TIẾP NHẬN SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DU TỪ GÓC ĐÔ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA
1/ Tóm tắt: Sáng tác của Nguyễn Du không chỉ có Truyện Kiều, nhưng trong
phạm vi tìm hiểu của nhóm 5, xin khoanh vùng ở phạm vi “Truyện Kiều sống
giữa mọi người”.
Chuyện rằng trong dân gian Nghệ Tĩnh từ cuối thế kỷ XIX, sau các lũy tre làng vào những
đêm trăng sáng thường diễn ra nhiều cuộc hát vi dặm của thanh niên nam nữ giữa hai làng; có
khi là giữa hai huyện cách nhau một con sông nhỏ, hoặc cách nhau mấy quả đồi nhấp nhô của
dãy núi Thiên Nhẫn phân đôi hai tỉnh. Tiếng ca hát vui buồn là biểu hiện khát vọng sống chính
đáng của nhân dân, nhất là phụ nữ, mà ngày nay được mệnh danh là Nhân quyền.
Thời bấy giờ, Truyện Kiêu thường được đông đảo bà con đem ra hát bởi câu chuyện nói lên
được niềm vui sống của cộng đồng, và xem thơ dường thấy có mình ở trong ; dù đang bị vây
hãm giữa vòng tăm tối của chế độ thực dân phong kiến cả về vật chất lẫn tinh thần.
Có những câu hát dân gian bắt nguồn từ Truyện Kiều qua lời kể của lớp người đã khuất cùng
các giai thoại hàng ngày. Thường là sau những câu chào hỏi mở đầu buổi hát, phe bên nữ cất lên
câu đố đậm nét văn thơ. Một cô gái có giọng cao vút, bỗng hát lên: Truyện Kiều anh thuộc làu
làu / Đố anh kể được hai câu vẹn tròn?
Câu đố quá khó, vượt ra ngoài tầm hiểu biết của đông đảo trai làng? Phải có các sinh đồ trẻ,
khá lanh lợi, "thâm nho", ngồi gà phía sau; nếu không kịp thời đáp lại là thua cuộc, chịu bẽ mặt
trước phái nữ.Sau mấy phút bàn tán xì xào, phe con trai bèn cử người cất tiếng đáp lại rõ ràng:
Trăm năm trong cõi người ta / Mua vui cũng được một vài trống canh.
Tiếng vỗ tay chúc mừng, những câu hỏi lại tiếp tục đổ dồn khó khăn hơn…
Nét sáng tạo quý giá nhất của Truyện Kiều là ở chỗ, nhà thơ đã đưa tiếng mẹ đẻ vào văn
chương thành văn rất tự nhiên, góp phần làm giàu cho ngôn ngữ thi ca nước Việt ở cuối thế kỷ
XVIII. Đó là một đóng góp vô cùng quan trọng đáng khâm phục, không dễ gì có được giữa lúc
chữ Hán đang ngự trị, thậm chí cả lời khấn cúng cơm trước bàn thờ tổ tiên, ông bà đã khuất
cũng bằng chữ Hán, dù khi họ chưa hề học chữ nào! Đến tận ngày nay, thế kỷ 21 vẫn rất nhiều
người khấn trước các bàn thờ đền, chùa, miếu, phủ và gia đình bằng chữ Hán!
Một trong những câu đố hay được hỏi nhất là: “Truyện Kiều anh thuộc làu làu/ Đố anh biết
được câu nào toàn chữ Nôm ?” Ôi trời ơi! Khó quá! Làm sao trả lời? Hơn ba ngàn câu thơ, ai
mà thuộc được? Thật ra trong Truyện Kiều có khá nhiều câu lục bát được viết toàn chữ Nôm,
chẳng hạn:
thơ tơ liễu buông mành/ Con oanh học nói trên cành mỉa mai”, nên hễ nhắc hai chữ tơ liễu là thế
nào buông mành cũng hiện lên. Vả lại, trong Truyện Kiều có rất nhiều từ liễu, từ tơ nhưng tơ
liễu thì chỉ xuất hiện ba lần, “tơ liễu mà không buông mành” chỉ có hai lời giải:
2
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha!
Và: Chừng xuân tơ liễu còn xanh
Nghĩ mình chưa thoát khỏi vành ái ân.
