Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Liên hệ với thực tiễn tại trường Đại học Ngoại thương - Pdf 32

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị anh hùng dân tộc lớn nhất trong lịch sử dân
tộc Việt Nam - Người đã để lại một di sản lý luận quý báu cho chúng ta học
tập và noi theo. Đối với Đảng và cách mạng nước ta, việc vận dụng sáng tạo
và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính
nguyên tắc số một. Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được quán
triệt trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1991) đã trân trọng ghi vào cương lĩnh “Lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” [6, tr.21]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định:
“Đảng và nhân dân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con
đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh” [7, tr.83]
Đại hội IX còn nêu rõ “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu
tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và
dân tộc ta…” [7, tr.84]
Quả thật, cách mạng Việt Nam có được thắng lợi như ngày hôm nay là
nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn lối. Vì vậy trong
công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta càng cần phải vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng đất nước.
Sau gần 20 năm đổi mới, đất nước ta đã có những biến đổi sâu sắc về
nhiều mặt. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế và đang có những bước
phát triển mạnh mẽ. Văn hoá xã hội cũng có những tiến bộ đáng kể, đời sống
nhân dân tiếp tục được nâng cao, niềm vui đang đến với mọi nhà. Có thể nói,
kinh tế thị trường đã kích thích được tư duy sáng tạo của mọi người, khắc
phục tình trạng ỷ nại, bảo thủ trước đây…Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
1
cực đó, kinh tế thị trường cũng tạo ra một số mặt không tốt đối với đời sống
xã hội như: lối sống thực dụng, lãng phí, xa hoa, nhiều tệ nạn xã hội cũng theo

Quốc gia, Hà Nội 1996.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong hệ chuẩn mực của thời đại mang
tên Người. Đỗ Huy. Tạp chí Triết học, số 2, 1992
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng, giáo dục thanh niên. Tạp chí Tư
tưởng văn hoá, số 10, 2003
Cán bộ, đảng viên học tập và rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đặng Sỹ Lộc. Tạp chí Tư tưởng văn hoá, số 3, 2004
Đặc biệt, 3 tập: Tư tưởng Hồ Chí Minh của nhiều tác giả thuộc chương
trình nghiên cứu KX02. Viện Hồ Chí Minh xuất bản 1993.
Những công trình kể trên của các tác giả đã đề cập đến những phạm trù
đạo đức cơ bản mà Hồ Chí Minh đã sử dụng cũng như đã nêu lên nguồn gốc
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là những thuận lợi cho tác giả. Tuy nhiên
những công trình đó chưa đi sâu vào việc vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh để giáo dục cho thế hệ trẻ. Đó là những khó khăn cho tác giả.
Với thời gian nghiên cứu có hạn, vấn đề lại rộng, phức tạp, do đó đề tài
không thể tránh được những khiếm khuyết, rất mong sự quan tâm, đóng góp
của độc giả.
3. Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Trên cơ sở làm rõ những nội dung cụ
thể của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, công trình nghiên cứu góp phần luận
giải sự cần thiết và những giải pháp chủ yếu nhằm giáo dục đạo đức cho thế
hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và
việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu: Việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả
mọi người là rất quan trọng và cần thiết. Song ở đây công trình nghiên cứu
3
giới hạn trong phạm vi giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho thanh niên, sinh
viên - những chủ nhân tương lai của đất nước học tập và tu dưỡng đạo đức
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Êthicos, nghĩa là lề thói, tập tục. Như vậy, khi ta nói đến đạo đức tức là nói
đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và
người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày.
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo của họ. Đạo là một trong những phạm trù
quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường,
5
đường đi. Về sau, đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự
nhiên. Đạo còn là con đường sống của con người trong xã hội.
Khái niệm Đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu và từ
đó trở đi nó được người Trung quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói
đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa,
là nguyên tắc luân lý. Như vậy, có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi
người phải tuân theo.
Trước C. Mác và Ph. Ăngghen, các nhà triết học (kể cả duy tâm lẫn duy
vật) đều rơi vào quan điểm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức. Họ
không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã
hội nói chung và đạo đức nói riêng. Khác với các quan điểm trên, C. Mác và
Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng, trước khi sáng lập các quan điểm tư tưởng,
lý luận, con người đã hoạt động thực tiễn, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật
chất cần thiết cho đời sống. Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các hình thái ý
thức xã hội của một thời đại đều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội đó. Ý thức xã hội của con người là sự phản ánh tồn tại xã hội của họ.
Các hình thái ý thức xã hội khác nhau phản ánh những mặt khác nhau của đời
sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn
tại xã hội dưới dạng các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực nhằm điều chỉnh
hành vi của con người.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta có thể hiểu khái
niệm đạo đức như sau:

đời sống hiện thực, đều có giá trị thực tiễn đối với đời sống con người. Còn
tôn giáo là một thế giới do con người tưởng tượng ra, là thế giới của hư ảo.
• Quan điểm tự nhiên
Những người theo quan điểm tự nhiên cho rằng nguồn gốc của đạo đức
có từ bản năng động vật. Động vật cũng có hoạt động sinh con, nuôi con, cho
con ăn, bảo vệ con. Loài vật sinh sống và quan hệ với nhau một cách tự nhiên.
7
Xu hướng của loài vật là loài mạnh thắng loài yếu, vì chúng hành động theo
tính bản năng của nó. Do vậy có người cho rằng loài người cũng là một sinh
vật nên không tránh khỏi xu hướng tự nhiên vốn có này. Từ đó họ kết luận,
chủ nghĩa cá nhân, đạo đức vị kỷ là bản chất vĩnh viễn của con người. Con
người trước hết phải sống vì cái tôi, cho cái tôi.
Quan niệm trên đây là sai lầm, các loại sinh vật chưa bao giờ ý thức
được về nó. Mọi hoạt động của loài vật hoàn toàn chỉ dựa vào tính bản năng.
Điều này được C. Mác chỉ rõ: một người kiến trúc sư dù tồi nhất, vẫn hành
động khác về chất so với những con ong khéo léo nhất. Do đó không thể lấy
loài vật ra so sánh với loài người. Bản chất nổi bật nhất của con người không
phải ở bản chất tự nhiên. Cái tạo nên con người, làm cho con người khác loài
vật, chính là từ bản chất xã hội: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội ”
• Quan điểm xã hội
Những người theo quan điểm xã hội cho rằng; cơ sở, nguồn gốc đạo
đức là từ đời sống xã hội, nhưng khi giải thích về bản chất đạo đức họ lại gắn
những suy nghĩ chủ quan, vụ lợi nào đó. Họ coi đạo đức như những quy ước
chung, có tính chất chủ quan xã hội. Những chuẩn mực đạo đức hiện tồn tại
trong xã hội là do chủ quan của con người đặt ra, thành những tôn ti trật tự xã
hội. Mỗi người phải có nghĩa vụ, suy nghĩ và hành động theo những khuôn
mẫu đó, nếu làm trái sẽ bị đánh giá là vô đạo đức.
• Quan điểm của các học giả tư sản
Các học giả tư sản cho rằng, bản chất của đạo đức mang tính vĩnh viễn,

