động thực tiễn - cơ sở của tư duy con người
Hoạt động thực tiễn có đối tượng, hoạt động sản xuất – tức là lao động, là cơ
sở của toàn bộ nhận thức của con người. Tất cả các hình thái tư duy đều đã sinh
thành và vận hành dưới hình thức đã được định hình trong qúa trình lịch sử hoạt
động cải tạo thiên nhiên bởi con người. Ăngghen đã viết: “Nhưng chính việc người
ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới
tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con
người đã phát triển song song với việc người ta học cải biến tự nhiên” [43, 20;
720]. Việc phân tích nguồn gốc, bản chất và sự phát triển của tư duy cần phải bắt
đầu từ việc làm sáng tỏ những đặc điểm của hoạt động lao động của con người.
Đối với con người, các đối tượng của tự nhiên thể hiện như các đối tượng tác
động và như các phương tiện chế tạo công cụ để tác động. Mác viết: “Một vật do
bản thân thiên nhiên cung cấp đã trở thành một khí quan của sự hoạt động của con
người, khí quan mà con người đem chắp thêm vào những khí quan của cơ thể mình,
và do đó mà kéo dài cái tầm thước tự nhiên của cơ thể đó, bất chấp cả Kinh thánh”
[43, 23; 268].
sự vật đó có một hình thức vận động xác định. Ăngghen đã nhận xét: “Việc các vật
thể ấy đều có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động lẫn
nhau, và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động” [43, 20; 520]. Thế là tính
chất trực tiếp của sự vật được lấy đi – nó nhận được sự tồn tại gián tiếp và trong sự
vận động của mình nó biểu lộ ra “những mối liên hệ nội tại”.
13
Nhà triết học Xô viết L. K. Naumencô viết: “Cái nội tại, bản chất khác với cái
bề ngoài là chỉ tồn tại trong quan hệ. Nó có sự tồn tại không phải là trực tiếp mà là
tồn tại phản ánh gián tiếp trong chính nó” [45; 250].
Sự vật có được tính chất gián tiếp đó trong quan hệ với chính nó, nhưng chỉ
thông qua những cách thức hoạt động xác định của con người hình thức vận động
của sự vật được tái tạo trong hoạt động đó. Nhà tâm lý học Xô viết nổi tiếng A. N.
Lêônchev viết: “Lao động bằng công cụ đặt con người không phải là đứng trực tiếp
trước các đối tượng vật chất, mà là đứng trước sự tương tác của các đối tượng đó
do chính con người tạo ra và kiểm tra. Chính trong qúa trình này, con người nhận
thức được các đối tượng” [42; 50]. Ở đây có hai điều quan trọng: Một là, sự tái tạo
được thực hiện nhiều lần, trong những điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài thường
xuyên biến đổi. Thứ hai, các cách thức hoạt động đó được con người truyền lại cho
nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác, và để làm được việc đó con người phải sử
dụng những “khuôn mẫu”, những “chuẩn mực” của các cách thức đó. Cả hai điều
đã nêu đều đòi hỏi con người phải tách ra và ghi lại những điều kiện quyết định,
thực sự cần thiết của việc tái tạo hình thức vận động của sự vật. Những gì ngẫu
nhiên đều “được sàng lọc” ra, chỉ còn lại những điều kiện thực sự tất yếu và quyết
định, các cách thức hoạt động được thể hiện trong khuôn mẫu xã hội của chúng.
Như vậy, sự biến đổi các sự vật trong qúa trình lao động đã làm sáng tỏ các
thuộc tính bên trong, bản chất và các hình thức vận động tất yếu của chúng. Lênin
đã viết: “Hoạt động của con người tự tạo cho mình một bức tranh khách quan về
thế giới, nó làm biến đổi hiện thực bên ngoài, thủ tiêu tính quy định của hiện thực
này (= biến đổi mặt này hay mặt khác, tính chất này hay tính chất khác của hiện
những điều kiện tái tạo lại một sự kiện này hay khác, thì những điều kiện đó là cần
và đủ, đồng thời chính trong bản thân sự kiện đó hoạt động sẽ được thực hiện một
cách hoàn toàn có quy luật, dưới dạng phổ biến, trong sự hoàn thiện nội tại của nó.