Mặt khác, bàn tới Truyện Kiều không thể không nói đến chuyện Bói Kiều. Chẳng biết
tự bao giờ Bói Kiều đã trở thành tập quán tìm ăn sâu vào đời sống thường ngày của nhân dân,
không chỉ tại đất Lam Hồng, mà còn khá phổ biến ở nhiều nơi trên cả nước.
Vào năm 1898, trong bài Tựa viết cho bản Kiều Oanh Mậu (in năm 1902), Hoàng giáp Đào
Nguyên Phổ đã nêu lên câu hỏi tha thiết: "ôi, sao mà lại có văn hay làm say người đến thế! Còn
một điều lấy lâu lạ nữa là người đời dùng để bói, thì thấy ứng nghiệm như thần!".
Ở Hà Tĩnh, trước tháng Tám 1945, hầu hết các gia đình trước bàn thờ ở gian giữa có một
bàn nhỏ cao (yên thư) thường đặt cuốn Truyện Kiều. Ai muốn bói phải gấp cuốn sách lại, rồi
lẩm nhẩm đọc lời khấn (nếu không biết chữ, có thể nhờ bói hộ): "Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác
Duyên, lạy Tiên Thúy Kiều Hôm nay là ngày Con tên là xin bói một quẻ về đường tình
duyên, tài lộc con cái, Con xin bốn câu, trang bên trái, hoặc bên phải ” Bói xong rồi, có
thể có vài người ngồi cạnh cùng giải thơ Kiều, đoán xem mức độ linh ứng về hiệu quả ứng
nghiệm đến đâu, song cái chính là cần sự chân thành!
Hơn nữa, Truyện Kiều còn được Bác Hồ của chúng ta thường hay lấy Kiều trong trò chuyện
đời thường và cả trong ngôn ngữ hành chính. Xa quê Kim Liên 50 năm, lúc về thăm quê, Bác đã
đọc hai câu tập Kiều: Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình!
Đặc biệt, trong diễn văn đón tiếp Tổng thống nước Cộng hòa Ghinê Xê cu Turê tại sân bay Gia
Lâm ngày 15/9/1960, Bác Hồ đã nói: Đến bây giờ mới thấy đây,
Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên.
Kết thúc bản Di chúc cuối đời đầy tâm huyết Bác cũng láy lại câu Kiều tràn đầy ý nghĩa:
Còn non, còn nước, còn người,
dựng vở thanh xướng kịch về Thúy Kiều mang tên Định mệnh bất chợt, gồm 11 chương vào đêm
3 tháng 5-2012 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội.
Và ngày 3 tháng 11 năm 2011, Hội Kiều học - Hội của những người yêu thích Truyện Kiều -
đã được thành lập tại Hà Nội, bước đầu đã có trên 350 hội viên từ Nam chí Bắc cùng một số Việt
kiều và cả người nước ngoài cũng tình nguyện gia nhập Hội. PGS. Nguyễn Văn Hoàn - một
chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu Truyện Kiều được Đại hội bầu làm Chủ tịch Hội. Thời gian
đã chứng tỏ sức sống dài lâu của truyện thơ bất hủ này trong lòng nhân dân.
Như vậy không gian Diễn Xướng trò Kiều của phong trào văn hóa nghệ thuật quần chúng xuất
hiện đầu tiên thuộc vùng Bắc Nghệ An, Nam Thanh Hóa. Một điều giống nhau giữa các vùng miền là các
vai diễn Vân Kiều, Tú Bà đều do phái “mày râu” xâu lỗ tai để sắm vai. Nhận định sự xuất phát đầu tiên
của không gian diễn xướng trò Kiều ở Kỳ Anh, Đức Thọ , Nghi Xuân Hà Tĩnh đều thừa nhận trò Kiều,
chèo Kiều là do người Đằng ngoài vào làm ăn rồi lập phường hát.
