Nguyên nhân yếu kém của nền giáo dục Việt Nam - Pdf 12

MỞ ĐẦU
1. Căn cứ lựa chọn chuyên đề:
Tôi chọn “Nguyên nhân yếu kém của nền giáo dục Việt Nam hiện nay” làm
nội dung nghiên cứu của chuyên đề dựa trên những căn cứ sau:
1. Tính cấp thiết.
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI đã khẳng định:
“Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, nhất là đào tạo đại học và
dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đào tạo
chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực. Công tác quản lý còn nhiều bất
cập”. Nước ta cần phải thay đổi căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo để đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xác
định những nguyên nhân yếu kém của nền giáo dục Việt Nam đang là yêu cầu cấp
thiết hơn bao giờ hết.
2. Tình hình nghiên cứu.
Đây là vấn đề nóng trong các hội thảo khoa học và các diễn đàn lớn ở nước
ta. Có rất nhiều nghiên cứu, nhận xét, đánh giá về nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém
trong giáo dục nhưng chưa thẳng thắn nhìn vào vấn đề, dẫn đến những giải pháp
bất hợp lý. Hướng giải quyết thường đi vào hậu quả chứ không triệt để khắc phục
nguyên nhân làm nền giáo dục Việt Nam yếu kém. Kết quả tất nhiên cũng chỉ mang
tính hình thức, bên cạnh đó còn gây lãng phí lớn cho ngân sách.
3. Tính khả thi.
Tuy là một sinh viên hạn chế về mặt kiến thức, chưa được tiếp xúc với
những mô hình giáo dục danh tiếng trên thế giới. Nhưng bù lại, cá nhân người viết
chuyên đề được đào tạo bởi nền giáo dục Việt Nam trên dưới 20 năm. Khoảng thời
gian này nằm trọn trong giai đoạn đổi mới của đất nước từ năm 1986 cho đến nay.
Như vậy là khá đủ để có một cái nhìn trực quan về nền giáo dục Việt Nam hiện nay
cùng những nguyên nhân yếu kém của nó.
1
Với phương pháp khoa học đã được thầy, cô giáo truyền đạt ở trường, tri
thức đúc rút từ lý luận và thực tiễn cùng quan điểm thẳng thắn, không dài dòng tôi

Chương I: Nhận thức chung
1.1 Định nghĩa giáo dục
Theo từ điển tiếng việt: Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức, những
tri thức cần thiết về tự nhiên, xã hội để hình thành các kỹ năng sống và làm việc.
Chiết tự: Giáo có nghĩa chỉ bày, nâng đỡ. Dục là mong muốn trưởng thành.
Do đó, giáo dục là hoạt động chỉ dạy để con người trưởng thành.
Lịch sử đã cho thấy. Mỗi một xã hội có tính độc lập đều tự hình thành cho nó
một nền giáo dục để đào tạo ra lớp người kế cận nhằm duy trì sự phát triển của xã
hội đó. Vậy nên, mọi nền giáo dục đều mang tính chính trị trong nó và đặc trưng
bởi triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo,

Tóm lại có thể hiểu: giáo dục là hoạt động hướng dẫn, chỉ dạy có mục đích
nhằm hình thành khả năng thích nghi với môi trường sống, môi trường làm việc
cho con người.
1.2 Nền giáo dục Việt Nam
Nền giáo dục Việt Nam là một hệ thống thống nhất giữa cơ sở hạ tầng phục
vụ cho giáo dục và kiến trúc thượng tầng tương ứng. Được hình thành do nhu cầu
giáo dục nhân cách và đào tạo nhân lực cho xã hội. Cụ thể hơn, nền giáo dục Việt
Nam bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục như: trường học, viện
nghiên cứu,…; các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục: Vụ, Cục, Sở, Viện,
trung tâm,…; các quan điểm, triết lý, mục tiêu giáo dục,…
Cơ quan chính của nền giáo dục Việt Nam là Bộ giáo dục và đào tạo, nằm
dưới quyền quản lý và điều hành của Chính phủ. Với nhiều đơn vị đào tạo từ cấp
mầm non đến cao đẳng, đại học và sau đại học. Nền giáo dục Việt Nam hiện nay
4
được nhiều cá nhân và tổ chức trong lẫn ngoài nước đánh giá là kém hiệu quả.
Thậm chí còn là gánh nặng cho nền kinh tế khi nguồn nhân lực đào tạo ra không
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của xã hội. Nguyên nhân dẫn đến những yếu kém
này sẽ được trình bày cụ thể ở Chương II.

