Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên xã Hương Trạch Hương Khê Hà Tĩnh - Pdf 41

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết em xin được gửi lời cảm ơn chân
thành bày tỏ lòng biết ơn tới thầy Cao Đức Dũng, người đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề tài.
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình với những ý kiến
và kinh nghiệm quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị,
cùng các bạn trong lớp 09SGC.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do lần đầu tiên làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học nên chắc chắn đề tài của em còn nhiều thiếu sót, rất
mong được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô cùng các bạn sinh viên để đề
tài hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 05/2013
Sinh viên thực hiện
Thái Thị Thìn


MỤC LỤC



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chủ Tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã để lại
nhiều tư tưởng tấm gương giá trị. Trong đó, từ bài giảng đầu tiên trong tác
phẩm “Đường Kách mệnh” đến bản “Di chúc” cuối cùng, chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo
đức là cái gốc của người cách mạng. Người không chỉ bàn một cách sâu sắc,
cô động, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người trong suốt
cuộc đời hoạt động đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng đạo đức
do mình đặt ra.

Vì vậy việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách
mạng để xây dựng đạo đức cho cán bộ, đảng viên nước ta nói chung và xã
Hương Trạch - Hương Khê - Hà Tĩnh nói riêng là vấn đề cấp bách.
Với những lí do trên, và nhằm thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4,
khóa XI, với tư cách là sinh viên làm khóa luận, tác giả mạnh dạn chọn đề
tài :“ Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào
xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên xã Hương Trạch- Hương
Khê- Hà Tĩnh”, làm đề tài khóa luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nói chung, đạo đức cách mạng nói
riêng là một trong những vấn đề quan trọng trong tư tưởng của Người. Từ
trước đến nay, vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức cũng như giáo dục đạo đức cho toàn đảng, toàn dân đã được
nhiều tác giả nghiên cứu, trong số đó phải kể đến một số công trình nghiên
cứu quan trọng như:


- “Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ hậu cần quân đội nhân
dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay”. Hà Nguyên Cát, luận án Tiến sĩ triết
học. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- “Vấn đề đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo quản lí nhà nước trong
giai đoạn hiện nay qua thực tế Kiên Giang”, Phạm Văn Hưng, luận án thạc sĩ
triết học, Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
- “Đạo đức mới”, Vũ Khiêu, ( Nxb Khoa học xã hội nhân văn,1974)
- “Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng” , (Nxb Sự thật, 1976).
-“Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng” , (Nxb Thông
tin lý luận, Hà Nội, 1986).
- “Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự
nghiệp”, (Nxb Sự thật, 1990).
- “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên nay”,

- Qua đó xây dựngđội ngũ cán bộ, đảng viên đủ đức, tài, Đảng bộ trong sạch
vững mạnh. Để góp phần vào việc phát triển địa phương, đặc biệt là công
cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay ở xã Hương Trạch – Hương Khê – Hà
Tĩnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu nội dung tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.
- Nghiên cứu thực trạng Đảng bộ, cán bộ, đảng viên xã Hương Trạch -Hương
Khê - Hà Tĩnh
- Nêu lên một số giải pháp xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên
3.3.

xã Hương Trạch -Hương Khê -Hà Tĩnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về
đạo đức cách mạng, vận dụng tư tưởng đạo đức đó để xây dựng đạo đức cách
mạng cho cán bộ đảng viên ở địa phương cụ thể là xã Hương Trạch- Hương

4.1.

Khê-Hà Tĩnh.
4. Cơ sở và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở nghiên cứu của đề tài


Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn của tình hình xây
dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên xã Hương Trạch -Hương Khê
- Hà Tĩnh.
4.2.