2/ Xin giới thiệu kèm theo phần trình bày này một số bài viết về không gian diễn xướng của
Truyện Kiều (bài của Nguyễn Ban - Hậu huệ chi ất đời thứ VI của Đại thi hào Nguyễn Du) ; Đố
Kiều có lắm điều hay (bài viết của Vương Trọng) ; Và các bài viết về trò Bói Kiều, Tập Kiều,
lẩy Kiều (Lược trích trong cuốn “Thú chơi tập Kiều » – Phạm Đan Quế) ; Họa Kiều của
Đông Tảo, Lẩy Kiều của thi sĩ đồng quê Nguyễn Bính.
a/ Truyện Kiều với giá trị không gian diễn xướng
4
Văn học nước nhà có nhiều truyện thơ được chuyển thể sang nhiều những loại
hình diễn ca, diễn xướng như truyện Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm
Tài Cúc Hoa,Thoại Khanh Châu Tuấn, Tấm Cám, Nhị Đỗ Mai, Quan Âm Thị
Kính, Lưu Bình - Dương Lễ, Lục Vân Tiên… Nhưng tác phẩm được chuyển
thể sang nhiều loại hình diễn ca diễn xướng của nghệ thuật sân khấu chuyên
nghiệp và văn nghệ quần chúng thì đó là Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn
Du.
Theo nhà sưu tầm biên soạn Phạm Đan Quế thì các bản đờn tranh và bài ca của Phụng Hoàng Sang
chuyển thể từ Truyện Kiều đã xuất bản tại Sài Gòn từ những năm 1909. Các bài ca tứ tài tử của Đặng
Nhiều Hơn và Đinh Thái Sơn, các bài ca lục tài tử của Đặng Tiền Thân cũng đã xuất bản ở Sài Gòn từ
những năm 1915 thế kỷ XX. Trên tờ báo Gia Định số 52 ngày 29 tháng 12 năm 1896. Có bài quảng cáo
5
Vở kịch "Nguyễn Du với
Kiều" của Nhà hát Tuổi
trẻ
Theo cố Đạo diễn Cao Danh Giá, ông là người Diễn Hoa, Diễn Châu nguyên trưởng đoàn chèo Nghệ An
ông nói các huyện bắc Nghệ An- nam Thanh Hóa đã có nhiều đội trò, trước những năm 1920 huyện Diễn
Châu, qua các cuộc thi có nhiều đội xuất sắc như đội trò Diễn Minh, Diễn Hoa, Diễn Yên, Diễn Hồng…
Hầu hết các đội trò hàng năm đến các dịp lễ tết hội làng lại dựng rạp lên diễn trò nhiều đêm liền. Lên 16,
17 tuổi ông đã tham gia đội trò của làng. Ông nói vui: “Trò vè ngày trước may ra được dăm ba miếng lúc
diễn, còn thôi diễn là khô môi. Thế mà làng kêu là đi suốt không tính toan gì đến việc nhà…”. So với dân
quê tôi, khi làng có đội trò thì đó là ông nói thật. Với diễn viên đội trò ngày đó vì may không có phụ nữ
tham gia hát xướng nên các bà mà có máu chị Hoạn cũng rất vô tư cho chồng con đi theo phường bạn,
chẳng tính gì đến đoạn cơm gạo và so kè hơn thiệt. Ca ngợi phong trào văn hóa của quê hương ông nói:
“Diễn Yên Quỳnh không chỉ là vùng lúa, vùng màu của Nghệ An, mà còn là vùng diễn xướng trò Kiều
của xứ Nghệ trước cách mạng tháng 8 – 1945.
Như vậy không gian Diễn Xướng trò Kiều của phong trào văn hóa nghệ thuật quần chúng xuất hiện đầu
tiên thuộc vùng Bắc Nghệ An, Nam Thanh Hóa. Một điều giống nhau giữa các vùng miền là các vai diễn
Vân Kiều, Tú Bà đều do phái “mày râu” xâu lỗ tai để sắm vai. Nhận định sự xuất phát đầu tiên của không
gian diễn xướng trò Kiều ở Kỳ Anh, Đức Thọ , Nghi Xuân Hà Tĩnh đều thừa nhận trò Kiều, chèo Kiều là
do người Đằng ngoài vào làm ăn rồi lập phường hát. Người Hà Tĩnh gọi người Đằng ngoài là cư dân từ
vùng Nghi Lộc Nghệ An đến các huyện phía Nam Thanh Hóa, xa hơn nữa là người Bắc Kỳ.