khả thi, kinh phí, hiệu quả có thể mang lại của từng giải pháp, Kết quả tất nhiên
nghiêng về số đông (hình minh họa):
7
Nguyên tắc tập trung dân chủ được áp dụng không hợp lý dẫn đến tình trạng
kìm hãm nhân tài. Những ý kiến đi ngược với số đông có thể bị quy là đối lập. Câu
chuyện về đồng chí Kim Ngọc, cố Bí thư tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc về biện pháp
khoán đất cho nhân dân để thúc đẩy sản xuất là một ví dụ. Tư tưởng mới, đúng đắn,
sáng tạo, có tính khả thi cao nhưng lại đi ngược với nhận thức của số đông thời bấy
giờ nên ông đã bị phê phán. Nguyên tắc tập trung dân chủ không được áp dụng hợp
lý còn làm nảy sinh bệnh thành tích, bệnh cào bằng, tư duy tiểu nông (tư duy tiểu
nông không xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp manh mún mà xuất phát từ sự sợ
hãi số đông), Mọi người dần quan niệm “xấu đều còn hơn tốt lỏi”. Lực lượng
nhận thức Chủ nghĩa Marx – Lenin theo hướng bảo thủ, giáo điều có điều kiện
thuận lợi để tăng lên nhanh chóng về số lượng.
Vì số đông có sức mạnh như vậy nên nhiều nhóm người kết bè, kéo cánh để
tạo nên số đông thân tín từ đó chiếm lấy quyền quyết định từ tập thể, tạo lợi ích bất
chính từ lợi ích chung. Để làm được điều đó, họ cần màng che không minh bạch
trong hoạt động tuyển dụng nhân sự. Nạn con ông cháu cha đã được rất nhiều báo
đài nhắc đến với chiều hướng không thuyên giảm. Nếu không có quan hệ thân tín
thì người xin việc phải trả cái giá bằng tiền. Theo báo giáo dục và thời đại, “Tại kì
họp HĐND thành phố Hà Nội vào tháng 1 năm 2013, ông Trần Trọng Dực, chủ
nhiệm Ủy ban kiểm tra Thành ủy Hà Nội đã công bố “mức giá sàn” để có cơ hội trở
thành công chức thủ đô không dưới 100 triệu đồng”. Nếu không có tiền hoặc mối
quan hệ thì vấn đề xin việc rất nan giải, không chỉ riêng đối với khu vực Hà Nội mà
còn nhiều tỉnh thành khác.
Những nhóm người nói trên còn tiếp tục tạo ra những màng che không minh
bạch khác như: không minh bạch trong tài chính công, không minh bạch trong hoạt
động quản lý. Không minh bạch trong nền tài chính công tạo điều kiện để tham
nhũng, không minh bạch trong hoạt động quản lý để hạch sách nhân dân (nảy sinh
nạn phong bì trong công việc). Gần đây, những nhóm người này đã lộ diện với cái

đạo kém năng lực phổ biến. Đất nước đang bị chảy máu chất xám từng ngày. Đây
là một lỗi hệ thống không dễ khắc phục. Muốn giải quyết được lại phải nhờ vào
chính số đông hùng hậu nhất, đó là nhân dân.
Theo quy luật về lượng và chất trong hệ thống lý luận Chủ nghĩa Marx –
Lenin thì:

Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ
nhất định, sẽ chuyển hóa thành sự khác nhau về chất.