Với sự phát triển của hoạt động thực tiễn mang tính xã hội theo nguồn gốc và
cách thức thực hiện, con người bắt đầu tái tạo được trong hoạt động đó bất kỳ sự
vật nào của tự nhiên (về nguyên tắc), cũng như tạo ra được cả những sự vật mà
trong tự nhiên chỉ có dưới dạng tiềm tàng. Sở dĩ làm được như vậy, vì con người
15
quan hệ với tự nhiên bằng cả tư thế loài của mình, bằng toàn thể loài người. Chỉ
trên cơ sở các nhu cầu xã hội, một sự vật này hay khác mới bị lôi cuốn vào thực
tiễn của con người. Chỉ thông qua những nhu cầu ấy, tự nhiên mới trở thành hiện
thực cho sản xuất xã hội. Nó sẽ biến đổi các các sự vật của tự nhiên theo các quy
luật khách quan của chúng, khám phá ra những khả năng riêng của chúng và hoàn
thiện chúng từ bên trong. Mác viết về vấn đề này như sau: “Việc tạo một cách thực
tiễn ra thế giới vật thể, việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ là sự tự khẳng định của con
người với tư cách là một sinh vật có tính loài có ý thức. Cố nhiên, con vật cũng sản
xuất. Nhưng con vật chỉ sản xuất cái mà bản thân hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó
sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện, còn
con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên Con vật chỉ xây dựng theo kích
thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo kích thước
của bất kỳ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất của mình vào đối tượng;
do đó con người cũng xây dựng theo các quy luật của cái đẹp” [43, 42;136 - 137].
Nhà nữ triết học Xô viết G.A. Đavưđôva viết: “Con người thành thước đo của
mọi sự vật, là do tái tạo được trong cách thức hoạt động của mình với các sự vật
những hình thức tồn tại và phát triển phổ biến của chính bản thân các sự vật.
Những hình thức phổ biến đó chỉ ở con người, ở trong hoạt động của con người
mới nói lên dưới dạng thuần khiết như chúng vốn có.” [16; 303].
Nhờ tính vạn năng của thực tiễn, cũng như sự thể hiện trực tiếp của nó trong
“giới tự nhiên người hoá”, ta tìm được thước đo riêng (tính chất phổ biến) của nó,
Ăngghen viết: “Mắt chim đại bàng nhìn thấy xa hơn mắt người rất nhiều, nhưng
mắt người nhận thấy trong sự vật được nhiều hơn mắt đại bàng rất nhiều. Con chó
thính mũi hơn loài người rất nhiều, nhưng nó không có mảy may khả năng phân
biệt được những mùi đã giúp cho con người đoán chắc được nhiều sự vật khác
nhau” [43, 20; 546 - 547].
Dĩ nhiên, những dấu hiệu đó có ý nghĩa đối với con người chỉ do thực tiễn sử
dụng các sự vật ngày càng mở rộng và thực tiễn định hướng trong các sự vật đó.
Do thực tiễn đó mà sự vận động của các giác quan dường như “thấm hút” vào
chúng – trong hình thức nhận thức độc đáo – mục đích và cách thức hoạt động thực
17
tiễn – sự vật của con người và các thuộc tính tương ứng với hoạt động đó của các
sự vật.
Dần dần, thế giới các đối tượng do loài người tạo ra và sự định hướng trong
thế giới đó, trở thành cơ sở hoạt động của bản thân các cơ quan phân tích. Điều này
đã được Mác miêu tả rành mạch trong luận điểm sau: “Chỉ có nhờ sự phong phú đã
được phát triển về mặt vật chất, của bản chất con người, thì sự phong phú của tính
cảm giác chủ quan của con người mới phát triển và một phần thậm chí lần đầu tiên
được sản sinh ra… Sự hình thành năm giác quan là công việc của toàn bộ lịch sử
thế giới đã diễn ra từ trước đến nay” [43, 42; 175 - 176].
Hoạt động lao động – về bản chất là mang tính xã hội – gắn liền với việc con
người tách ra và truyền thụ cho nhau các quy tắc hành động, kiến thức tương ứng
với các quy tắc đó về đối tượng. Tất cả những cái đó đều được hình thành trong
ngôn ngữ và nhờ ngôn ngữ mà trở thành tài sản tập thể.
Lúc đầu con người định hướng vào những đối tượng này hay khác cho trước
một cách cảm tính, giống nhau và lặp lại, thoả mãn những nhu cầu của họ, hoặc có
thể dùng làm cơ sở cho các thao tác lao động và phân phối sản phẩm. Ăngghen
nhận xét: “Ở giai đoạn phát triển rất sớm của xã hội, nảy sinh nhu cầu nắm lấy quy
tắc chung của các động tác lặp đi lặp hàng ngày của sản xuất, phân phối, trao đổi
sản phẩm.” [43, 18; 272].