Theo tư liệu nhạc sĩ Lê Hàm nguyên trưởng đoàn Kịch thơ Hà Tĩnh sưu tầm cung cấp thì tại Kỳ Anh
trước đây những năm 1930 đã có người Đằng ngoài vào buôn bán, rồi lập phường hát chèo Kiều. Đọc các
tư liệu Kim Vân Kiều diễn ca thì thấy ở Kỳ Anh là nơi trò kiều gọi là chèo Kiều. Ở Diễn Châu các cụ lại
cho Kim Vân Kiều diễn ca là tuồng pha chèo nên gọi là Trò. Ở Nghi Xuân Hà Tĩnh cũng gọi Trò. Hát trò
nghĩa là có hát , có diễn và có làm trò vui. Còn các huyện Bắc Quảng Bình lại gọi là hát Kiều. Nhạc sĩ Lê
Hàm còn cho biết ở Kỳ Anh nhiều xã có đội chèo như Kỳ Văn, Kỳ Bắc, Kỳ Châu, Kỳ Long, Kỳ Tân, Kỳ
Thư, Kỳ Ninh….Riêng đội chèo xã Kỳ Châu thành lập muộn hơn (năm 1954) đến năm 1962 rời rạc rồi
tan rã vì chiến tranh. Theo cụ Hòa đội trưởng: Đội chèo kiều Kỳ Châu không phải do người Bắc thành lập
mà do Cố Cháu Mính người Nhà Chàng tức là làng rèn Trung Lương huyện Đức Thọ vào làm nghề rèn ở
tuổi ngoài 70 – 80. Nghe nói xã Thạch Đồng huyện Thạch Hà gần đây cũng có đội trò diễn tích Truyện
Kiều. Phải nói không gian diễn xướng Truyện Kiều có một phạm vi rộng trên cả 3 miền đất nước. Đó là
chưa đề cập sâu đến hoạt động của các nhà hát, các đoàn tuồng chèo cải lương, kịch dân ca, kịch hát
chuyên nghiệp của các tỉnh thành phố trên phạm vi cả nước.
Ngày nay phong trào diễn ca, diễn xướng trò Kim Vân Kiều lắng xuống và không gian thu hẹp lại, phải
chăng tình cảm với Truyện Kiều của dân ta phai nhạt dần hoặc vì lý do chúng ta nhập vào quá nhiều phim
ảnh Hải ngoại. Là một người một thời làm công tác văn hóa nghệ thuật quần chúng tôi nghĩ không hoàn
toàn như thế. Không thể đổ lỗi cho phim ảnh nước ngoài. Bởi lẽ nhân dân ta rất tự hào, mến mộ và coi
trọng những gì của chính mình của cộng đồng mình làm ra tạo nên. Ngày nay nhà nào cũng có tivi, radio,
nhưng hễ đội văn nghệ thôn tổ chức diễn văn nghệ là nhân dân vẫn kéo về xem đông nghịt. Xem xong
còn ủng hộ cái gọi là để nuôi phong trào. Cụm từ dân gian: “cây nhà lá vườn” vẫn là sở thích về những
hoạt động văn hóa thể thao của nhân dân ta. Năm 2000 khi khôi phục trò kiều cho 2 xã Tiên Điền và
Xuân Liên huyện Nghi Xuân, chúng tôi thấy đêm tập nào cũng có dân đến xem và ủng hộ tiền cho đội trò
của làng luyện tập. Có điều công tác tổ chức chỉ đạo của những người có trách nhiệm vẫn trì trệ và bảo
thủ cái nhận thức cổ hủ: “Chưa có văn nghệ chưa chết ai” hoặc là phong trào gì cũng chỉ rộ lên để ghi
thành tích rồi sau đó xong thôi. Đặc biệt cái nhìn thiên lệch từ khi đất nước thực hiện nền kinh tế thị
trường, xu thế cứng nhắc chỉ quan tâm đến làm thế nào để có thu nhập cao, để bản báo cáo được mọi
người quan tâm chú ý để rồi được nhiều chương trình dự án, ít khi nghĩ đến đời sống văn hóa tinh thần,
cái gì còn, cái gì mất. Giá trị không gian diễn xướng truyện Kiều cũng như nhiều tác phẩm kinh điển của
nước nhà, có tính giáo dục tư tưởng tình cảm nhân cách đạo đức con người - nhẹ nhàng nhưng sâu sắc,
tiếp thu tự giác không gò bó, ràng buộc nhưng nhớ lâu khó quên. Đó cũng là chức năng giáo dục của nghệ
thuật sân khấu cần được giữ gìn phát huy.
