Học viện chính trị hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh BO CO TNG HP KT QU
NGHIấN CU TI KHOA HC CP B NM 2010
M S: B.10 - 10
Tên đề tài:
Phát triển nền giáo dục Việt Nam trong những
thập niên đầu thế kỷ XXI theo t tởng Hồ Chí Minh C quan ch trỡ: Vin Trit hc
Ch nhim ti: PGS.TS Nguyn Th Nga
Th ký khoa hc: Th.s Hong Th Kim Oanh
8275
H NI - NM 2010
gia Hồ Chí Minh.
17. GS.TS Mạch Quang Thắng – Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
18. Th.s Hoàng Thu Trang – Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh.
Mục lục
Trang
Phần mở đầu
1
Chơng 1: t tởng Hồ Chí Minh về phát triển nền
giáo dục Trong x hội mới
14
1.1. T tởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của việc
phát triển nền giáo dục mới
14
1.2. T tởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục
nhân dân, dân tộc và khoa học
19
1.3 T tng H Chớ Minh v mc ớch, ni dung,
phng thc phỏt trin ca nn giỏo dc mi
22 Chơng 2: Thực trạng Phát triển nền giáo dục của
nớc ta hiện nay và vấn đề đặt ra cho việc
phát triển giáo dục những thập niên đầu
3.2. Mt s gii phỏp phỏt trin nn giỏo dc Vit Nam
nhng thp niờn u th k XXI theo t tng H
Chớ Minh
86
KT LUN
115
DANH MC TI LIU THAM KHO
118
PH LC
126 1
PHN M U
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Coi trọng phát triển giáo dục là quan điểm nhất quán của Đảng
ta trong thời kỳ đổi mới. Trong Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng xác định: Khoa học và
công nghệ, giáo dục và đào tạo phải đợc xem là quốc sách hàng đầu.
Đó cũng là tinh thần chỉ đạo cơ bản thể hiện trong các Văn kiện Đại hội
của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ơng
Đảng (khoá VIII) và kết luận Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung
ơng (khoá IX) về phát triển giáo dục và đào tạo đã đợc đông đảo quần
chúng nhân dân ủng hộ.
Thực tế, trong thời gian đổi mới, công tác giáo dục đào tạo đã đợc
Đảng và Nhà nớc cũng nh đông đảo các nhà khoa học và quần chúng
thức lớn đối với việc phát triển giáo dục.
1.2. Kinh nghiệm của các nớc phát triển và đang phát triển trên
thế giới cho thấy, coi trọng và phát triển giáo dục là bí quyết của sự
thành công, là con đờng ngắn nhất, đi tắt, đón đầu trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các quốc gia. Từ góc độ xã hội, giáo
dục đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển xã
hội ở từng giai đoạn tơng ứng, giáo dục góp phần phát triển kinh tế,
góp phần ổn định an sinh xã hội. Từ góc độ con ngời, giáo dục góp
phần nâng cao vị thế con ngời trong xã hội, nâng cao hiểu biết, nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nhiều kỹ năng xã hội cần thiết
khác để con ngời phát triển cũng nh mu cầu hạnh phúc. Khẳng định
vấn đề này, UNESCO đa ra tuyên bố: Không có sự tiến bộ và thành
đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục
của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không
đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả
thì số phận của quốc gia đó xem nh đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn
cả sự phá sản. Phát triển giáo dục, phát triển con ngời, phát triển xã hội
có mối quan hệ chặt chẽ. Một quốc gia muốn phát triển phải coi trọng phát
triển giáo dục, ngợc lại, phát triển giáo dục li là công cụ đòn bẩy cho sự
phát triển bền vững của một quốc gia.
Từ lâu, Đảng và Nhà nớc ta đã coi giáo dục là quốc sách hàng
đầu, là gốc cho đại kế trăm năm. Tinh thần này đã đợc quán triệt trong 1
Đng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, BCHTU khoá X, Nxb CTQG, H, 2009, tr 36-
38
3
những ch trng ln của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb
Chính trị quốc gia, H, 2005, tr. 654.