1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Định nghĩatư tưởng Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh (19-5-1890, 2-9-1969) là một nhà cách mạng, là một trong
những người đặt nền móng và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,
toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc Việt Nam, là người viết và đọc bản tuyên ngôn
độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ cộng Hòa, là chủ tịch nước
trong thời gian từ 1945- 1969, Chủ tịch ban chấp hành trung Ương Đảng lao
động Việt Nam từ 1951- 1969, kiêm tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương
Đảng từ 10- 1956- 1960.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là thuật ngữ dùng để đề cập đến những tư tưởng
của Hồ Chí Minh được Đảng Cộng Sản Việt Nam đúc kết lại, sử dụng là hệ
thống tư tưởng chính tại Việt Nam hiện nay, bên cạnh Chủ nghĩa Mác- Lênin.
Với những thành tựu to lớn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở trong
và ngoài nước, tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận
thức và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống
quan diểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân
tộc… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.
Hai năm sau, Hội đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc
gia các bộ môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở định


hướng cơ bản của Đại hội IX, đã bước đầu định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh
như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng

xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ các nguồn gốc: Truyền thống
đạo đức của dân tộc Việt Nam là yếu tố đặt nền tảng. Thứ hai là sự kết hợp
của tinh hoa nhân loại, gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Thứ ba, đạo đức mà
Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị lý luận, phương pháp
luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng đạo đức mới là đạo
đức học Mác- Lênin - đạo đức của giai cấp vô sản. Cái nôi đạo đức từ gia
đình, cũng ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Cuối cùng
là phẩm chất, nhân cách Hồ Chí Minh giúp Người xây dựng những tư tưởng
giá trị về đạo đức. Đó là những nhân tố chủ yếu góp phần hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh không lặp lại truyền
thống một cách giản đơn và cũng không chỉ khai thác ở truyền thống đạo đức
dân tộc, cũng không chỉ tự hạn định trong phạm vi cổ truyền. Để có phần sáng
tạo của mình, Hồ Chí Minh đã tiếp cận cả ba nguồn văn hóa, văn hóa dân tộc,
văn hóa khu vực, văn hóa thế giới. Hồ Chí Minh đã nâng đạo đức truyền
thống của dân tộc lên một tầm cao mới-đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh.

1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vai trò của
đạo đức cách mạng


1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng và trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề
xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người coi đây là
vấn đề sống còn của Đảng, là “cái gốc”, “nền tảng của người cách mạng” và
“mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách
mạng hay là không”.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là đạo đức mới mang bản chất
giai cấp công nhân và thấm nhuần những gì tốt đẹp nhất của đạo đức dân tộc

tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.
Người còn cho rằng: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh
nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Nếu khi lợi
ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân
phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của đảng.
Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin
quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và
việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu,
đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và
động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của
Đảng...”
Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng của người cán
bộ, đảng viên đó là: “Hết lòng, hết dạ phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”;
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Người đảng viên cộng sản phải suốt
đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; ra sức phấn đấu để thực hiện mục
tiêu của Đảng, giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của


Đảng; cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đảng viên cũng đặt lợi ích của
Đảng lên trên hết; thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình, tự giác tu
dưỡng, cải tạo, rèn luyện bản thân, gột sạch chủ nghĩa cá nhân…
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng
1.2.2.1. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn chỉ rõ rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới
là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một
cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được
nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền
tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” ; “Cũng như sông
thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc,

chí công vô tư...”.
Như vậy, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, bởi vì nó liên quan
trực tiếp tới khả năng và quyết định hiệu quả "gánh vác" công việc của Đảng
cầm quyền. “Đức là gốc” vì trong đức đã có tài, có cái đức sẽ đi đến cái tài.
Bởi như chúng ta thấy, người thật sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập,
nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
“Đức là gốc ” ở đây phải là “đức lớn ” - đức tận tâm, cái đức chân thành , tận
lực phấn đấu hy sinh vì cách mạng, vì nước vì dân, nó không đồng nhất,
không chỉ là “ Đức” với những phẩm chất đạo đức thông thường.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn suy nghĩ và trăn trở về nguy cơ có thể xảy ra đối với một đảng cầm
quyền, đó là sự sai lầm về đường lối chính trị, sự suy thoái về tư tưởng, đạo
đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Theo Hồ Chí Minh, đảng cầm quyền lãnh