Tóm lại không gian diễn xướng nghệ thuật sân khấu nói chung, Truyện Kiều nói riêng tồn tại và phát triển
là tùy thuộc vào nhận thức và tư tưởng tình cảm của con người. Trong tương lai hy vọng sẽ xuất hiện
nhiều tư duy đúng đắn, thiện chí và tâm huyết để xây dựng và phát triển không gian diễn xướng không chỉ
Truyện Kiều mà những tác phẩm kinh điển có giá trị nhân văn của nước nhà. Bảo tồn phất huy văn hóa
truyền thống theo tinh thần “Xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.”
Nguyễn Ban
(Hậu huệ chi ất đời thứ VI của Đại thi hào Nguyễn Du)
Đố anh đọc được một dòng toàn Nho?
8
Giải: “Hồ công quyết kế thừa cơ
Lễ tiên, binh hậu khắc cờ tập công”!
Nhưng có nhiều câu đố đòi hỏi lời giải không phải là một câu Kiều, mà là sự tổng hợp của những
câu, những đoạn khác nhau. Cái khó của lời giải loại này là không chỉ thống kê các câu Kiều, mà
phải xử lý vần để lời giải là một đoạn thơ:
Đố:
Nàng Kiều lưu lạc gian truân
Với người tình, đã mấy lần chia tay?
Giải:
“Dùng dằng một bước một xa”
Chia tay Kim Trọng châu sa đẫm ngày
“Chén đưa nhớ buổi hôm nay”
Chia tay chàng Thúc hẹn ngày năm sau
“Đành rằng chờ đó ít lâu”
Chia tay Từ Hải, lòng đau nhớ nhà
Chiếc thân bèo nổi, sóng sa
Ba lần ly biệt xót xa, tội tình!
Cũng có khi người ra đố không chỉ dùng một vài lời ngắn gọn, mà dùng nhiều câu dắt dẫn, đưa
đẩy để giới thiệu mình hoặc để tỏ tình, trước khi vào nội dung cần đố:
Nữ:
9
“Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”
Phải đâu mèo mả, gà đồng
Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng trước sau:
“Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri”
Thế còn một đạo làm chi?
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!”
Hỏi: Nổi danh tài sắc đủ điều
Tại sao lại bảo nàng Kiều sứt răng?
Đáp: “Hở môi ra những thẹn thùng”
Sứt răng nàng sợ chúng trông, bạn cười!
11
Hỏi: “Song thu đã khép cánh ngoài”
Nàng Kiều chung chạ có thai bao giờ?
Đáp: “Lỡ từ lạc bước bước ra”
“Thất kinh nàng chửa biết là làm sao!”
Hỏi: Đến đây hỏi khách cựu giao
Chàng Kim đau bụng thế nào chàng ơi?
Đáp: “Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày!”
Hỏi: Sinh ra thời buổi chiến chinh
Thúy Kiều có lấy thương binh không chàng?
Đáp: Một tay trời bể ngang tàng
Chồng Kiều, Từ Hải rõ ràng thương binh!
Hỏi: Thời Kiều đã có ngân hàng
Em đây chưa tỏ nhờ chàng chỉ cho?
Đáp:“Nhà băng đưa mối rước vào ”
Tiền nong thanh toán việc nào chẳng xong!
Còn một nội dung đố Kiều khác nữa, là người đố dùng những câu Kiều hoặc lẩy Kiều để đố xem
ý câu đó nói gì. Với nội dung này, người giải phải có óc suy xét, phán đoán mới giải được. Và lạ
thay, có nhiều câu có lời giải có vẻ thật chính xác! Và ở loại này, người ta thường trả lời trực
diện mà ít dùng thơ.
12
Đố:“Trên vì nước, dưới vì nhà”
“Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng” (Là cái gì?)
