đại học quốc gia hà nội
TR-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Nguyễn Đức Minh
Giáo dục đạo đức cho sinh viên
Học viện báo chí và tuyên truyền hiện nay
theo TƯ TƯởng hồ chí minh luận văn thạc sĩ chính trị học
1.3.1. Kết hợp chặt chẽ giữa học với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn 38
1.3.2. Kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục thanh
niên - sinh viên 41
1.3.3. Phát huy ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện và lấy gương “người
tốt, việc tốt” để giáo dục 44
1.3.3. Giáo dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên thông qua các tổ
chức quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng 49
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN HIỆN NAY 53
2.1. Những yếu tố tác động đến đạo đức và giáo dục đạo đức cho
sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay 53
2.1.1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc xây
dựng đạo đức sinh viên 53
2.1.2. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế với đạo đức sinh viên 57
2.1.3. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với
việc giáo dục đạo đức sinh viên 60
2.2. Thực trạng đạo đức và đặc điểm sinh viên ở Học viện Báo chí
và Tuyên truyền hiện nay 61
2.2.1. Đặc điểm sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền 61
2.2.2. Thực trạng đạo đức sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền 66
2.3. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền 75
2.3.1. Ưu điểm 75
2.3.2. Những hạn chế và khó khăn 83
2.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền
hiện nay 87
2.4.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên 87
2.4.2. Phát huy vai trò của các tổ chức Đoàn thanh niên, Hội sinh viên
sau” về cả “tài” và “đức” bởi “có tài mà không có đức là người vô dụng, có
đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến
sự nghiệp “trồng người”, coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, đồng thời xác
định mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam là đào tạo ra những con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, có sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực công dân, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm qua, giáo dục Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào, chất lượng giáo dục, đặc biệt
là giáo dục đại học có nhiều khởi sắc. Phần lớn sinh viên đều sống có lý
tưởng, hoài bão, trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã
2
hội chủ nghĩa, có năng lực làm chủ, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật
một cách sáng tạo. Hàng năm, giáo dục Việt Nam đã đào tạo ra hàng vạn cán
bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, đóng vai trò xung kích, tiên phong trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Giáo dục đạo đức cho sinh viên trong thời kỳ đổi mới có nhiều thuận lợi
song cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Cơ chế thị trường tạo điều
kiện cho sự năng động, sáng tạo của sinh viên được phát huy nhưng tính chất
cạnh tranh khốc liệt của nó lại sinh ra tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo
lý, coi thường các giá trị nhân văn. Mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đón
được gió lành nhưng cũng không tránh khỏi gió độc lọt vào nhất là sự lợi
dụng của kẻ địch để thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” mà đối tượng
chính là thế hệ trẻ trong đó có sinh viên. Dưới tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường, của hội nhập với thế giới, của âm mưu “diễn biến hòa bình” một số
sinh viên đã xa rời lý tưởng cách mạng, giảm sút tình cảm, đạo đức cách
mạng.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng
- Về sách:
+ Thành Duy (1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
+ Đoàn Nam Đàn (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh
niên, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
+ GS. Vũ Khiêu (chủ biên) (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
truyền thống dân tộc và nhân loại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
+ Phạm Đình Nghiệp (2000), “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ
trẻ Việt Nam trong tình hình mới”, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
4
+ Trần Thị Quy Nhơn (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò thanh
niên trong cách mạng Việt Nam”, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
+ TS. Dương Tự Đam (2008) “Giáo dục thanh niên kế thừa nhân cách
Hồ Chí Minh để trưởng thành và phát triển”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
Trong các cuốn sách trên, các tác giả bàn đến nguồn gốc, đặc điểm tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các giá trị chuẩn mực của đạo đức mới, con
đường tu dưỡng đạo đức cách mạng. Vai trò của thanh niên trong cách mạng
Việt Nam. Làm rõ đường lối, chính sách phát triển thanh niên của Đảng và
nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, trình bày nội dung giáo dục tư tưởng, đạo
đức Hồ Chí Minh xây dựng nhân cách sống cho thế hệ trẻ và đưa ra một số
mô hình giáo dục thanh niên một cách thích hợp. Cung cấp những thông tin
về thực trạng giác ngộ lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam; công tác
giáo dục lý tưởng cách mạng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình hình
mới.