đạo toàn xã hội, lãnh đạo nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên không tu dưỡng,
rèn luyện đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa
bản chất con người. Vì thế, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên: muốn
làm cách mạng, trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, có đạo đức
cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và đối với dân tộc,
luôn phải kiên quyết đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người
khẳng định: “Người cách mạng, phải có đạo đức cách mạng”. Đây không chỉ
là yêu cầu về phẩm chất, năng lực mà còn là vấn đề có tính nguyên tắc trong
chỉ đạo nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.
Theo đó, đạo đức cách mạng là nguồn lực cách mạng tinh thần to lớn của
một Đảng cách mạng; là động lực, điều kiện để Đảng cách mạng, cán bộ
Đảng viên thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử vẻ vang đối với dân tộc. Đạo
đức là gốc của người cách mạng và cũng là gốc trong xây dựng Đảng. “ Đảng
ta phải là đạo đức là văn minh trong đó đạo đức là "gốc", vẫn là vấn đề được
Hồ Chí Minh đặt lên trên hết, trước hết. Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo và

1.3.1. Trung với nước, hiếu với dân
Nắm vững quy luật, đánh giá đúng vai trò của cán bộ trong sự nghiệp
cách mạng. Vì vậy, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng, rèn
luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, đạo đức cách
mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ
hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong.
Từ nội dung và ý nghĩa của vấn đề đó Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “trung với
nước, hiếu với dân” là phẩm chất đạo đức bao trùm quan trọng nhất, đó chính
là tiêu chuẩn số một của người cách mạng, là tiêu chí để phân biệt những kẻ
cơ hội, những kẻ giả danh cách mạng chỉ tìm mọi cách thu vén lợi ích cá


nhân, “trung với nước, hiếu với dân” thể hiện phẩm chất đạo đức hàng đầu
của người cách mạng, là giá trị văn hóa cao đẹp nhất, điển hình của người cán
bộ, đảng viên và còn là mối quan hệ rộng lớn của mỗi con người với Tổ quốc,
với dân tộc, với toàn thể nhân dân. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ này
quyết định đến giải quyết các mối quan hệ khác và phẩm chất đạo đức khác.
Trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông, trung
và hiếu là những khái niệm quen thuộc, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống
tinh thần của cá nhân. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Người đưa vào những nội
dung mới.
Theo quan niệm truyền thống, trung là trung quân, là trung thành với vua
mà trung thành với vua là trung thành với nước. Ở đây, vua với nước là một.
Hiếu có nghĩa con, cháu hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, chữ hiếu chỉ thu hẹp
trong phạm vi gia đình. Tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân ” của Hồ Chí
Minh không chỉ đã kế thừa được những giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền
thống của dân tộc mà còn vượt qua được hạn chế của truyền thống đó. “Trung
với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là
nước của nhân dân, nhân dân là người chủ của đất nước. Hồ Chí Minh luôn

''trung với nước, hiếu với dân'', hơn nữa phải là ''tận trung, tận hiếu'' thì mới
xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ thương dân mà còn phải
phục vụ hết lòng vì dân. Vì vậy phải gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và
học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc. Đối với cán bộ lãnh đạo, phải
nắm vững dân tình. Hiểu rõ dân tâm, phải thường xuyên quan tâm đến việc
cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm
của người chủđất nước. Có như vậy người lãnh đạo sẽ được dân tin yêu, quý
mến, kính trọng.