đồng loại. Do đó, đạo đức là sản phẩm tổng hợp của những yếu tố khách quan
và những nhân tố chủ quan. Mặt khách quan là những hiện thực được phản
ánh vào ý thức đạo đức. Mặt chủ quan là những nỗ lực vươn tới của của con
người nhằm đạt tới những giá trị đạo đức đích thực.
9
Nói cách khác, bản chất của đạo đức không phải là bất biến, đạo đức
luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội. Trong xã hội có
giai cấp, bản chất của đạo đức luôn mang tính giai cấp. Trong tác phẩm
Chống Đuyrinh, Ph. Ăngghen khẳng định: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết
về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của
xã hội lúc bấy giờ”[]
Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có một hình thái ý thức đạo đức tương
ứng. Từ đạo đức của xã hội nguyên thuỷ đến đạo đức của xã hội chiếm hữu nô
lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản chủ nghĩa, đó là những nấc thang đánh dấu
sự tiến bộ về mặt đạo đức của lịch sử loài người. Quá trình phát triển đạo đức
là một quá trình phủ định biện chứng, một mặt, các hình thái sau kế thừa các
hình thái trước, mặt khác bản thân nó tự biến đổi để phù hợp với tồn tại xã hội
tương ứng. Quy luật của sự biến đổi bao giờ cũng theo xu hướng tiến bộ và
sáng tạo ra những giá trị mới. Nguyên nhân sâu xa là do lực lượng sản xuất xã
hội ngày phát triển và hoàn thiện, nên đạo đức tất yếu cũng phải được phát
triển và hoàn thiện trên cái nền tảng ấy. Nhưng cũng phải thấy rằng nếu con
người không tự cố gắng biến đổi mình cho phù hợp với yêu cầu cuộc sống, thì
ý thức và quan niệm cũ về đạo đức sẽ trở thành vật cản đối với sự phát triển
xã hội.
1.1.2.Chức năng và vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của xã
hội
1.1.2.1. Chức năng của đạo đức
a. Chức năng giáo dục
Con người muốn làm được điều thiện, tránh được điều ác, muốn cho
những hành vi của mình được xã hội chấp nhận, không bị dư luận xã hội lên

cho phù hợp. Bản chất của sự điều chỉnh hành vi là quá trình đấu tranh chiến
thắng của cái thiện với cái ác, của cái tốt với cái xấu, của cái lương tâm với
cái vô lương tâm…Như vậy, chức năng giáo dục và chức năng điều chỉnh
hành vi của đạo đức luôn gắn liền với nhau trong đời sống đạo đức.
11
c. Chức năng nhận thức
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận
thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội. Các quan điểm, chuẩn mực đạo đức
chính là những tiêu chuẩn giá trị đạo đức phù hợp yêu cầu phát triển của xã
hội. Vì vậy, nó được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thành những
khuôn mẫu về mặt đạo đức để con người căn cứ vào đó mà tự xem xét, tự
đánh giá, tự điều chỉnh bản thân.
1.1.2.2. Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển xã hội
Cách đây hàng nghìn năm, vai trò của đạo đức đối với xã hội đã được
các nhà xã hội học xem xét và bàn luận tới.
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (thế kỷ VI tr CN) đã khuyên
học trò “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ông mong muốn xã hội phát triển bình ổn,
gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý. Mạnh Tử rất đề cao đạo
đức đến mức ông đề xuất quản lý xã hội bằng đức trị.
Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, học thuyết của đạo Phật do Thích Ca Mâu
ni sáng lập đã đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức. Cái cốt lõi nhất trong hệ
thống đạo đức Phật giáo là khuyên con người sống thiện, biết yêu thương
nhau, giúp đỡ nhau, tránh điều ác.
Trong xã hội Hy Lạp – La Mã cổ đại, đặc trưng cơ bản nhất về giáo dục
con người được thông qua những truyền thuyết, các sử thi…nhằm đề cao
những giá trị đạo đức của con người. Đó là nữ thần Atina đẹp như mặt trăng,
đầy tình nhân ái đối với con người. Hình tượng thần Dớt có tài - đức vẹn toàn.
Ôđixê là bản trường ca bất hủ, một biểu tượng cao đẹp về tính trung thực,
lòng dũng cảm, sự trong sáng trong tình bạn, tình yêu…Tất cả những hình
tượng đó đều là những phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người.