- Về tạp chí:
+ Th.S Ngô Thị Thu Ngà có bài ”Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
đào tạo đạo đức cách mạng cho thanh niên”, Tạp chí Giáo dục lý luận (tháng
thiết và cấp bách. Vì vậy, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “Giáo dục đạo
đức cho sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh” là không trùng lặp với những công trình đã công bố.
Với công trình này, tác giả mong muốn góp một chút công sức nhỏ bé vào
việc thực hiện tốt nhất mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cao cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên, nghiên cứu thực trạng đạo đức và giáo
dục đạo đức cho sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay làm cơ
sở lý luận và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục đạo đức cho sinh viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay theo
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo
đức cho thanh niên - sinh viên.
+ Làm rõ thực trạng đạo đức và công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên ở
Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho
thanh niên - sinh viên, thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ
VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN - SINH VIÊN
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan
trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên
nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức
khỏe và sáng tạo. Sinh viên là tầng lớp người đang ở độ tuổi thanh niên, đang
trong quá trình hình thành nhân cách, họ có chung một dạng hoạt động cơ bản
đặc thù là học tập có tính chất nghiên cứu. Đây là một bộ phận ưu tú trong
thanh niên, đồng thời là bộ phận tương lai của trí thức, có vị trí kép trong cơ
cấu xã hội, vị trí, vai trò của thanh niên và của trí thức. Với tư cách là thanh
niên, sinh viên là mùa xuân của xã hội, là cội nguồn của sự sống, là tương lai
của dân tộc, người kế thừa sự nghiệp của cha anh xây dựng và phát triển đất
nước.
1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về thanh niên - sinh viên
1.1.1. Quan niệm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò thanh niên - sinh
viên.
Quan niệm của Người về thanh niên là một triết lý nhân sinh sâu sắc:
“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ
là mùa xuân xã hội” [27, tr.167]. Vì vậy, ở đâu và trong thời điểm nào, Người
cũng coi thanh niên là lực lượng xung kích, là rường cột của đất nước, tương
lai của dân tộc.
Trong cách nhìn nhận và đánh giá thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh
bao giờ cũng đề cập đến cả hai mặt (mặt mạnh và hạn chế), nhưng Người luôn
coi mặt ưu điểm là cơ bản nhất, quan trọng nhất. Đây là quan điểm đúng đắn,
9
có ý nghĩa trong định hướng, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng thanh
niên ở mọi giai đoạn của cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, với tư cách “Mùa xuân của xã hội”, mùa xuân của
cách mạng, thanh niên luôn là lực lượng tràn đầy sức sống, có ước mơ, hoài
Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy thanh niên phải
hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc” [36, tr.129].
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã dựa
trước tiên vào thanh niên, tổ chức, giáo dục, huấn luyện họ để vận động tiến
tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến hành giải phóng dân tộc. Người
sáng lập, rèn luyện Đảng ta từ tổ chức tiền thân của Đảng là “Việt Nam Thanh
niên cách mạng đồng chí hội”. Hầu hết số đảng viên thuộc lớp đầu tiên của
Đảng đều là thanh niên, các đồng chí Tổng Bí thư lúc đó của Đảng cũng ở
tuổi thanh niên: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ
Người chỉ ra tiềm năng to lớn của tuổi trẻ trong công cuộc kiến thiết và
xây dựng nước nhà: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân
tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng cường quốc năm châu
được hay không, một phần lớn chính là nhờ ở công học tập của các cháu” [27,
tr.33]. Từ đó, Người khẳng định vị trí, vai trò của thanh niên trong sự phát
triển, trường tồn của dân tộc: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước
nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các
thanh niên” [28, tr.185].