nghĩa là các biểu tượng có tính chất khách quan, bởi vì các tiêu chuẩn đó đã được
xây dựng trên nhu cầu chủ quan của con người. Nhưng đó chỉ là kết quả của việc
nhìn qua một lần mà thấy như thế thôi, bởi vì đó là các nhu cầu của cả loài, gắn liền
với những nhu cầu của cả nền sản xuất phổ biến. E. V. Ilencôv viết: “ Xuất hiện
một hình thức suy tưởng đặc thù của con người – năng lực nhìn thấy tất cả những
cái riêng đối với tôi mà không đem lại chút lợi lộc gì riêng cho cá nhân, nhưng rất
quan trọng và đáng quan tâm theo quan điểm quyền lợi của tất cả những người
khác, của sự phát triển chung của họ xét theo quyền lợi của loài” [38; 241]. Nền
sản xuất xã hội đòi hỏi con người phải định hướng vào các thuộc tính của các đối
tượng, đảm bảo cho sự thay đổi theo quy luật khách quan của chúng phù hợp với
19
những mục đích đề ra. Chỉ những thuộc tính khách quan của các đối tượng mới trở
thành cần thiết cho các mục đích đó, tức là trở thành khách quan không những theo
nghĩa là độc lập với con người trong chính sự tồn tại của chúng mà còn theo nghĩa
là chúng có giá trị khách quan đối với thực tiễn xã hội con người, không phụ thuộc
gì vào ý muốn chủ quan hay sự chọn lọc ngẫu nhiên những thuộc tính này hay khác
của một người riêng rẽ nào. Mác đã diễn tả điều này như sau: “Con người sử dụng
những thuộc tính cơ học, lý học, hoá học của các vật, để tuỳ theo mục đích của
mình, dùng những vật đó với tư cách là những công cụ tác động vào các vật khác”
[43, 23; 268].
Như vậy, hoạt động cảm giác – một thành phần của các thao tác thực tiễn của
con người – có thể tái tạo được trong các hình thức cố hữu của nó cách thức tách ra
và đánh giá các đối tượng, các thuộc tính, các quan hệ của chúng. Nhờ thế, hoạt
động này có thể thực hiện được vai trò thiết kế và điều chỉnh trong qúa trình lao
động tập thể. Các lớp sự vật được các giác quan tách ra, cũng như bản thân các
cách thức hoạt động cảm giác đều có tên gọi bằng từ ổn định. Chúng trở thành
phương tiện quan trọng tổ chức bản thân hoạt động của các giác quan. Tất cả những
cái đó khiến cho cảm tính của con người có một số nét đặc thù.
Một là, bản thân phạm vi các sự vật được cảm thụ và các cách thức tách chúng
chính đối tượng. Hoạt động suy tư đã xuất hiện, nó cho phép thay đổi các biểu
tượng trong ý thức, các “đồ án” về sự vật, trong khi vẫn chưa làm thay đổi chính
các sự vật đó trên thực tế.
Sự suy tư về “đồ án” của sự vật dựa trên kinh nghiệm biến đổi thực tiễn
chúng, làm nảy sinh một dạng hoạt động chủ quan của con người mà triết học gọi
là tư duy. Như vậy, thoạt đầu tư duy có nghĩa là phát minh thiết kế “trong óc” đồ án
tư tưởng (phù hợp với mục đích hoạt động tư tưởng) của sự vật hiện thực. Tiếp
theo, tư duy có nghĩa là thao tác làm biến đổi, chuyển hoá mô hình xuất phát của sự
vật phù hợp với đồ án tư tưởng và sơ đồ của hoạt động biến tư tưởng thành vật thật.
Sự “chuyển hoá” các hình mẫu đó có thể thực hiện trên bình diện các biểu tượng
cảm tính cũng như trên bình diện hoạt động suy lý – lời nói gắn liền với biểu
tượng. Nhưng trong cả hai trường hợp, ý nghĩa căn bản đều tập trung ở các phương
21
tiện biểu thị tượng trưng và dấu hiệu của các ý niệm – tức là các chuẩn lời nói và
vật chất miêu tả, biểu đạt các sự vật và các cách thức sản xuất ra chúng. Nhờ các
biểu tượng tổng quát và các phán đoán tiến hành trên cơ sở của chúng mà con
người có thể thực hiện được những suy lý khá phức tạp. Như vậy, sự hình thành
những biểu tượng cảm tính trực tiếp tổng quát gắn kết trong hoạt động thực tiễn tạo
ra những điều kiện cho hoạt động tinh thần rất phức tạp mà chúng ta gọi là tư duy.
Có lẽ, từ những phân tích nêu trên và dựa vào chỉ dẫn của E. V. Ilencôv: “tư
duy là thành tố tư tưởng của hoạt động hiện thực của con người xã hội vốn bằng
lao động của mình cải biến giới tự nhiên bên ngoài và chính mình” [39; 8] các tác
giả cuốn giáo trình Lôgíc học đại cương đã nêu một định nghĩa về tư duy như sau:
Tư duy là sự phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực khách quan vào đầu óc con
người, được thực hiện bởi con người xã hội trong quá trình hoạt động thực tiễn cải
biến thế giới xung quanh [69; 9].
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với cách hiểu này và xin phép sử dụng nó như
một khái niệm công cụ chủ yếu trong luận văn này. Từ định nghĩa trên suy ra, một
là, tư duy sinh ra trong đầu óc con người không phải một cách tuỳ ý và tồn tại