4
cách mạng, có ý nghĩa phơng pháp luận lớn lao đối với sự nghiệp đổi mới
và phát triển giáo dục nớc ta.
Phát triển nền giáo dục Việt Nam theo t tởng Hồ Chí Minh đã
đợc khẳng định trong luật giáo dục Việt Nam. Thực tế thời gian qua nền
giáo dục Việt Nam đã thực sự phát triển theo những chỉ dẫn của Ngời?
Bằng cách nào để phát triển giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế
kỷ XXI theo t tởng Hồ Chí Minh? Với những lý do trên, chúng tôi lựa
chọn vấn đề Phát triển nền giáo dục Việt Nam thế kỷ XXI dới ánh
sáng t tởng Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề phát triển giáo dục và nghiên cứu vận dụng t tởng Hồ Chí
Minh vào phát triển giáo dục đã đợc Đảng, Nhà nớc, các tổ chức và các
nhà nghiên cứu khoa học quan tâm. Đặc biệt, từ Đại hội VII của Đảng
(năm 1991), trên cơ sở khẳng định chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh là nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng,
toàn dân, đa t tởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, việc nghiên cứu, vận
dụng t tởng Hồ Chí Minh vào phát triển giáo dục càng đợc đẩy mạnh.
Tinh thần này đợc thực hiện theo các hớng:
Thứ nhất: Trong các văn kiện chính thống của Đảng và Nhà
nớc.
Tổng kết 15 năm đổi mới (1986- 2000), Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX (2001) khẳng định những bài học đổi mới Đại hội VI, VII,
VIII của Đảng nêu ra đến nay vẫn còn giá trị rất lớn. Một trong những bài
Cụ thể hoá quan điểm chỉ đạo của Đảng, ngày 28-12-2001, Thủ
tớng Chính phủ đã ban hành quyết định số 201/2001/QĐ- TTg về
Chiến lợc phát triển giáo dục 2001-2010 với những phớng hớng,
mục tiêu và những giải pháp lớn phát triển giáo dục giai đoạn 2001-
2010. Các nội dung cụ thể đợc thể hiện trong các quy định của Nghị
quyết.
- Quyết định số 25/ 2005/QĐ-TTg ngày 27-1-2005 của Thủ tớng
Chính phủ về việc quy định danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống quốc
dân đề cập các nội dung giáo dục chủ yếu của các cấp học trong hệ thống
giáo dục.
6
- Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18-4-2005 của Chính phủ về
việc xã hội hoá các hoạt động giáo dục y tế, văn hoá và thể dục thể thao.
Trên cơ sở khảo sát tình hình thực hiện xã hội hoá các hoạt động trên,
Nghị quyết đa ra quan điểm và định hớng, các mục tiêu, các giải pháp
và cơ chế chính sách lớn, cơ chế tổ chức thực hiện để đẩy mạnh các hoạt
động này trong giai đoạn 2005-2010.
- Luật Giáo dục (luật số 38/2005/QH11, ngày 14-6-2005) với 120
điều bao gồm các quy định chung về mục tiêu, tính chất, nguyên lý giáo
dục, nội dung, phơng pháp, chơng trình và các điều quy định cụ thể của
các cấp học, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục, vấn đề quản lý
nhà nớc về giáo dục
- Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD và ĐT ngày 24-6-2005 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt đề án Quy hoạch phát triển xã
hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010 thể hiện quan điểm và định
hớng chung, định hớng và mục tiêu phát triển xã hội hoá ở các cấp
học, trình độ và loại hình giáo dục, các giải pháp và cơ chế đẩy mạnh xã
hội hoá giáo dục.
- Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về Đổi mới cơ bản và toàn diện
Quan hệ giữa toàn cầu và địa phơng, giữa toàn thể và cá thể, giữa
truyền thống và hiện đại, giữa lâu dài và trớc mắt, giữa cạnh tranh và
bình đẳng cơ hội, giữa khối lợng tri thức ngày càng tăng quá nhanh với
khả năng tiếp thu có hạn của mỗi ngời, giữa tinh thần và vật chất. Sách
Phát triển giáo dục phát triển con ngời phục vụ phát triển xã hội
kinh tế (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1996), một trong nhiều nội
dung tác giả đề cập khái lợc đánh giá thành tựu 50 năm nền quốc học
nhân dân từ khi cách mạng Tháng Tám thành công đến sau 10 năm Việt
Nam đổi mới, t tởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục cũng đợc
đề cập với t cách là ngời vạch ra phơng hớng cơ bản của chiến lợc
con ngời, chiến lợc giáo dục ở n
ớc ta suốt thời gian qua và cả trong
thời gian sắp tới. Sách Giáo dục Việt Nam trớc ngỡng cửa của thế kỷ
XXI (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1999). Sách Về giáo dục (do GS
Phạm Minh Hạc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2003) 1
Trích trong Dự thảo chiến lợc giáo dục 2009-2020 (lần thứ 13).
8
Bên cạnh đó cũng có nhiều sách của các tác giả khác bàn về vấn
đề này.
Sách Giáo dục Việt Nam thời hội nhập (Nhà xuất bản lao động-
2007) tập hợp nhiều bài viết của các tác giả, đề cập đến những t tởng
cơ bản của C.Mác, Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Việt
Nam và nhiu quốc gia khác bàn về giáo dục, kinh nghiệm phát triển
giáo dục, những ý kiến chỉ đạo định hớng phát triển giáo dục cho nền
giáo dục nớc ta những năm đầu thế kỷ XXI. Sách Giáo dục Việt Nam
hớng tới tơng lai Vấn đề và giải pháp của tác giả Đặng Quốc Bảo-
lợc phát triển giáo dục đến năm 2020 cũng thu hút sự quan tâm đóng góp
ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nớc nh nguyên Thủ tớng
Singapo, nguyên Đại tớng Võ Nguyên Giáp, nhà giáo dục Hồ Ngọc
Đại
Thứ ba, một số công trình tiêu biểu nghiên cứu t tởng Hồ Chí
Minh về con ngời, về giáo dục và việc giáo dục t tởng Hồ Chí Minh,
phát triển giáo dục:
Sách T tởng Hồ Chí Minh về con ngời với chính sách xã hội,
(Lê Sĩ Thắng chủ biên) (NXB Chính trị Quốc gia, 1996). Sách T tởng
triết học Hồ Chí Minh (GS.TS Lê Hữu Nghĩa chủ biên) (Nhà xuất bản
Lao động Hà Nội, 2002 in lần thứ hai). Sách T tởng Hồ Chí Minh
với sự nghiệp xây dựng con ngời Việt Nam phát triển toàn diện của
tác giả Thành Duy (NXB Chính trị Quốc gia, 2001). Sách T tởng Hồ
Chí Minh và thời đại của tập thể tác giả, gồm nhiều bài viết, dới
nhiều góc độ trong đó có bài viết T tởng Hồ Chí Minh về giáo dục,
đặc biệt nhấn mạnh giá trị t t
ởng của Ngời ở khía cạnh giáo dục thế
hệ trẻ, giáo dục nhân dân, giáo dục cán bộ đảng viên. Sách Danh nhân
Hồ Chí Minh của tập thể tác giả, đề cập đến nhiều lĩnh vực, trong đó,
Hồ Chí Minh đợc khẳng định là nhà t tởng giáo dục, nhà s phạm
thực tiễn vĩ đại của dân tộc. Sách Hồ Chí Minh - nhà t tởng lỗi lạc
của GS Song Thành (Nhà xuất bản lý luận chính trị, 2005) gồm nhiều
nội dung, trong đó, t tởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giáo dục - đào
tạo và bồi dỡng thế hệ cách mạng cho đời sau nh một bộ phận làm
nên hệ thống t tởng Hồ Chí Minh. Sách T tởng Hồ Chí Minh về
phát triển văn hoá và con ngời do GS Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) (Nhà
10
xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), bàn đến các vấn đề văn hoá, con
ngời Việt Nam, trong đó văn hoá giáo dục, vấn đề xây dựng con
XXI, đáp ứng đợc mục tiêu, nguyện vọng của Đảng, Nhà nớc và
nhân dân ta; khẳng định đợc t tởng Hồ Chí Minh gợi mở những bài
học gì cho việc xác định các phơng hớng mục tiêu và các giải pháp
nhằm hớng tới phát triển nền giáo dục xứng đáng với vai trò là động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là
điều kiện để phát huy nguồn lực con ngời yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững.