Để xứng đáng với vị trí đó, Người luôn nhấn mạnh vai trò xung kích đi
đầu của thanh niên trong mọi hoạt động: “Thời đại này là thời đại vẻ vang của
thanh niên. Mà thanh niên phải là những đội xung phong trên các mặt trận
chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật” [33, tr.390]. Thanh niên phải không
được lùi bước trước bất cứ khó khăn, gian khổ nào, không có quyền từ chối
11
bất cứ sự hy sinh nào, thanh niên phải làm tất cả để nhanh chóng chiến thắng
nghèo nàn, lạc hậu, đưa sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta
đến toàn thắng. Một nhiệm vụ cấp bách của thanh niên là phải hăng hái tiến
quân vào khoa học kỹ thuật để đưa sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa tiến đến thắng lợi vẻ vang. Trong tư tưởng văn hoá, thanh niên phải
không ngừng giác ngộ xã hội chủ nghĩa, ra sức rèn luyện lập trường giai cấp
khó khăn hơn nhiều là chuẩn bị cho lớp người đi sau những gì cần thiết để họ
có khả năng giữ gìn, bảo tồn và phát huy những thành quả quý báu mà các thế
hệ trước đã tạo ra, đồng thời có khả năng thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm
vụ của cách mạng trong mỗi chặng đường lịch sử. Chính vì vậy, vai trò của
thanh niên không những chỉ là “người tiếp sức” cho cách mạng mà còn là
người dìu dắt thế hệ cách mạng cho đời sau: lớp măng non nhi đồng của đất
nước - tương lai của dân tộc. Đoàn Thanh niên Lao động phải là cánh tay đắc
lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng
thành những chiến sỹ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Người đánh giá thanh niên với tất cả những ưu điểm vốn có của họ,
đồng thời Người cũng luôn chỉ ra những mặt yếu, những nhược điểm của
thanh niên. Đó là: sự thiếu từng trải trong cuộc sống, một số chưa chịu khó
học tập, mắc bệnh hình thức, bệnh cá nhân, tự cao, tự đại Người yêu cầu
thanh niên phải chống tâm lý ham sung sướng, tránh khó nhọc, chống thói
xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay; chống lười biếng, xa xỉ, chống
kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang
Từ sự nhìn nhận toàn diện đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra cho chúng
ta ý nghĩa, phương pháp luận trong việc đánh giá thanh niên: thanh niên là
người đang trưởng thành chứ chưa phải đã trưởng thành, họ có nhiều mâu
13
thuẫn trong quá trình đang lớn lên. Do đó phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt
yếu là con đường để tự hoàn thiện nhân cách của thanh niên. Từ đó, Người
chỉ rõ nhiệm vụ của thanh niên: “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho
xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng cho mình,
phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó” [28, tr.185].
Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến sự phát triển của thanh niên,
trước hết là phát triển trí tuệ. “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân
tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Khi dân tộc được giải phóng
Vai trò và nhiệm vụ là hai bộ phận không thể tách rời trong một chỉnh
thể thống nhất, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau. Nếu vai trò càng cao thì nhiệm vụ sẽ đòi hỏi càng nhiều. Theo lôgíc
biện chứng đó với việc khẳng định vai trò của thanh niên trong cách mạng
Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng luôn đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ đối với
thanh niên. Trong bài “Nhiệm vụ của thanh niên ta” đăng trên báo Nhân dân
số 657, ngày 20 tháng 12 năm 1955. Người viết: “Lực lượng lớn thì phải có
nhiệm vụ lớn. Cho nên trong mọi công việc khôi phục kinh tế, củng cố miền
Bắc, chiếu cố miền Nam… trên các mặt trận đấu tranh để thống nhất nước
nhà, toàn thể thanh niên gái và trai phải cố gắng nhiều hơn nữa, tiến bộ hơn
nữa, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của thanh niên”[31, tr.94-95].
Trong mỗi giai đoạn khác nhau của cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh đều
đề ra các nhiệm vụ cho thanh niên. Năm 1926, nhiệm vụ quan trọng nhất đặt
ra là vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị
về mặt tư tưởng bằng cách đưa một số thanh thiếu niên đi học lý luận Mác -
Lênin. Nhiệm vụ của thanh niên lúc này là học tập và truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin: “Chúng tôi đã đưa đến Quảng Châu một số trẻ em An Nam.
Chúng tôi đã lập một nhóm thiếu nhi. Chúng tôi muốn gửi ba hay bốn em qua
Nga để các em tiếp thu một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp”[25,
15
tr.227]. Năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang gay go ác liệt, Hồ
Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ cho thanh niên qua “Thư gửi các bạn thanh
niên”: “Mỗi thanh niên phải kiên quyết làm bằng được những việc sau đây:
a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung
sướng thanh nhàn thì nhường người ta hưởng trước.
b) Các việc đáng làm, thì khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công
danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
thành với Tổ quốc, với nhân dân; anh dũng chiến đấu và hăng hái lao động
sản xuất; trau dồi đạo đức cách mạng; ra sức học tập; dìu dắt thiếu niên nhi
đồng
Đồng thời với việc đặt ra yêu cầu về sự tu dưỡng, rèn luyện lý tưởng,
chí khí, đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhiệm vụ chính của
thanh niên học sinh là học” [30, tr.398]. Mục đích của việc học tập là để
phụng sự cho nhân dân, cho Tổ quốc. Việc học tập cần phải tiến hành thường
xuyên và ở mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và
học ở nhân dân” [29, tr.50]. Người nhấn mạnh “không học ở nhân dân là một
thiếu sót rất lớn” [29, tr.50].