Sự kém hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan nhà nước tác động liên tục, từng
ít một vào đời sống của nhân dân ở mọi lĩnh vực. Tới một ngưỡng nhất định, khi
cái ăn, cái mặc của nhân dân trực tiếp bị ảnh hưởng thì yêu cầu nâng cao chất lượng
cán bộ trong bộ máy nhà nước, mở rộng cánh cửa thu hút nhân tài không chỉ còn là
khẩu hiệu cần thực hiện mà sẽ trở thành sức ép thật sự.
Trên đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự yếu kém trong nhiều lĩnh vực ở
Việt Nam. Giáo dục cũng nằm trong số đó. Tiêu cực trong tuyển dụng nhân sự
khiến cho cánh cổng thu hút nhân tài vào bộ máy giáo dục bị bóp nghẹt. Áp dụng
không hợp lý nguyên tắc tập trung dân chủ làm cho người tài không có điều kiện để
phát triển. Hệ quả là bệnh thành tích, bệnh cào bằng và gian lận trong giáo dục…
Để tăng tính khách quan cho chứng minh trên, hãy nhìn sang một số nền giáo
dục phát triển. Trước tiên cần thấy rằng những nước phát triển về kinh tế xã hội thì
nền giáo dục cũng phát triển, ví dụ như: Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Singapore,… Và
quan trọng hơn, tất cả những nước này đều có chính sách thu hút, lựa chọn và sử
dụng nhân tài hợp lý, có hiệu quả.
Singapore là một minh chứng rõ ràng nhất cho sự phát triển thần kì nhờ
chính sách thu hút nhân tài. Sau khi tách khỏi Malaysia năm 1965, Singapore đã
gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị. Nhưng với chính sách thu hút nhân tài
cả người trong nước lẫn người nước ngoài, Singapore đã nhanh chóng trở thành
một nước phát triển vào cuối thế kỉ 20. Giờ đây, đời sống kinh tế xã hội của
10

Thứ nhất, khả năng sống: Mỗi cá nhân sinh ra cần có mục đích sống và
những kỹ năng sống cơ bản để có thể tồn tại trong môi trường.
Thứ hai, những chuẩn mực cơ bản: Mỗi xã hội có những chuẩn mực cơ bản
riêng cần được tuân theo và dĩ nhiên xã hội cần ở con người những chuẩn mực này.
Ví dụ: hiếu, lễ với cha, mẹ, ông, bà. Yêu quý đồng bào, dân tộc. Nhận thức về
chân, thiện, mỹ,…
Thứ ba, yêu cầu về tư tưởng chính trị: Là yêu cầu từ tổ chức cao nhất trong
xã hội – hệ thống chính trị. Nhằm xây dựng một hệ tư tưởng nhất định, đảm bảo sự
tồn tại và duy trì hoạt động bình thường cho hệ thống chính trị đó.
Thứ tư, hiểu và tuân thủ pháp luật: Con người sống trong xã hội có pháp luật
thì phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật – điều kiện bắt buộc để ổn định
xã hội.
Xã hội là bên đưa ra các yêu cầu về giáo dục và nền giáo dục phải đáp ứng
theo những yêu cầu đó. Nhưng nền giáo dục Việt Nam hiện nay đang quá chú trọng
vào tiêu chí thứ 2 và 3. Những kỹ năng sống và kiến thức về pháp luật không được
phổ cập. Yêu cầu về tư tưởng chính trị trong giáo dục được đặt ra cao nhưng ít có ý
nghĩa thực tiễn. Chúng ra giảng dạy rất nhiều về lý luận Chủ nghĩa Marx – Lenin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, về lịch sử oanh liệt, về tương lai tươi đẹp của chủ nghĩa xã
hội, Những thành tựu đó rất đáng tự hào, tương lai đó rất đáng để vươn tới.
Nhưng hiện tại chúng ta đang đứng ở đâu so với các nước trên thế giới? Những thế
lực nào chống phá nhà nước Việt Nam? Những thế lực nào có thể giúp đỡ Việt
Nam? Trước tình hình đó cần phải làm gì để Việt Nam đuổi kịp các nước phát triển
mang lại cuộc sống văn minh, giàu đẹp cho nhân dân? thì nền giáo dục hiện nay
lại ít nhắc tới. Đây dường như là một chủ đề cấm bàn luận trong môi trường giáo
dục, đặc biệt đối với giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước.
12
Mục tiêu giáo dục và nội dung giáo dục được đề ra bởi nhà nước và bộ giáo
dục. Số đông các cá nhân còn lại trong xã hội không có tầm ảnh hưởng tới các
quyết định của nền giáo dục mặc dù họ trực tiếp là người học hoặc những tổ chức
cần con người sau đào tạo. Vậy xã hội có thực sự cần ở con người những tiêu chí

