Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên xã hướng đạo, huyện tam dương, tỉnh vĩnh phúc hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh - Pdf 38

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ TUYẾT

NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN XÃ HƢỚNG ĐẠO,
HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN
NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học
Th.S Phạm Thị Thúy Vân

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Giáo dục chính trị, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, và sự đồng ý của Cô giáo hướng dẫn Th.S Phạm Thị Thúy Vân tôi
đã thực hiện đề tài “Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên xã
Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh”.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
Th.S Phạm Thị Thúy Vân, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Giáo dục chính trị,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy và
truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập, nghiên cứu và rèn luyện

Chƣơng 2. VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC NÂNG CAO
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CÁC CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN XÃ HƢỚNG ĐẠO,
HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY ............................... 28
2.1. Đặc điểm và nhân tố tác động đến cán bộ, đảng viên xã Hướng Đạo, huyện
Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc .............................................................................. 28
2.2. Thực trạng đạo đức trong cán bộ, đảng viên xã Hướng Đạo, huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay ........................................................................ 32
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên
xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ........................................... 44
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi
trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền
tảng của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách
sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong
suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng
đạo đức do mình đặt ra.
Khi bàn về vai trò quan trọng của đạo đức, Hồ Chí Minh cho rằng, đạo
đức là yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội loài người và đối với cá
nhân con người xã hội. Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đạo
đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và Người yêu cầu phải luôn xây dựng
Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức là văn minh. Như Người
thường nói: Trời có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Đất có bốn phương: đông,
tây, nam, bắc. Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một mùa thì
không thành trời, thiếu một phương thì không thành đất và thiếu một đức thì
không thành người. Do đó, Người thường xuyên chăm lo, giáo dục đạo đức

cạnh đó vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình để chiếm của công, làm lợi cho cá nhân, làm giảm sút niềm tin của dân
vào bộ máy lãnh đạo của Đảng bộ.
Vì vậy, việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cả nước
nói chung và cán bộ, đảng viên xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng là vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Nâng
cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên xã Hướng Đạo, huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” để làm khóa
luận tốt nghiệp của mình.

2


2.Tình hình nghiên cứu
Vấn đề đạo đức, lối sống đã được đặt ra từ lâu và được nhiều tác giả đi
vào nghiên cứu, trong đó có một số công trình tiêu biểu như:
Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) (2001), Một số vấn đề về lối sống đạo đức,
chuẩn giá trị xã hội; Nguyễn Duy Quý, (2006), Đạo đức xã hội ở nước ta
hiện nay: vấn đề và giải pháp; Phạm Đình Nghiệp (2001), Giáo dục lý tưởng
cách mạng cho thanh niên hiện nay; Trình Duy Huy (2009), Xây dựng đạo
đức mới trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; Giáo sư Vũ Khiêu
(chủ biên) (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - truyền thống dân tộc và
nhân loại; Đỗ Huy (2003), “Cán bộ, đảng viên học tập và rèn luyện đạo đức
theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, số 10; Đặng Sỹ Lộc
(1992), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng, giáo dục thanh niên”, Tạp chí
Triết học, số 2.
Các công trình trên đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức nhưng chưa đi sâu
vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và các biện pháp để phòng
chống suy thoái đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Tuy
nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu nói trên đều chỉ đề cập đến việc vận

dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng nhằm nâng cao đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh
Vĩnh Phúc từ năm 2006 đến năm 2015.
5. Đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý luận: Khóa luận góp phần khẳng định giá trị của Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức đối với công tác xây dựng cán bộ, đảng viên ở nước ta
hiện nay.
Về mặt thực tiễn: Khóa luận góp phần đề cao giá trị tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; đối với công tác
xây dựng Đảng hiện nay.

4


6. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
6.1.Cơ sở lý luận
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.
6.2.Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của phương
pháp biện chứng duy vật lịch sử để chứng minh đạo đức cách mạng của Hồ
Chí Minh, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, thống kê…
7. Kết cấu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương,
5 tiết.