Giải: Cái máng nước (nằm giữa hai mái nhà)
bói hết quẻ này đến quẻ khác để hỏi về một việc, hoặc nếu ta không ưng với quẻ này mà cố tìm
quẻ khác thì sẽ có phản tác dụng là chỉ gây cho ta thêm hoang mang chứ không giúp tăng thêm
phần quyết định. Tuy nhiên có thể bói vào quẻ cho vài vấn đề thắc mắc riêng biệt, thí dụ: tình
duyên, gia đạo, học hành, thi cử, tiền tài, công danh, bằng hữu, kiện tụng, du lịch, hợp đồng, mua
bán, xây cất
Về cách bói Kiều, hiện có hai cách được sử dụng là bói bằng sách và bói theo cách dân gian.
Với cách bói Kiều bằng sách:
Sách bói trên rõ rệt là của một nhà nho, quen biết với phép bói quẻ dịch như những sách Mai
Hoa dịch số của Thiệu Khang Tiết đời Tống bên Trung Quốc - vì sách cũng dựa vào Bát Quái,
Thập Can, Ngũ Hành, Tam Kì, Các việc muốn cầu hỏi được xếp làm 18 điều (8 quái + 10 can)
đánh số từ 1 đến 18
Người bói chọn 1 trong 18 điều để xem quẻ bói, rồi lấy hai đồng tiền (tiền xưa gọi là trinh, hay
tiền nay gọi là đồng xu) gắn vào đĩa hay khay để xem sấp hay ngửa. Đều ngửa cả là Dương, tức
Thiên. Nếu sấp cả thì Âm, tức Địa. Nếu một sấp một ngửa, là vừa âm vừa dương, tức Nhâm.
Sau khi đã có những Tam tài, chọn một trong 5 chữ Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Kết hợp chữ
đầu về 8 quái và 10 can, rồi hiệp với Tam tài và Ngũ hành sẽ có 4 bảng tra số mục để tìm câu
ứng với nghiệm ( ). Toàn sách bói này chỉ có 54 x 5 = 270 câu lục bát (tức là 540 hàng) cho
270 số mục. Tức là chỉ sử dụng 1/7 văn bản.
Tuy nhiên, cách bói này đòi hỏi sự cầu kỳ, phức tạp nên không còn nhiều người sử dụng.
Cách bói Kiều theo dân gian: Đây là cách bói đơn giản, trực tiếp qua các đoạn thơ, không phải
dựa vào các yếu tố bên ngoài .
Thứ nhất, lấy một cuốn sách có in đầy đủ văn bản Truyện Kiều, bằng chữ Nôm, hoặc chữ quốc
ngữ đều được.
Thứ hai, quyết định muốn xin một quẻ bói về vấn đề gì đang quan tâm, thắc mắc, hoặc hồ nghi
và muốn được tư vấn tất cả mọi việc đều có thể hỏi, càng chi tiết càng cụ thể càng tốt, và chỉ một
việc mà thôi.
14
Thứ ba, ngồi ngay ngắn trước bàn, có thể thắp nhang hoặc trầm cho thêm phần trang nghiêm.
Khấn 3 câu: “Lạy vua Từ Hải /Lạy vãi Giác Duyên/Lạy tiên Thuý Kiều”.
Thứ tư, xưng họ tên, tuổi, và ngày tháng năm xin quẻ bói cũng như vấn đề muốn xem. Việc xưng
Trăm năm trong cõi người ta (câu 1)
15
Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa (câu 2744)
Quản bao tháng đợi, năm chờ (câu 553)
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao (câu 3014)
Những là rày ước, mai ao (câu 3069)
Như nung gan sắt, như bào lòng son (câu 2832)
Dẫu cho sông cạn đá mòn (câu số 1975)
Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay ( câu 324)
Đến bây giờ mới thấy đây ! (câu 2281)
Hoặc mừng bạn làm lễ cưới cho con trai, ta đọc:
Mừng nào lại quá mừng này (2994)
Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng (2840)
Thưa rằng đáng giá nghìn vàng (645)
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha (2428)
Huệ lan sực nức một nhà (1471)
Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu (1967)
Hai bên ý hợp tâm đầu ! (2205)
Những tập Kiều như vậy có thể dài hay ngắn là tùy theo yêu cầu cụ thể và thường có ba mức :
− Từng câu Kiều trong toan bài đểu được giữ nguyên như trong văn bản truyện Kiều;
− Trong một số câu, có thể ngắt bớt một số chữ, đảo lại một câu, hay đổi một cụm từ nhưng
để thay vào đó cũng phải là cụm từ của một câu Kiều Khác;
− Mức độ cuối cùng là có thể thay đổi một số chữ trong các câu Kiều để thay vào bằng
những chữ không có trong Truyện Kiều.