thể đếm số có hai chữ số hoặc thế nào là bội số của 5, biết
số lẻ và số chẵn, biết phép cộng trừ đơn giản
Học địa lý từ địa cầu, bản đồ; hiểu được rằng trên trái đất có rất nhiều cư
dân, rất nhiều quốc gia và những màu da khác nhau, hiểu được rằng người cần ở
trong nhà, trẻ em cần đến trường, người trưởng thành cần đi làm…
Lớp 1: Có thể đếm từ 1 đến 100, có thể đếm số có hai chữ số hoặc thế nào là
bội số của 5, biết số lẻ và số chẵn, biết phép cộng trừ đơn giản; học cách quan sát,
chia ngành phân loại đối với những sự vật và vật phẩm khác nhau;
14
Có thể lấy dẫn chứng về quá trình diễn biến của sự sống, hiểu được quan hệ
sống tương trợ giữa động thực vật trong thiên nhiên; học sử dụng tranh ảnh để
biểu đạt ý; hiểu tính tất yếu của việc mặc, ăn, ở và mái ấm gia đình; hiểu rõ quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa những người làng xóm. 
Lớp 2: Biết đọc, viết số có ba chữ số, từ năm số tùy ý chọn, có thể đếm xuôi
hoặc đếm ngược; vận dụng thành thạo phép cộng trừ đối với số có hai chữ số, biết
dùng những đơn vị đo lường như inch (tấc Anh) hoặc centimet để đo độ dài, biết
xem đồng hồ;
Đọc sách, duy trì đều đặn việc viết (nhận xét, bình luận) sau khi đọc sách,
học cách viết tổng kết, hiểu và phân biệt được những hình thức văn học khác nhau
như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện ký…,
Biết được sự khác nhau giữa tác phẩm hư cấu và tác phẩm phi hư cấu; bắt đầu học
nghiên cứu độc lập về động vật, ví dụ như vấn đề sinh thái của côn trùng…
Lớp 3: Học được cách biến tư liệu thành biểu đồ; biết so sánh sự lớn nhỏ và
cộng trừ trong phạm vi 100.000, thành thạo phép cộng, trừ, nhân, chia đối với số
có ba chữ số; có thể lấy những tài liệu tại chỗ trong môi trường xung quanh, sưu
tập, tổ chức tài liệu, hiểu được cách giữ gìn sức khỏe của con người, hiểu rõ quá
trình diễn biến cuộc đời của những động vật nhỏ như:
Ếch, bướm, gà con, chuột bạch…; hiểu cách sử dụng từ điển; có thể hiểu tư
tưởng của những tác phẩm và các nhà văn, họa sĩ mình yêu thích biểu đạt, hiểu
được các tác phẩm văn học trong các bối cảnh văn hóa khác nhau.

tiểu học ở Mỹ không thể so sánh được với Trung Quốc.
Có lần, trên một tờ báo tiếng Hoa ở Mỹ còn có một bài viết mang tên: “So
về toán học, Mỹ chỉ có thể được coi là nước đang phát triển”.  
“Độ khó” trong bài tập của học sinh tiểu học Mỹ
16
Một người cha gốc Hoa đưa cậu con trai chín tuổi tới Mỹ, cho con vào học
một ngôi trường ở Mỹ thì trong lòng lo lắng vô cùng, không hiểu đó là trường học
kiểu gì!
Trong lớp học sinh tự do tùy ý thảo luận, có thể cười ầm ĩ; giáo viên và học
sinh thường xuyên cùng ngồi bệt trên mặt đất không phân biệt lớn bé; vào giờ học
mà cứ như đang chơi trò chơi; Ba giờ chiều đã là tan học; lại không có sách giáo
khoa thống nhất.
Ông đem cho giáo viên xem bài học tiểu học lớp 4 mà con ông đã học ở
Trung Quốc, giáo viên nói với ông, cho tới lớp 6, con trai ông không phải học thêm
môn toán nữa. Lúc đó, ông bắt đầu hối hận vì đem con đến Mỹ mà làm lỡ việc học
của con.
Ở Trung Quốc, cặp sách của học sinh nặng trịch những tri thức, còn nhìn
con mình bây giờ, mỗi ngày mang cái cặp nhẹ tênh đến trường, đi học như đi chơi.
Một học kỳ nháy mắt đã hết, ông không khỏi nghĩ ngợi, hỏi con, ấn tượng sâu sắc
nhất khi đến Mỹ học là gì? Cậu bé đáp: “Tự do ạ!”. 
Lại một bận, cứ tan học, đứa trẻ lại chạy tới thư viện rồi mang một lô sách
về nhà, thế mà chưa tới hai ngày đã trả. Ông lại hỏi, mượn sách nhiều như thế để
làm gì? Con trai đáp: “Dạ. Để con làm bài tập.”.
Sau đó, ông nhìn thấy tên bài tập mà cậu bé đang làm trên máy vi tính
“Trung Quốc hôm qua và hôm nay”, ông kinh ngạc suýt ngất, đây là chủ đề môn
học gì vậy? Thử hỏi vị nào đang làm tiến sĩ dám “ôm” đề tài lớn như thế?
Ông chất vấn con trai, đây là chủ ý của ai, cậu bé hồn nhiên đáp: “Thầy
giáo nói, Mỹ là một nước di dân, mỗi học sinh đều cần viết một bài về đất nước mà
tổ tiên mình đã sinh sống, còn phải phân tích sự khác biệt so với nước Mỹ dựa trên
địa lý, lịch sử, nhân văn, đồng thời phải đưa ra quan điểm và cách nhìn của mình”.