Qua khảo sát một số công trình nghiên cứu có nội dung liên
quan đến vấn đề, có thể thấy, cho đến nay vẫn cha có một công trình
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Phát triển nền giáo dục Việt Nam
trong những thập niên đầu thế kỷ XXI theo t tởng Hồ Chí Minh góp
phần phát triển giáo dục Việt Nam với t cách là quốc sách hàng đầu nh
t tởng chỉ đạo của Đảng đã nêu ra. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
trớc đây đã cung cấp nhiều tài liệu, đề xuất nhiều gợi ý khoa học và là cơ
sở quan trọng để chúng tôi tham khảo, kế thừa và phát triển sâu hơn trong
quá trình nghiên cứu đề tài.
1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
1.3.1 Mục tiêu:
Trên cơ sở phân tích t tởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục,
thực trạng nền giáo dục nớc nhà và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình
phát triển giáo dục trong xu hớng biến động của những thập niên đầu thế
kỷ XXI, đề tài đề xuất một số quan điểm và giải pháp để phát triển nền
giáo dục Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XXI theo t tởng
Hồ Chí Minh.
1.3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích t tởng cơ bản của Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo
dục Việt Nam.
- Phân tích thực trạng nền giáo dục n
ớc nhà trớc những yêu cầu
đặt ra về phát triển giáo dục trong xu hớng biến động của những thập
pháp phát triển nền giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXI
Thứ hai: Đề tài góp phần quảng bá t tởng Hồ Chí Minh, kế thừa
và phát huy giá trị t tởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực giáo dục.
13
Thứ ba: Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
giáo dục, nghiên cứu về các vấn đề liên quan.
Thứ t: Đề tài góp phần cung cấp các luận cứ khoa học và thực
tiễn cho các nhà hoạch định chủ trơng, đờng lối, chính sách phát triển
giáo dục Việt Nam thế kỷ XXI
14
PhÇn néi dung
Ch−¬ng 1
t− t−ëng Hå ChÝ Minh
vÒ ph¸t triÓn nÒn gi¸o dôc Trong x∙ héi míi
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn, nhà tư tưởng vĩ đại
của dân tộc Việt Nam và thế giới, đồng thời Người cũng là một nhà giáo
dục lớn của nhân dân Việt Nam. Tư tưởng về giáo dục của Người không
được thể hiện thành một tác phẩm, một bài viết cụ thể riêng nào về giáo
d
ục, mà được lồng ghép, xen kẽ trong các bức thư, các bài phát biểu, các
bài nói chuyện và trong cả thơ ca của Người. Như phần mở đầu đề tài đã
khái quát, đây là lĩnh vực được Người đặc biệt quan tâm, dù trong bất kỳ
hoàn cảnh nào và cũng là một trong những vấn đề Người căn dặn trước
lúc đi xa. Vấn đề này được phân tích đề cập trong nhiều các công trình
nghiên cứu của các học giả trong và ngoài n
ước dưới nhiều góc độ khác
nhau. Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi không đi sâu vào liệt kê tất cả
giỏo dc thớch hp
1
. V.I.Lờnin v lónh t ca cuc Cỏch mng thỏng
Mi Nga cng khng nh vai trũ to ln ca giỏo dc, coi ú l iu kin
m bo cho s nghip xõy dng ch ngha xó hi. Theo Lờnin, ngi mự
ch l ngi ng ngoi chớnh tr. ú cng l mt trong nhng lý do
con ngi phi: "Hc, hc na, hc mói". éõy l nhng lun im c bn
ca t tng nhõn lo
i núi v s cn thit phi giỏo dc.