Bài tập Kiều của Nguyễn Bính
Nói đến tập Kiều, cũng cần kể đến bài tập Kiều năm 1965 của Nguyễn Bính và cái chết đột ngột
đời tài hoa long đong, lận đận và những câu sau cùng sao mà nó sái quá: Một lời là một vận vào
khó nghe…
Nguyễn Bính cười trừ:
- Các ông này mê tín! Cứ hay là được rồi. Tôi xin nộp bài này. Một câu một chữ cũng không sửa.
Câu chuyện qua đi…và mọi người chuẩn bị cho một cái tết bận rộn…riêng Nguyễn Bính, muốn
tạo một xuân tha hương nữa, lại chọn ngày giáp tết đến nhà người bạn, bị một luồng gió lạnh,
ông rùng mình thổ huyết và ngất xỉu. Gia đình chủ nhà hết lòng chạy chữa nhưng không kịp nữa
rồi…
Tân thanh đáo để vị thùy dương *
(Tân thanh sau hết ngậm ngùi vì ai)
Nguyễn Bính mất ngay ngày hôm đó tức là 30 tết (20 tháng 1 năm 1966) khi sắp bước sang tuổi
49.”
Một câu chuyện khác: Chúng ta đều biết truyện Kiều tuy là tác phẩm đề cập một vài mảnh đời riêng, nhưng có
sức cảm thông và phổ cập đến mọi hạng người. Trong cuộc đời đầy bất trắc, dường như ai ai cũng thấy một vài câu
thơ trong truyện Kiều nói lên thân phận mình.
Như hoàn cảnh đưa đẩy phải làm một việc liều lĩnh, biết mai kia ra làm sao, người trong cuộc đành chép miệng:
Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu.
Hoặc số phận hẩm hiu, bước trầm luân không dứt, kẻ xấu số đành an ủi:
Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Nói về đường ứng dụng của truyện Kiều thì muôn màu muôn vẻ. Chuyện kể một anh nhà nông đang cày ruộng,
gặp ông thầy đồ đi trên đường, bèn dừng lại nói:
“Thầy hay ngâm Kiều, tôi đố thầy đọc một câu Kiều, mà có thể sai khiến con bò của tôi được.”
Ông thầy đồ thấy khó lắc đầu, anh nhà nông bèn đằng hắng, ngâm câu thơ:
“Nàng rằng" Phận gái chữ tòng,
Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi.”
Anh đọc to chữ đi, nên con bò theo lệnh cất bước kéo cày. Bắt bò dừng lại, nhà nông ta thường thét “hò”. Lần
này anh nhà nông đọc trại chữ “họ” thành “hò” trong câu thơ:
Họ [hò] Từ, tên Hải vốn người Việt Đông,
Thanh khí một dây một buộc ai giằng cho ra,
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ khiến người ngồi đó.
Đến cảnh vướng vào nghiện ngập, mê mẫn như con thiêu thân; được tác giả cực tả qua lối vay mượn truyện
Kiều những văn ảnh đam mê nhục dục và tình ái :
Đuốc hoa để đó nàng nằm, cho mê mẫn đời cho lăn lóc đá.
Hương lửa sẵn đây ta đốt, càng quen thuộc nết càng dan díu tình. (2)
Thêm vào, phải kể đến kỹ thuật chơi chữ trong bài phú đạt đến trình độ cao, tác giả sử dụng khéo léo các từ về
đong lường “phân, lượng" trong nguyên văn truyện Kiều:
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường đã bớt vài bốn phân.
Hoặc:
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.
Để biến thành những thành ngữ nhà nghề trong tiệm hút như “vài phân thuốc”, “hương yên”, "ba trăm lạng
bạc”, “khách khứa xôn xao”:
Được một vài phân, hương khói một nhà thức nức,
Có ba trăm lạng, yến anh ngoài cửa xôn xao.