đức, tạo nên sức mạnh to lớn của đạo đức trong đời sống xã hội.
Thứ ba, đạo đức có tác dụng cảm hoá con người, giúp con người nhận
thức và hành động theo lẽ phải, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người và
13
nguời. Đồng thời đạo đức giúp con người sáng tạo ra hạnh phúc, gìn giữ phẩm
giá, làm thức dậy trong con người những tình cảm tốt đẹp, những phẩm chất
cao quý, đó là lòng nhân ái, vị tha, tính trung thực, thẳng thắn… Đạo đức như
một động cơ có sức mạnh thôi thúc con người đấu tranh chống lại những cái
ác, cái xấu, giữ gìn và phát huy những cái tốt, cái thiện. Nói cách khác, đạo
đức luôn hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ.
Như vậy, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Xã hội loài người càng tiến lên thì vai trò của đạo đức cũng tăng lên, có thể
đạo đức sẽ nắm vai trò điều khiển xã hội, thay thế chức năng quản lý con
người bằng pháp luật. Khi xã hội phát triển đạt đến văn minh thì một số hình
thái ý thức xã hội sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát triển cùng với
loài người.
Tuy nhiên, cần thấy rằng sự tác động của đạo đức đến đời sống xã hội
có tính hai mặt. Nếu hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức
tiến bộ, phù hợp với đời sống xã hội, với xu thế vận động của xã hội thì nó sẽ
có tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển; nếu ngược lại, nó sẽ gây nên
những tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển xã hội. Vì vậy, trong quá trình
xây dựng xã hội mới, chúng ta phải biết kế thừa và phát triển những giá trị
đạo đức truyền thống phù hợp với xã hội ngày nay, loại bỏ những chuẩn mực
đạo đức cũ, không còn phù hợp, đồng thời xây dựng những chuẩn mực đạo
đức mới nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
1.2. Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, nhà cách mạng bàn
nhiều nhất đến vấn đề đạo đức. Mặc dù không phải là người chuyên nghiên
cứu về vấn đề đạo đức, cũng không có những tác phẩm lớn về đạo đức, nhưng
tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh được thể hiện sinh động trong những bài

chịu, chấp nhận số phận trong chốn trần tục để hướng tới cuộc sống tốt đẹp ở
thế giới bên kia…Sức mạnh của đạo đức cách mạng là ở chỗ nó phải tự xoá đi
những gì đã lỗi thời, lạc hậu, đạo đức cách mạng phá tan sự ràng buộc, nô
15
dịch về tinh thần mà chế độ phong kiến và thực dân đã đem lại cho nhân dân
ta. Cách mạng giải phóng cho con người về mặt kinh tế, chính trị, đồng thời
giải phóng cho con người về mặt đạo đức. Không có lý do gì khi con người
sống trong điều kiện kinh tế mới lại phải thực hiện những chuẩn mực đạo đức
của xã hội cũ.
Cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức của Hồ Chí Minh là một sự biến
đổi về chất của truyền thống đạo đức, là sự phủ định biện chứng đối với đạo
đức cũ, kiên quyết xoá đi những cái đã lỗi thời của đạo đức phong kiến. Cái
mà đạo đức phong kiến tôn thờ chính là cái Hồ Chí Minh đã lật đổ một cách
triệt để. Đó là xoá bỏ vị trí độc tôn của vua chúa phong kiến, đặt vào đó vị trí
của người dân lao động, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân lao động từ
chỗ bị áp bức và thống trị trở thành người chủ đất nước. Hồ Chí Minh đã từng
nói rõ: “Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói
như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều. Đạo đức cũ
như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người
hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”
Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của đạo đức đối với người cách mạng.
Người khẳng đinh: Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách
mạng
Hồ Chí Minh coi đạo đức như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông
suối: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông
cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo
đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân”.
Vì sao người cách mạng trước hết phải có đạo đức?
Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng bởi vì muốn làm cách mạng thì

đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng”
“Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin
quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng…”[19,tr.290]
17
Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Người đảng viên, người cán bộ tốt
muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó
hoàn toàn do lòng mình mà ra…Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ
ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt
ấy có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [15,tr.251]
Đối với thanh niên, Đạo đức cách mạng là: “Bất kỳ ở cương vị nào, bất
kỳ làm một công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một
dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây
dựng chủ nghĩa xã hội ” [20, tr.306]
“Thanh niên phải luôn rèn luyện đạo đức cách mạng. Đạo đức cách
mạng có thể tóm tắt trong mấy điểm:
Trung thành: trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ
quốc, với Đảng, với giai cấp
Dũng cảm: không sợ khổ, không sợ khó thực hiện. “Đâu cần thanh niên
có, việc gì khó có thanh niên làm”, “gian khổ đi trước, hưởng thụ sau mọi
người”
Khiêm tốn: không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không
tự phụ” [20,tr.621]
Thanh niên “Phải giữ vững đạo đức cách mạng, phải khiêm tốn, cần cù,
hăng hái, dũng cảm. Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi”
[18,tr.263] Thanh niên “Phải cố gắng học hỏi, để không ngừng nâng cao trình
độ chính trị, văn hoá và kỹ thuật để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân”
[20,tr.106]
Đối với cán bộ quân sự, muốn có đạo đức cách mạng, theo Hồ Chí
Minh phải có năm điều: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm. Phát biểu tại buổi lễ
phong quân hàm cấp tướng cho cán bộ cao cấp trong quân đội, Người yêu

quần áo xấu, đẹp, là uể oải, muốn hưởng thụ, an nhàn…”[19,tr.31]
Đối với sinh viên: “chủ nghĩa cá nhân đẻ ra tư tưởng danh lợi, chỉ muốn
làm ông này, ông khác, bà này, bà khác” [19,tr.172]
19
Cùng với chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh ba căn
bệnh nguy hiểm trong cán bộ, đảng viên là: tham ô, lãng phí và quan liêu.
Người giải thích: “Bệnh quan liêu tỏ ra ở chỗ thích giấy tờ, xa quần
chúng, không điều tra nghiên cứu, không kiểm tra theo dõi việc thi hành,
không học tập kinh nghiệm của quần chúng”[16,tr.167]. Người cũng nêu ra
những nguyên nhân của căn bệnh ấy là: xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân
dân, không tin cậy nhân dân, không yêu thương nhân dân…Từ đó chúng ta
phải mau chữa căn bệnh nguy hiểm ấy bằng cách: “Đặt lợi ích của nhân dân
lên trên hết. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Việc gì cũng phải bàn với nhân
dân, giải thích cho dân dân hiểu rõ…Có khuyết điểm thì thật thà phê bình
trước nhân dân…Sẵn sàng học hỏi nhân dân. Tự mình phải gương mẫu…để
nhân dân noi theo” [16,tr.293]
Hồ Chí Minh cho rằng tham ô, lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra;
“Vì cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành quan liêu không đi sát công việc, cán
bộ, quần chúng nhân dân. Có thể nói bênh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng
cho tham ô lãng phí nảy nở” [16,tr.436] “Vì những người và những cơ quan
lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà
không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm
vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng
phí” [16, tr.489]
Vì thế, để chống đựoc tham ô, lãng phí, phải chống bệnh quan liêu.
người khẳng định: “Bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham
ô, lãng phí. Vì vậy muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải tẩy
sạch bệnh quan liêu” [16, tr.489]
Hồ Chí Minh cho rằng, tham ô, lãng phí, quan liêu như ba thứ giặc “nội
xâm” ở trong lòng, nó cũng nguy hiểm như giặc ngoại xâm. Vì vậy để xây