5


Chƣơng 1

biến của nhân loại sẽ không ngừng được sáng tạo và phát triển qua mọi thời
đại và được kế thừa trong đạo đức cộng sản - một nền đạo đức mang tính
nhân loại phổ biến của xã hội tương lai.
Về vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn
diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc
công, từ lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ
hoạt động, công tác đến sinh hoạt hàng ngày. Hồ Chí Minh cũng bàn đến đạo
đức ở mọi phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc. Với Hồ Chí
Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn mang tính
khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú, đa dạng của đời sống xã hội
và của mỗi con người.
Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩa đạo đức là gì, nhưng trong sử
dụng, thuật ngữ đạo đức được dùng với hai nghĩa: rộng và hẹp.
Nghĩa rộng: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự
giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính
người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị tư tưởng.
Nghĩa hẹp: Đạo đức là các quy tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi
con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống.
Hồ Chí Minh tập trung bàn nhiều về đạo đức theo nghĩa hẹp với ba mối
quan hệ cơ bản của mỗi người (với mình, với người và với việc).
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi và cách ứng xử trong quan hệ với
nhau và quan hệ với xã hội nhằm bảo đảm quan hệ lợi ích của cá nhân và
cộng đồng xã hội.
1.1.2. Đạo đức cách mạng
Đạo đức là một trong những quan hệ chủ yếu của đời sống xã hội và ý

7




mình với quần chúng. Người dạy rằng, nói tóm lại đạo đức cách mạng là:
“Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ
chốt nhất.
Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt
đường lối, chính sách của Đảng.
Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích
riêng của cá nhân mình. Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân
mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.
Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự
phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí
mình tiến bộ”.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, đạo đức mới được thể hiện ở tinh thần
chiến đấu dũng cảm chống kẻ thù chung, trong lao động sáng tạo xây dựng
đất nước, trong tình hữu ái giai cấp công nhân và nhân dân lao động, trong
chủ nghĩa quốc tế vô sản và trong sự ngiệp xây dựng những con người mới
phát triển toàn diện.
Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là “gốc”, là “nền tảng” của người
cách mạng. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có
nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách
mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
đạo được nhân dân” [9, tr.636]. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng
làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức cách mạng
là cái phải được chuyển hóa thành phẩm chất, nhân cách của người cách
mạng, là yếu tố cốt lõi của nhân cách và chỉ có như vậy, đạo đức cách mạng
mới thể hiện vai trò cải tạo xã hội thông qua hoạt động của con người - chủ
thể cách mạng.
Như vậy, đạo đức mới là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực đạo

9

10


thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè lùi bước”, “khi gặp thuận lợi,
thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác khiêm tốn” với “lo
trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không
kém cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu
ngạo, không tha hóa.
Đạo đức là gốc, là nền tảng và liên quan tới Đảng cầm quyền lãnh đạo
toàn xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu
dưỡng về đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa
con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn
minh”. Người thường nhắc lại lời của Lênin: Đảng cộng sản phải tiêu biểu
cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Người nói cán bộ,
đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải “viết lên trán
chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những
người có tư cách đạo đức” [6, tr.252-253].
Vai trò của đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng
cao thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người có
công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ
những ai giữ được đạo đức cách mạng là người cao thượng.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, không phải một chiều phụ thuộc
vào tồn tại xã hội và những điều kiện vật chất kinh tế. Nó có khả năng tác
động tích cực trở lại, cải biến tồn tại xã hội. Giá trị đạo đức tinh thần một khi
được con người tiếp nhận sẽ biến thành một sức mạnh vật chất.
Chính vì vậy, Người luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục
đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải
thực sự thầm nhuần đạo đức cách mạng. Đảng phải quan tâm chăm lo giáo
dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những
người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