Cuối bài, với tổng luận về định mệnh khắt khe trong đoạn kết truyện Kiều:
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Được tác giả an ủi thêm rằng, việc này chỉ xẩy ra trong thời nô lệ “Cá chậu chim lồng”, và khuyến khích nghị lực
con người rán “Dìn ngọc giữ vàng, về sau còn nhiều hưởng thụ”:
Cho thanh cao thời thanh cao mới được,
Bắt phong trần phải phong trần như ai.
Ai ơi! Dìn ngọc giữ vàng, về sau còn nhiều hưởng thụ,
Bỏ chi chim lồng cá chậu, làng chơi chưa dễ mấy người.
Xét cho cùng, những lời của người giới thiệu cũng chỉ là rườm rà, không đáng có; mong được độc giả trực tiếp
thưởng thức giá trị văn chương, qua nguyên văn tác phẩm Phú Thuốc Phiện dưới đây:
PHÚ THUỐC PHIỆN
(Thể tập Kiều, lẩy Kiều)
Tay tiên dìu dặt, Lam Điền hạt ngọc ấm đông.
Buộc lấy mình vào,
Gắn bó tất giao.
Thầm mong trộm nhớ,
Rày ước mai ao.
Được một vài phân, hương khói một nhà thức nức,
Có ba trăm lạng, yến anh ngoài cửa xôn xao.
Mái Tây để lạnh hương nguyền, mai dàu giọt tuyết, gương lờ nước thủy,
Song the trông chừng khói ngất, lá màn rũ thấp, ngọn đèn khêu cao.
Gái sắc tài trai,
Mấy mặt làng chơi.
Ngày xanh mòn mỏi,
Má hồng phôi pha,
Từ khi hơi tiếng vừa quen một ngày nặng một,
Đến lúc phong trần rất mực, mười phân vẹn mười.
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da;
bây giờ lạt phấn phai hương, mười phần xuân có gầy ba bốn,
Thao lược gồm tài, côn quyền hơn sức; khi đà
xương mòn thịt nát, chín chục thiều quang ngoài sáu mươi.
Những kẻ hàm én mày ngài, ba sinh cho phỉ
mười nguyền, rồi cũng nợ nần mang lấy,
Những người buôn hùm bán hổ, trăm năm đổ
không một trận, bao nhiêu vốn liếng đi đời.
Não nùng thu ba,
Vắn dài châu sa.
Rằng quen mất nết,
Biết gỡ cho ra!
Chơi cho liễu chán hoa chê, rõ mặt bây giờ rồi sẽ!
Làm cho xiêu đình đổ quán, đoạn trường lúc ấy dở mà!
Có giở bài bây, đến cơ hội này,
Vận nhà suy lược vắt trâm cài
Thương thay cho một chữ tài
Chỉ vì chữ hiếu chịu đày thanh lâu
Lần thứ nhất mày râu nhẵn nhụi
Để thân nàng vướng bụi trần ai
Hỡi ôi con tạo lá lay
Vì đâu nên nỗi đắng cay thế này?
Rũ sắc hương thanh lâu đày ải
Vòng quẩn quanh lại cải thanh y
Kiều nhi ơi bởi cớ chi
Hồng nhan ghen ghét còn gì là thân?
Giữa thư các phong vân mù mịt
Cô thân nàng ngắm bóng tịch dương
Thôi thì cũng đăng an khương
Ngờ đâu sóng gió nhiễu nhương giăng đầy
Một lần nữa sa lầy ca kỹ
Lại một lần mỹ nữ thanh lâu
Giữa nơi vọng gác cao lầu
Mong chi tiếng nhạc được hầu tri âm
Nào ai hiểu cung âm sao trước
Cũng mong chi gặp được nhân tâm
Nhưng sao nàng lại ôm cầm
"Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai."
Đông Tảo
*Các bạn mỗi người viết một phần tiểu luận về cách
ứng xử trong “Truyện Kiều” nhé! Nhóm mình chọn
“Truyện Kiều với những ứng xử trong đời sống vợ
chồng”, bài tiểu luận gồm những mục sau:
1/ Ứng xử vợ chồng trong quan niệm truyền thống
20