Xây dựng, phát triển một nền giáo dục mới là khát vọng cháy bỏng
và cũng là mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là t tởng
mang tính nhất quán của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói truyền thống
văn hoá, giáo dục, tinh thần nhân ái, lòng yêu nớc Việt Nam, t tởng
yêu nớc Việt Nam, t tởng dân sinh, dân chủ của các sĩ phu Việt Nam
yêu nớc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; triết lý giáo dục, triết lý nhân
sinh của Nho giáo, Phật giáo; t tởng nhân văn về con ngời, giáo dục
con ngời thời cận đại là các tinh hoa văn hoá nhân loại đã đợc Hồ
chí Minh tiếp cận, tiếp thu có chọn lọc phê phán và sáng tạo. Đặc biệt, t
tởng của chủ nghĩa Mác - Lênin là tiền đề quan trọng nhất tạo nên sự
phát triển về chất trong t tởng Hồ Chí Minh ở nhiều lĩnh vực, trong đó
có giáo dục.
Hơn nữa, những hậu quả của nền giáo dục dới sự đô hộ của thực
dân Pháp, những hệ luỵ về chính trị xã hội con ngời trong chính 1
C. Mỏc v Ph. ngghen: Ton tp, T.16, Nxb. CTQG, H ni, 1995, tr. 771
16
sách ngu dân để trị của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, sự
đã đợc nâng lên ở tầm cao mới, phù hợp với khuynh hớng vận động của
17
lịch sử, thời đại và văn minh nhân loại. Nó đợc kiểm chứng bởi thực tế
cũng nh xu hớng phát triển kinh tế tri thức của nhân loại trong thế kỷ
XXI: muốn trở thành cờng quốc, muốn có nền kinh tế phát triển nhanh và
bền vững phải đầu t cho giáo dục, xây dựng đợc nền giáo dục đáp ứng
yêu cầu phát triển đất nớc.
Mặt khác, xã hội phong kiến xa và cả chế độ thực dân cũ đã để lại
trong xã hội ta nhiều hủ tục lạc hậu, nhiều thói h tật xấu cần phải thay đổi
để trở thành xã hội văn minh. Triết lý hoá dân dịch tục tức giáo hoá nhân
dân để cải biến phong tục, cùng với mục tiêu nâng cao dân trí là một trong
những nhiệm vụ của nền giáo dục mới. Hơn nữa, chủ nhân của sự nghiệp
cách mạng, nhân tố quan trọng của công cuộc xây dựng xã hội mới là con
ngời Việt Nam, là đông đảo tầng lớp nhân dân Việt Nam ở mọi thế hệ,
mọi vùng miền. Họ cũng cần đợc trang bị những kiến thức cần thiết, hoàn
thiện nhân cách cá nhân, có đợc những năng lực và phẩm chất cần thiết
để làm chủ và xây dựng xã hội mới. Con ngời có thể thay đổi, cải tạo
những thói h, tật xấu, bồi dỡng cái mới tốt đẹp nhờ có giáo dục.
Trong tp Nht ký trong tự, bi s 100, H Chớ Minh đã nờu lờn
vai trũ rt ln ca giỏo dc:
D bỏn
Thy thỡ ụ tng thun lng hỏn,
T
nh hu ti phõn thin, ỏc nhõn;
Thin, ỏc nguyờn lai vụ nh tớnh,
a do giỏo dc ớch nguyờn nhõn.
Ngha l:
Na ờm
dục là công cụ hữu hiệu không thể thiếu nhm giải phóng con ngời, phát
triển con ngời theo hớng tự do, toàn diện.
Với t tởng chủ đạo nhất quán và xuyên suốt rằng, xã hội mới phải
có những con ngời mới đợc tạo nên bởi những quan hệ xã hội mới và
một nền giáo dục mới. Ngời nhấn mạnh: Về giáo dục, chế độ khác thì
giáo dục cũng khác
3
. Bởi vậy, phải phát triển nền giáo dục có sự thay đổi
về chất - đó là nền giáo dục nhân dân, nn giỏo dc toàn diện và khoa học. 1
H Chớ Minh: Ton tp, T.3, Nxb Chớnh tr quc gia, H Ni, 1995, tr. 383.