chí, đồng nghiệp, cán bộ, đảng viên, phải thân ái với nhau nhưng không che

12


đạy những điều dở mà phải học những cái hay để sửa những điều dở. Đối với
đồng nghiệp trong môi trường công việc hoặc đối với bạn bè không nên tranh
giành ảnh hưởng của nhau, bỏ lợi hiển danh, hiển vị, biết “nâng một người
đứng dậy không dẫm lên chân người đó”. Trong công việc, cán bộ, đảng viên,
phải suy nghĩ cho kĩ, cân nhắc thành công trước mắt và tác động lâu dài. Phải
chủ động và sáng tạo trong công việc, biết những điều phải làm, phương pháp
phù hợp, biết trù liệu trước những thành quả và rủi ro để lúc nào cũng giữ
được bản lĩnh và thế chủ động. Đối với nhân dân, người cán bộ, đảng viên
phải tận tụy phục vụ người dân, hiểu rằng “dân nghe theo là mình mạnh” phải
hiểu nguyện vọng tâm lý của dân. Có như vậy mới giúp dân hoàn thành
những nhiệm vụ của Đảng và Chính phủ giao phó “muốn cho dân phục phải
được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”. Đối với đoàn thể, phải
trung thành tuyệt đối, bỏ những ham muốn cá nhân đi ngược lại lợi ích của
đoàn thể. Thêm vào đó, theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì “sức có mạnh
mới gánh được việc nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức
cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [11,
tr.283]. Do đó, có thể thấy các phẩm chất đạo đức có vị trí nền tảng và đóng
vai trò quyết định trong đời sống tự thân, đời sống xã hội và công việc của
người cán bộ đảng viên.
Chính vì vậy sinh thời quan tâm lớn nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh đối
với đội ngũ cán bộ, đảng viên là làm sao giáo dục để đội ngũ cán bộ này dù
hoạt động trong ngành nghề lĩnh vực nào cũng thấm nhuần đạo đức cách
mạng. Người đặc biệt chú trọng đến giáo dục những phẩm chất: cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư. Người yêu cầu người đảng viên phải luôn trau dồi
đức tính khiêm tốn, giản dị, cần kiệm trong lao động, học tập, công tác, có đời

đặc biệt là trong đội ngũ cán bộ,công chức nhằm góp phần xây dựng Đảng,
nhà nước trong sạch, củng cố sức mạnh của đất nước.
Ngoài bệnh tham lam, cần đặc biệt chú trọng phê bình và tự phê bình đối

14


với đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng nhằm ngăn ngừa và chống lại những
biểu hiện tiêu cực về đạo đức. Nếu không thực hiện tốt phê bình và tự phê
bình, cán bộ, đảng viên rất dễ trở thành vô kỉ luật. Bệnh thiếu kỉ luật cũng là
căn bệnh hết sức nguy hiểm, do cán bộ, đảng viên đó không chịu rèn luyện
trong tổ chức, không đặt mình vào guồng máy hoạt động của tổ chức, vi phạm
điều lệ Đảng, quy định nguyên tắc Đảng. Theo Hồ Chi Minh, tất cả bệnh đó là
biểu hiện của việc cá nhân chủ nghĩa. Người còn nhấn mạnh, nếu cán bộ,
đảng viên mà mắc phải một trong các bệnh này tức là đồng nghĩa với sự thất
bại, tức là hỏng việc, họ sẽ bị nhân dân xa rời. Để thực hiện tốt phê bình và tự
phê bình, người cán bộ, đảng viên cần phát huy và thực hành dân chủ rộng rãi
trong sinh hoạt Đảng, góp phần vào việc nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp
ủy và chi bộ. Thực hiện tốt việc phân công, hướng dẫn, kiểm tra đảng viên
chấp hành nhiệm vụ, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu trong công tác,
học tập và lối sống, giữ mối liên hệ với quần chúng nơi công tác với chi bộ và
nhân dân nơi cư trú.
Như vậy, có thể thấy vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách
toàn diện. Người yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm
xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã
hội, trong cả ba mối quan hệ với con người, đối với mình, đối với người và
đối với công việc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh
vực đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm
quyền. Trong bản Di chúc bất hủ Người viết “Đảng ta là một đảng cầm
quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,

nước, vì vua với nước là một, nước là vua. Còn “ Hiếu” nghĩa là hiếu thảo với
cha mẹ, những người có ơn sinh thành, nuôi dưỡng mình.
Kế thừa giá trị chủ nghĩa yêu nước truyền thống vượt qua những hạn chế
của truyền thống đó, Hồ Chí Minh đã sử dụng “trung”, “hiếu” và đưa vào nội
dung mới, đó là trung với nước, hiếu với dân.

16


Trong đó, trung với nước có nghĩa là trung thành với sự nghiệp dựng
nước và giữ nước. Khái niệm “nước” ở đây là quốc gia dân tộc độc lập của
dân và dân là chủ nhân của đất nước, khác với khái niệm trước kia cho rằng
“nước” là của vua, chỉ riêng một cá nhân là thiên tử mới có quyền định đoạt
vận mệnh của đất nước.
Hiếu với dân là phải thương dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và
học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc. Người lãnh đạo phải nắm
vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải thiện cuộc sống cho người dân và giúp
người dân hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình. Như vậy, hiếu với dân thì
người cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là người “đầy tớ” trung thành của
nhân dân.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, nước là nước của dân và dân là chủ
của đất nước. Vì vậy, trung với nước, hiếu với dân là thể hiện trách nhiệm với
sự nghiệp dựng nước và giữ nước với con đường đi lên và phát triển đất nước.
1.2.2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phương pháp công tác của người cán bộ,
đảng viên là “đảng viên đi trước, làng nước đi sau”. Sự gương mẫu đi đầu, lời
nói đi đôi với việc làm mẫu mực là sự thuyết phục, cảm hóa để lôi cuốn nhân
dân vào các phong trào cách mạng. Bởi vậy, đảng viên phải làm gương cho nhân
dân cả về lời nói và việc làm để cho dân tin dân phục, từ đó làm cho dân tin
Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và Chính phủ. “Cái gì lợi cho