Có “trung với nước, hiếu với dân” thì người cách mạng mới cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư. Hồ Chí Minh khẳng định “Đạo đức cách mạng có
thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với
nước. Tận hiếu với dân”, Người còn chỉ rõ, đạo đức cách mạng là, quyết tâm
suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng đó là điều chủ chốt nhất, đạo đức
cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng với dân. Đây chính là mục tiêu,
lý tưởng chiến đấu của chúng ta. Từ “trung”, “hiếu” của đạo đức truyền thống
đã được Hồ Chí Minh phát triển lên tầm cao mới, đưa vào nội dung mới, phản
ánh đạo đức cách mạng cao hơn, rộng hơn..Đứng vững trên lập trường giai
cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Người đã dạy,
đạo đức cách mạng là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu lý tưởng của
Đảng. Như vậy, trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân là yêu cầu hàng
đầu trong phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, là biểu
hiện cao nhất thể hiện sự trung thành tuyệt đối với mục tiêu lý tưởng cách
mạng của Đảng, của dân tộc, trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, trung
thành với lợi ích của nhân dân, là biểu hiện chuẩn mực đạo đức của người
cách mạng.
1.3.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là mối quan hệ đối với tự mình.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư có mối quan hệ biện chứng, gắn
bó mật thiết với nhau. Theo Bác: “Cần và kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai
chân của con người. Cần mà không kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng
ấy”… Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được” .
“Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm. Cũng như chữ kiệm phải đi đôi với chữ


cần. Có kiệm mới có liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”. “cần, kiệm,
liêm, là gốc rễ của chính. Như một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá,
hoa, quả mới hoàn toàn. Một người có cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính
mới là người hoàn toàn”. Bác nhấn mạnh: Cần, kiệm, liêm, chính là vô cùng
quan trọng và cần thiết; là nền tảng của đời sống mới; là cái cần để làm việc,
làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và
nhân loại; là thước đo văn minh tiến bộ của một dân tộc. Người khẳng định:
Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm, chính “là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh
về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Cần, kiệm, liêm, chính là đạo
đức của một xã hội hưng thịnh: Nếu không có những phẩm chất đó thì xã hội
suy vong. Do đó, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư.
Ngược lại, chí công, vô tư, một lòng, một dạ vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ
dễ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính và có được nhiều đức tính tốt khác.
Kết quả: “Bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi,
kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các
nước tiên tiến trên thế giới ”
Để thực hiện tốt : Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đòi hỏi mỗi
cán bộ đảng viên phải không ngừng rèn luyện, mà phải rèn luyện lâu dài
bền bỉ.
1.3.3. Yêu thương con người
Trong hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, tư tưởng yêu thương
con người chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong mối quan hệ với đạo đức.

tộc. Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở các
điểm sau:


Đó chính là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân
lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp
bức, bóc lột mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng
thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước
trên thế giới, các nước tư bản cũng như thuộc địa. Người đã chứng kiến cảnh
cùng cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời cũng thấy
rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản. Thực tế sinh động đã giúp Người đồng
cảm và nhận thức rõ: Nơi đâu cũng có người nghèo như ở xứ mình, dù ở các
nước thuộc địa hay chính quốc, họ đều bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn bởi chủ
nghĩa thực dân tàn ác. Người đi tới kết luận: "Dù màu da có khác nhau, trên
đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc
lột. Mà cũng chỉ có một mối tính hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản"
Kết luận này cho thấy nhận thức của Hồ Chí Minh về ý thức dân tộc và ý thức
giai cấp đã từ tầm nhìn quốc gia tới tầm nhìn quốc tế. Kết luận trên cũng là sự
khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh - đoàn kết với
những người lao khổ, cần lao trên thế giới, luôn gắn liền lợi ích dân tộc với
lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế.
Hồ Chí Minh luôn xác định, đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, đoàn kết gắn bó trong các nước xã hội chủ nghĩa
anh em là cơ sở nền tảng, là nhân tố quan trọng bậc nhất,nhân tố có ý nghĩa
quyết định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Người đã
từng nhấn mạnh: “Thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ thuộc về chúng ta, sẽ
thuộc về chủ nghĩa xã hội... Nếu như tất cả các nước anh em và các đảng anh
em đoàn kết chặt chẽ với nhau”. Với tinh thần ấy, Người tiếp tục khẳng định:
''Cuộc đấu tranh kiên quyết của các dân tộc bị áp bức nhất định sẽ đánh bại

hành; lý luận và thực tiễn như bó đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên.
Thấm nhuần tư tưởng của Người, nhiều cán bộ, đảng viên đã chịu khó rèn
luyện, nói đi đôi với làm, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn thể



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status