đâu mỗi khi có nghi vấn. Ngoài thư viện, học sinh trung tiểu học ở Mỹ cũng tìm tài
liệu trên các trang web liên quan khi làm bài tập và một số báo cáo nghiên cứu.
Lưu học sinh Trung Quốc tới Mỹ làm tiến sĩ, từ lúc vào học tới lúc tốt
nghiệp, giành được học vị tiến sĩ cần năm năm.
Trong viện nghiên cứu sinh, rất nhiều người có cảm giác rằng người Mỹ
thường không phải là đối thủ của lưu học sinh Trung Quốc trong chuyện thi lấy
học bổng, nhưng cứ đụng tới lĩnh vực thực tiễn, làm một vài vấn đề có tính nghiên
cứu, thì người Trung Quốc không thể linh hoạt được bằng người Mỹ, không có tính
sáng tạo dồi dào như họ.
Tới khi cầm được bằng tiến sĩ để đi tìm việc, viết sơ yếu lý lịch, họ lại lạc
hậu một bước lớn, không biết tự quảng bá cho bản thân mình. Không thể “viết về
bản thân mình” không phải vì họ không biết, mà là vì không có đủ bản lĩnh để thể
hiện cái “tôi” của mình.
Đương nhiên, điều này có liên quan tới sự bất đồng giữa giáo dục và toàn
bộ hệ thống giáo dục cơ sở. Người Trung Quốc chỉ quen phát huy bản lĩnh trong
một khung quy định nào đó.
Một khi không còn quy định, mất đi sự chỉ đạo, không nhìn thấy hệ thống
quy chiếu vốn có nữa, thì với người Mỹ là giành được tự do, còn với người Trung
Quốc, có lẽ chỉ còn lại cảm giác mất phương hướng, khủng hoảng, trống rỗng,
không biết dựa vào đâu.
Khi đã công tác được năm năm, mười năm, thực tế ấy lại càng rõ ràng hơn.
Người Trung Quốc thường chỉ có thể làm kỹ thuật, cùng lắm là lên quản lý một bộ
phận kỹ thuật nào đó, dường như không mấy ai làm được giám đốc công ty lớn.
Người Trung Quốc không phục những ông chủ không giỏi về kỹ thuật và
thường băn khoăn: bản lĩnh của họ rốt cục nằm ở đâu?
Bản lĩnh đó là: hiểu được sở trường của từng thành viên trong công ty, giúp
họ phát huy tận lực sở trường của mình, nhân viên và công ty cùng hợp tác, nâng
19
cao giá trị của công ty mình trong mắt nhà đầu tư và khách hàng, không ngừng thu
hút thêm vốn đầu tư và tăng thêm đầu ra cho sản phẩm…