người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm
tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên
trên, lên trước việc tư, việc nhà.
“Chí công vô tư” là ham làm những việc ích quốc, lợi dân, không ham
địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý. Người nói “Đem lòng chí
công vô tư mà đối với người với việc”, “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng
nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải “lo trước thiên

18


hạ, vui sau thiên hạ”. Người chí công vô tư thì lòng dạ thảnh thơi, đầu óc tỉnh
táo, sáng suốt. Có chí công vô tư mới nêu cao được chủ nghĩa tập thể, từ bỏ
được chủ nghĩa cá nhân.
Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư có mối quan hệ mật thiết với
nhau, Cần, Kiệm, Liêm, Chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại, chí
công vô tư một lòng vì nước, vì dân thì nhất định sẽ được cần, kiệm, liêm ,
chính.
Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là những khái niệm đạo đức cũ
được Hồ Chí Minh tiếp thu chọn lọc và đưa vào những yêu cầu, nội dung
mới. Người chỉ ra rằng: Phong kiến đưa ra Cần, Kiệm, Liêm, Chính, nhưng
không thực hiện, ngày nay ta đề ra Cần, Kiệm, Liêm, Chính, cho cán bộ thực
hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân. Cần, Kiệm,
Liêm, Chính, Chí công vô tư là một biểu hiện sinh động cho phẩm chất
“Trung với nước, hiếu với dân”. Theo Hồ Chí Minh chỉ rõ “Cần, Kiệm, Liêm,
Chính”, có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi người. Hồ Chí Minh chỉ rõ
“Cần, Kiệm, Liêm, Chính, là nền tảng của đời sống mới”, là những đức tính
không thể thiếu được của mỗi con người cũng như bốn mùa của trời, bốn
phương của đất. Cần, Kiệm, Liêm, Chính, là bốn đức tạo nên chất người của
mỗi chúng ta. Người viết:

Yêu thương con người được thể hiện trong mối quan hệ gia đình, anh
em, họ hàng, bạn bè; trong quan hệ với đồng bào cả nước và cả nhân loại.
Chuẩn mực này đòi hỏi mỗi người phải nghiêm khắc với bản thân mình và
rộng rãi, độ lượng với người khác “Tiên trách kỉ, hậu trách nhân” như người
xưa răn dạy. Ngoài ra, phẩm chất này còn đòi hỏi thái độ tôn trọng con người,
phải biết cách nâng con người lên, chứ không hạ thấp vùi dập nhau vì lợi ích
cá nhân hoặc một lợi ích của nhóm người nhất định. Yêu thương con người
còn được thể hiện ở chỗ đối với những người có sai lầm, khuyết điểm nhưng
đã nhận ra khuyết điểm, sai lầm và cố gắng sửa chữa; đối với những người

20


lầm đướng lạc lối đã hối cải, đối với những kẻ thù bị bắt, bị thương hoặc đã
chịu quy hàng. Chính tình yêu thương đó đã đánh thức những gì tốt đẹp trong
mỗi con người.
Trong thực tế cuộc đời mình, Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng
chí của Người không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già,
là trai hay gái. Không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt
Nam yêu nước thì đều có trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương
của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm, khuyết điểm. Với tấm
lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn chúng ta: “Mỗi con người
đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm sao cho lòng tốt ở trong mỗi
người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, nó là thái độ của
người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người
phản lại Tổ quốc và Nhân dân ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho
cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi cái ác chứ không phải đập
cho tơi bời”. Với tư cách một người đồng chí, người nhắc nhở cán bộ, đảng
viên phải yêu thương, đùm bọc, giúp nhau cùng tiến bộ. Một khi đã hoàn
thành nhiệm vụ thì phải quay sang hỗ trợ đồng chí của mình. Và để giúp đỡ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status