1.2.3.. Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam
trong thời đại mới
21
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, những phẩm chất đạo đức được
nêu ra là phù hợp với từng đối tượng; Người nhấn mạnh phẩm chất này hay
phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng
thời kỳ nhất định. Từ đó, Người đã khái quát thành những phẩm chất chung,
cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới. Nói cách khác, đó là
những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt
Nam. Sau đây là bốn phẩm chất chung, cơ bản nhất:
a. Trung với nước, hiếu với dân
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền
thống Việt Nam và phương Đông đã được Hồ Chí Minh sử dụng và đưa vào
những nội dung mới.
Trong quan niệm của Nho giáo, trung là trung quân, trung với vua. Cá
nhân nào thể hiện tinh thần yêu nước thì phải trung với vua. Trung với vua
cũng có nghĩa là trung thành với nước, vì vua với nước là một.
Với truyền thống yêu nước sẵn có, dân tộc Việt Nam cũng đã tiếp nhận
tư tưởng trung, hiếu của đạo đức Nho giáo một cách có chọn lọc. Trung, hiếu
đã trở thành một phần tài sản của văn hoá dân tộc, góp phần củng cố và xây
dựng nền độc lập dân tộc.
Hồ Chí Minh không gạt bỏ từ trung, hiếu đã ăn sâu bám rễ trong con
người Việt Nam với ý nghĩa trách nhiệm, bổn phận của người dân, con người.
Với khái niệm cũ, Người đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức cao
rộng hơn, không phải chỉ trung với vua và hiếu với cha mẹ mà là: “trung với
nước, hiếu với dân”.
Theo Hồ Chí Minh, trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng
nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân lại là chủ đất nước.
Bằng việc chuyển khái niệm trung với vua thành trung với nước, Hồ Chí
Minh đã loại bỏ công cụ thống trị đắc lực của bon vua chúa phong kiến. Đây

nghĩa xã hội” [21, tr.350]. Theo Người, quân đội ta là của nhân dân, bộ đội ta
là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, cho nên phải chiến đấu hy sinh
23
quên mình vì nhân dân. Trung với nước, hiếu với dân đã tạo nên sức mạnh vô
địch của quân đội ta nên khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng.
Đối với công an nhân dân, Hồ Chí Minh đã khẳng định : “Phải nâng
cao lòng yêu nước, yêu CNXH, luôn cảnh giác, dũng cảm chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc, bảo vệ CNXH. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với
nhân dân” [22, tr.145]. Trong sáu điều dạy công an nhân dân, có hai điều rất
quan trọng đó là: “Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Với với
nhân dân, phải kính trọng lễ phép” [15, tr.406].
Đối với thanh niên, Hồ Chí Minh yêu cầu: Điều gì phải thì làm cho kỳ
được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.
Trong thư gửi thanh niên ngày 2-9-1965, Bác căn dặn: “Phải luôn nâng cao
chí khí cách mạng, trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[21, tr.504].
Đối với các thầy cô giáo, “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn
đức. Đức là đạo đức cách mạng …Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài
cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một
lòng phục vụ nhân dân”[21, tr.329] “Thầy và trò luôn phải nâng cao tinh thần
yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội…tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách
mạng… sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào mà mà Đảng và nhân dân giao
cho…”[22, tr.403]
Như vậy, với luận điểm: trung với nước, hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã
làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức. Người đã gạt bỏ cái cốt lõi
nhất trong Nho giáo là lòng trung thành tuyệt đối với ông vua phong kiến. Hồ
Chí Minh đã lật ngược triết lý đạo đức Nho giáo như C. Mác đã làm với học
thuyết của Hêghen.
b. Yêu thương con người

Người yêu cầu phải yêu thương các chiến sĩ như anh em ruột thịt…
25

Trích đoạn Xây dựng môi trường lành mạnh, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội trong nhà trường Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của sinh viên Xây dựng đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn nghề nghiệp, tốt về phẩm chất đạo đức, gắn “dạy chữ” với “dạy người” Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status