2
H Chớ Minh: Ton tp: Tp 7, Nxb. ST, H, 1984, Tr. 451
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2000, Tr.183
19
1.2. T tởng của Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục
nhân dân, dân tộc và khoa học
Trong Th gi hc sinh thỏng 9 nm 1945 nhõn ngy khai trng
u tiờn, H Ch Tch ó vit: t gi phỳt ny gi i cỏc em bt u
c nhn mt nn giỏo dc hon ton Vit Nam. Trc õy, cha anh cỏc
em, v mi nm ngoỏi c cỏc em na, ó phi chu nhn mt nn hc vn
nụ l, ngha l nú ch o to nờn nhng k lm tay sai, lm tụi t
cho bn
thc dõn ngi Phỏp. Ngy nay, cỏc em c cỏi may mn hn cha anh l
c hp th mt nn giỏo dc ca mt nc c lp, mt nn giỏo dc nú
s o to cỏc em nờn nhng ngi cụng dõn hu ớch cho nc Vit Nam,
20
Hồ Chí Minh, chính là nền tàng triết lý giáo dục chủ đạo chi phối toàn bộ
hệ thống tư tưởng và quá trình hoạt động trong lĩnh vực giáo dục của
Người. Người đã từng nói: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.
Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của
nhân dân”
1
. Người đã có lần giải thích, chủ nghĩa xã hội chính là để thực
hiện triệt để lý tưởng “thân dân”: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân
dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có
thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không
tốt dần dần được xoá bỏ”. Vì thế cho nên, “giáo dục cần nhằm vào mục
đích thật thà là phụng s
ự nhân dân”, “cần xây dựng tư tưởng dạy và học để
phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, “Dạy và học phải theo nhu cầu của
dân tộc, của Nhà nước”.
Thứ hai, sự nghiệp giáo dục vĩ đại này chỉ có thể thành công khi có
sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Không phải ngẫu nhiên
mà để xóa mù chữ, Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân bình
dân học vụ với phương châm: “Những ng
ười đã biết chữ dạy cho người
chưa biết chữ, Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho
biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ
không biết thì con bảo, người ăn, người làm không biết thì chủ nhà bảo,
các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không
biết chữ ở hàng xóm láng gi
ềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ,
nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của
mình”
2
; “cán bộ phải đi sát dân, học dân”
3
.
Tính nhân dân gắn liền với tính dân tộc và tính khoa học. Nền giáo
dục mới phải quán triệt việc coi trọng tinh thần dân tộc trong nội dung,
mục đích, đối tượng giáo dục. Nền giáo dục mới phải là nền giáo dục khoa
học, phài thanh trừ được những tiêu cực từ nền giáo dục Thực dân, Phong
kiến, hướng tới loại bỏ các lạc hậu, hủ tục, trang bị kiến thức khoa họ
c để
giải phóng con người về nhiều mặt. Trong nền giáo dục mới hiện đại,
hướng tới việc trang bị những tri thức cần thiết để xây dựng xã hội mới
theo nguyên tắc “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn”,
“giáo dục nhà trường gắn kết với giáo dục gia đình và xã hội”. Dù không
có tác phẩm nào tập trung đề cập đến vấ
n đề xây dựng nền giao dục khoa
hoc, hiện đại nhưng tinh thần cơ bản ấy được khắc họa hết sức sâu sắc
trong những bài viết, những lời nói, những tư tưởng chỉ đạo, những việc
làm của Người. Cùng với thử thách của thời gian và thực tiễn cho thấy tư
tưởng ấy là đúng đắn, phù hợp với nguyên tắc rất căn bản c
ủa giáo dục
hiện đại. Tính toàn diện, tính khoa học của nền giáo dục cách mạng Việt
Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc trong các quan
điểm cụ thể về mục tiêu, đối tượng, nội dung, cách thức phát triển nền
giáo dục. 1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG,H, 1996, tập 12, Tr.403.
2
chế độ dân chủ nhân dân là "nhằm mục đích đào tạo
*
những công dân và
cán bộ tốt, những ngời chủ tơng lai tốt của nớc nhà. Về mọi mặt,
trờng học của chúng ta phải hơn hẳn trờng học của thực dân và phong
kiến.
Muốn đợc nh thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng
hơn nữa, để tiến bộ hơn nữa". 1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, Tập 5, tr 684
*
Ngi trớch nhn mnh