không thể làm cho nền giáo dục hiện nay khả quan hơn.
Thực tế này đang ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nhiều thế hệ con
người ở Việt Nam, đặc biệt là trẻ thơ. Tâm lý học đã chỉ ra rằng, sự phát triển
không bình thường trong tâm lý của trẻ nhỏ có thể gây ra nhiều lệch lạc trong nhân
cách khi chúng lớn lên. Một loạt hậu quả là: tỉ lệ tội phạm gia tăng, con người
không năng động, dễ mắc các bệnh về tâm lý, Bệnh cào bằng và chạy theo thành
tích trong giáo dục còn khiến học sinh, sinh viên quên đi ước mơ, hoài bão. Mất đi
nhiệt huyết của tuổi trẻ, không nhận thức đúng giá trị của bản thân.
Tóm lại, xã hội không cần đào tạo ra những con người để mang ra thi thố. Và
xã hội cũng không cần những con người nịnh hót hay ngủ quên trong chiến thắng.
Đừng chỉ nói hay, hãy nhìn thực tế và bắt tay vào làm việc. Điều xã hội thực sự cần
là những con người phát triển bình thường, có khả năng sống và làm việc, được
thoải mái cả về thể chất lẫn tinh thần. Sự liên kết không chặt chẽ giữa bộ máy giáo
dục (đơn vị thực hiện) và xã hội (đơn vị yêu cầu) là một trong những nguyên nhân
gây ra thực trạng yếu kém của nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Đi sau nó còn vô
số hậu quả cần khắc phục.
21
2.2.2 Bộ máy giáo dục không liên kết chặt chẽ với đơn vị cần nhân lực.
Một nền giáo dục hiệu quả sẽ là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế. Nền
giáo dục như vậy được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Bất kì mô hình giáo dục nào có sự kết hợp chặt chẽ với đơn vị cần nhân lực
hoặc vừa kết hợp hoạt động giáo dục với việc sử dụng nhân lực ngay trong khoảng
thời gian đào tạo đều có những thành quả vượt trội. Tại đây, người học có thể vừa
học vừa làm. Đơn vị giáo dục chỉ yêu cầu ở người học những tiêu chí đủ để họ có
thể hiểu và áp dụng vào công việc trong điều kiện thực tiễn. Sau khi ra trường, học
viên có thể trực tiếp làm việc cho đơn vị đào tạo hoặc các đơn vị cần nhân lực khác
22
trong xã hội. Như vậy, nguồn lực về con người không bị lãng phí trong thời gian
đào tạo. Và trên hết, đơn vị giáo dục khi đồng nhất với đơn vị sử dụng nhân lực sẽ
biết chính xác phải giảng dạy gì để đào tạo ra những con người có khả năng làm

thưởng cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế như giải Siêu cúp - giải thưởng danh
giá nhất trong cuộc thi Olympic Tin học sinh viên toàn quốc, giải Nhì Imagine Cup
của Microsoft, chiếm giữ 3 quả cầu vàng CNTT Việt Nam, hay giành vị trí dẫn đầu
các trường đại học Việt Nam trong kỳ thi Lập trình sinh viên quốc tế ACM-ICPC
khu vực Châu Á năm 2011.
Bên cạnh đó, một số trường kết hợp việc học lý thuyết và thực hành ngay
trong điều kiện thực tế cũng mang lại những thành tựu nhất định. Ví như trường
Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội là trường đại học y khoa hàng đầu và
lâu đời nhất của Việt Nam còn hoạt động. Trường đã được trao tặng Huân chương
Sao Vàng nhân dịp kỷ niệm 105 năm ngày thành lập trường vào ngày 14 tháng
11 năm 2007, là một trong 15 trường đại học trọng điểm quốc gia. Từ kì 2 năm thứ
3 sinh viên được tiếp xúc với bệnh nhân, xem và giúp đỡ các bác sĩ cứu chữa bệnh
nhân tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Bạch Mai,
bệnh viện Xanh Pôn, Viện Huyết Học,… Vừa học xong lý thuyết trên giảng đường,
sinh viên có thể kiểm chứng ngay trong thực tế. Do vậy, sinh viên khi ra trường đáp
ứng được những yêu cầu cần thiết đối với một bác sĩ về mặt chuyên môn.
Đa số những trường đại học, cao đẳng và trung cấp nghề còn lại ở Việt Nam
chưa có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị cần nhân lực trong lĩnh vực đào tạo.
Đây là một nguyên chủ quan xuất phát từ nội tại của hệ thống giáo dục dẫn đến sự
yếu kém của nền giáo dục Việt Nam như hiện nay (hình minh họa):
24
Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương bình - Xã hội, tỷ lệ sinh viên ra
trường làm trái ngành, trái nghề đang chiếm khoảng 60%. Hiện tại, cả nước chỉ có
20/98 trường Đại học khi sinh viên ra trường có việc làm đúng ngành đào tạo. Điều
đó cho thấy, sinh viên ra trường làm trái ngành, trái nghề là rất phổ biến và đáng
được quan tâm. Đó là chưa kể đến, nhiều sinh viên nhận ra rằng ngành nghề theo
học không phù hợp suy nghĩ mà họ đã chọn ban đầu, dẫn đến hàng loạt sinh viên
chọn con đường trái ngành để phát triển tương lai. Làm trái ngành cũng đồng nghĩa
với việc học lại hoặc học thêm, gây ra lãng phí không hề nhỏ cho xã hội.
Việt Nam được xếp vào những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status