Người luôn yêu cầu, nhắc nhở thanh niên phải không ngừng học tập,
nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, bởi đây là điều kiện
quan trọng để họ cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.
Trình độ học vấn, khoa học, kỹ thuật và công nghệ là lực lượng vật chất tác
động trực tiếp đến năng suất lao động, hiệu quả làm việc của mỗi người đặc
biệt là thanh niên.
17
Chính vì thế, thanh niên luôn phải trau dồi bản thân, luôn “phải học và
học cho giỏi”[33, tr.621]. Cách mạng luôn cần những con người có cả đức lẫn
tài, vừa hồng vừa chuyên.
Xuất phát từ quan điểm coi thanh niên là lực lượng kế tục sự nghiệp
cách mạng, Đoàn thanh niên là đội hậu bị của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng
định:
“Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà.
Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”[31, tr.95].
Chính vì thế, thanh niên luôn phải trau dồi bản thân, luôn “phải học và
học cho giỏi”. Cách mạng luôn cần có những con người có cả đức lẫn tài, vừa
hồng vừa chuyên.
Một trong 5 điều Bác Hồ dạy thanh niên là: “… Ra sức học tập nâng
chỉ riêng thanh niên suy nghĩ
Đây là sự đúc kết một cách đầy đủ, ngắn gọn, khúc triết nhất của Hồ
Chí Minh về nhiệm vụ thanh niên, trong đó đã làm bật lên yêu cầu thanh niên
phải biết hy sinh, cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc.
Trong thời kỳ hiện nay đây vẫn là câu hỏi, là nhiệm vụ đặt ra đối với
mỗi thanh niên. Lời dặn của Người đã trở thành câu hát luôn được vang lên
trong từng hoạt động của thanh niên Việt Nam: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì
cho ta mà tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc thân yêu!”.
Hồ Chí Minh rất chú ý đến vai trò xung kích, xung phong của thanh
niên nên Người còn nhấn mạnh: “Về nhiệm vụ của thanh niên, nam nữ thanh
niên phải làm sao thực hiện được tốt khẩu hiệu:
Việc gì khó có thanh niên.
Ở đâu khó có thanh niên” [32, tr.310].
19
Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi thanh niên phải có chí tiến thủ, có ý chí cách
mạng kiên cường để không ngừng tiến bộ và vượt qua mọi khó khăn thử
thách.
“Thanh niên cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập.
Phải có khí khái ham làm việc chứ không ham địa vị.
Phải có quyết tâm đã làm việc gì thì làm cho đến nơi đến chốn, làm cho
kỳ được, phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, học luôn, học mãi. Học văn
hoá, học chính trị, học nghề nghiệp.
Phải có lòng kiên quyết tham gia kháng chiến để đấu tranh cho kỳ được
thống nhất và độc lập, dân chủ và tự do.
Như thế mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà”
[28, tr.375].
Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhiệm vụ của thanh niên là nhất quán,
có cơ sở xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng chung. Tuy nhiên nếu xét ở góc độ
thanh thiếu niên là lực lượng hậu bị của Đảng, là đội quân kế cận của cách
những khuyết điểm mà thanh niên thường mắc phải là ham chuộng hình thức,
thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng… chỉ khi nào chúng ta loại bỏ
được “kẻ thù” ngay trong chính bản thân mình thì chừng đó chúng ta mới có
thể trở thành con người chí công vô tư được.
Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng những quan điểm của Người về vai trò,
nhiệm vụ của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam vẫn còn
nguyên giá trị.
Trong thực tế cách mạng Việt Nam, mỗi khi đất nước phát huy được
sức mạnh tổng hợp của dân tộc, sức mạnh của thanh niên thì mọi công việc
đều thành công và ngược lại khi cả nước không đồng lòng, thanh niên không
đồng sức thì công việc đó sẽ rất khó thành công.